RSS Feed

Monthly Archives: Tháng Một 2013

Câu chuyện “ý chí”

HOÀNG Hồng-Minh

Tia Sáng

Câu chuyện nào thì cũng là vô tận. Nữa là câu chuyện về « ý chí ». Lúc rảnh rang ngày Tết là lúc mà cuộc chuyện trò rình rang về câu chuyện rắc rối này được thuận buồm hơn cả.

Về đại thể, có thể xem ý chí như một chủ ý dẫn dắt một quá trình hành động, bắt đầu từ quan niệm  về hành động (« hiểu biết », có thể còn rất mơ hồ), đến hình dung trước về kết quả hành động (« chủ đích », có thể rồi cũng hóa ra thật mơ hồ), rồi quyết định hành động (« quyết đoán », về bản chất là « tự quyết », liên quan đến « tự do »), và nhận lĩnh trách nhiệm về hành động (« đạo hạnh »).  Ý chí là kẻ chủ trì toàn bộ quá trình này.

Ý chí xúc cảm

Câu chuyện ngày xưa ông Ngu rời núi, thật là chuyện vĩ đại, ở cái thời chỉ có xẻng cùn, sọt nát, cùng người nhà thưa thớt của ông. Nhưng ông Ngu đã « thấy » cả một tương lai bất tận, nơi đó con mình, cháu mình, chắt mình, chút mình, chít mình… rồi sẽ nối việc… Và ông Ngu cứ việc hành chí rời núi.

Ý chí này, ý chí xúc cảm. Một mục tiêu được đặt ra, mọi giá cả, không thành vấn đề nữa, mọi khó khăn, không thành vấn đề nữa, mọi ngặt nghèo về không gian, không thành vấn đề nữa, mọi rắc rối về thời gian, không thành vấn đề nữa, làm sao để nghiệm thu, không thành vấn đề nữa… Tinh thần của ý chí xúc cảm có thể chốt lại như thế này : « tất-cả-để ».

Trong đời sống, của mỗi cá nhân, hay của mỗi cộng đồng, ở những thời điểm thử thách sống còn, ý chí xúc cảm là điều vĩ đại. Nó giúp mỗi người hay mỗi cộng đồng đủ sức để có thể vượt lên được từ nghịch cảnh vô cùng khắc nghiệt, không có nó, người ta chỉ còn biết nhắm mắt xuôi tay. Một người tay không bị trôi lênh đênh nhiều ngày đêm giữa biển cả, một vùng quê nước lụt trắng tràn, một thành phố chợt hóa thành bãi rác-nghĩa địa khổng lồ sau một cơn địa chấn-sóng thần kinh hồn, một tộc người phút chốc rơi vào sự cướp bóc của một đạo quân man rợ, một nhà tranh đấu cho sự ngẩng đầu của người da đen nằm gần suốt một đời mình trong tù ngục… Tất cả những nghịch cảnh khủng khiếp ấy chỉ còn biết cậy trông vào một thứ thôi : một ý chí xúc cảm mãnh liệt.

Ý chí trí tuệ

May mắn thay, thế giới con người ngày càng văn minh hơn, xét về tổng thể cho đến nay. Những đại họa do chính con người gây hấn vẫn rập rình đó đây, nhưng không còn là những biểu đạt chính yếu nhất của đời sống hôm nay trên toàn cầu. Giòng chảy của kiến thiết nay đã thành ra trọng yếu hơn giòng chảy của bạo hoại. Tất nhiên làm người, hãy luôn luôn cảnh tỉnh.

Trên cái nền tảng của giòng chảy kiến thiết, con thuyền loài người ngày càng cần đến hơn một ý chí khác. Một « ý chí trí tuệ », cái ít được biểu đạt trong ý niệm truyền thống về ý chí, đặc biệt là ở phương Đông xưa kia.

Một con báo đang đuổi bắt kì cùng một con nai trên một miền đồng cỏ mênh mang, cả thân hình nó là một biểu đạt trọn vẹn của cả một ý chí lớn lao, ý chí xúc cảm, được gây dựng trên bản năng.

Khác với ý chí xúc cảm, thứ ý chí « tất-cả-để » dựa trên biển cảm xúc đầy bản năng, ý chí trí tuệ hoạt động trên vòng vận động của quan sát, học hỏi, phân tích, đánh giá, lựa chọn, quyết định, tổng hợp, thiết kế lộ trình, điều hành, kiểm tra, điều chỉnh, nghiệm kết… Ý chí này là của lý trí, là của tự do, là của lý trí của tự do, là của tự do của lý trí, là cái chỉ có thể có ở con người.

Ý chí xúc cảm hoạt động « bằng mọi giá », dựa trên tờ thanh toán đã được kí khống. Ý chí trí tuệ hoạt động bằng hiệu năng, với « cái giá thấp nhất có thể », dựa trên sự kiểm tra, đo đạc, xét đoán về môi trường.

Ý chí xúc cảm cố gắng tổng huy động các cơn bão xúc cảm. Ý chí trí tuệ nhắm lấy sự tỉnh táo làm cột buồm thống lĩnh.

Ý chí xúc cảm gắng chiếm mọi không gian hành động, vận dụng « chủ nghĩa đại trà ». Ý chí trí tuệ khoanh định không gian kiểm soát được của mỗi hoạt động.

Ý chí xúc cảm gắng chiếm mọi thời gian cho hành động, với tinh thần « một lần, và cho mãi mãi ». Ý chí trí tuệ là ý chí lộ trình, chia định thời gian hoạt động thành những thời hạn, để sau mỗi thời hạn đó có thể quyết định được là sẽ tiếp tục hoạt động này, hay cải cách hoạt động này, hoặc từ bỏ nó, hoặc chuyển đổi sang hoạt động khác ; ý chí trí tuệ phải phối hợp được các hoạt động của hệ thống tổng thể đa tiết điệu trong thời gian.

Ý chí xúc cảm gắng nhắm tập trung hết vào « một  », một hoạt động tâm điểm, duy nhất. Ý chí trí tuệ nhắm đặt ưu tiên hệ thống tổng thể lên trên mỗi hoạt động riêng của nó, dẫu như có một hoạt động riêng nhất định nào đó được ưu tiên chính yếu trong một thời điểm.

Ý chí xúc cảm gắng chủ trương « cứ thế mà làm », « chống nghĩ lại ». Ý chí trí tuệ phân tách bản thân hoạt động « hiện thực » ra khỏi lãnh vực suy nghiệm, để hướng tới khả năng kiểm tra trở lại được, không chỉ hoạt động « hiện thực » ấy, mà cả chính chủ trương tinh thần đang dẫn dắt nó.

Ý chí xúc cảm đề cao tận dụng mọi tập tục để cuốn hút được mọi sức mạnh của xúc cảm. Ý chí trí tuệ khai phóng các phương thức mới, và lựa chọn lại, làm mới lại, thích ứng lại các yếu tố cổ truyền hữu dụng trước khi cho phép chúng được gia nhập, được tích hợp trở lại vào các chương trình kiến thiết mới.

Ý chí xúc cảm hướng tới linh thiêng hóa, trường cửu hóa các quyết định. Ý chí trí tuệ hướng tới giải thiêng, thế tục hóa, kiểm kê, kiểm tra, phán xét, phê phán trở lại các quyết định.

Ý chí xúc cảm hướng đến say số lượng, mê ôm đồm, gộp gạp mọi yếu tố « có ích » dù nhỏ bé hay nhất thời, bất kể mâu thuẫn hỗn tạp mà chúng có thể đang và sẽ gây nên. Ý chí trí tuệ hướng tới tính hợp lý, chắt lọc, hòa hợp, ăn ý.

Ý chí xúc cảm tuy có thể bền bỉ, nhưng mục tiêu lại thường hướng tới tính cấp cứu, kết quả tức thì, đặc tính cổ võ. Ý chí trí tuệ hướng tới tính kiến thiết, tính trừu tượng, tính nền tảng, tính dài lâu.

Ý chí xúc cảm có thể lấy mục tiêu hoạt động « đi đến tự do », nhưng cách thức hoạt động không được tham vấn bởi tự do, rốt cuộc mục tiêu hoạt động « đi đến tự do » thường không đạt đến. Ý chí trí tuệ lấy tự do làm bản thể cho chính ngay sự tồn tại và vận hành của nó.

Ý chí xúc cảm không có ý niệm về quyền-hạn, quyền lực chế ngự được.  Ý chí trí tuệ lấy quyền-hạn, quyền lực chế ngự được, làm điều kiện cho sự chính đáng của sự tồn tại của nó.

Ý chí xúc cảm không cần có quy chế tài phán độc lập.  Ý chí trí tuệ coi qui chế tài phán độc lập là cái đảm bảo cho tính điều tiết được của sự tồn tại của nó.

Ý chí xúc cảm một khi được kéo dài thường trở thành xu hướng độc đoán, cấm đoán các xu hướng khác, để giành ưu tiên tối đa cho hoạt động được nó bảo lãnh. Ý chí xúc cảm có xu thế bảo vệ quá mức hoạt động được bảo chế của mình.  Ý chí trí tuệ coi việc hài hòa các xu hướng của toàn bộ hệ thống của các hoạt động là bắt buộc cho sự bền vững của hệ thống.

Ý chí xúc cảm khi bị kích thích quá lên dễ dàng trở nên « ý chí luận », bất chấp trí tuệ. Ý chí trí tuệ tự cảnh giác cao nhất với « ý chí luận », nhắm tới sự cộng năng của « tự do » cùng « trách nhiệm », tới sự mở rộng thông liên ra môi trường bên ngoài của hệ thống hành động, nhằm có được sự ổn định và phát triển năng động.

Ý chí tổng thể, hay « ý chí »

Tuy  nhiên trong nhiều trường hợp ranh giới của ý chí xúc cảm và ý chí trí tuệ không hẳn đã là dễ dàng rạch ròi được. Nhiều hiện thực bản năng sinh học, xã hội, văn hóa luôn luôn kích hoạt một cách vô thức vào ý chí, chi phối sự lựa chọn của con người, mà con người vẫn tưởng như ý chí của mình đã được ý thức hóa hoàn toàn. Khi một dũng tướng ngày xưa cầu xin « nếu bệ hạ muốn hàng, xin bệ hạ hãy chém đầu tôi đi đã », phần đông mọi người đều xem như cái khí của vị tướng ấy đã là toàn dũng, đã là ý chí trí tuệ hoàn toàn. Nhưng thực ra cái ý chí của vị tướng ấy đã bị trói kĩ trong cái bản năng tập tục của xã hội trung cổ, xã hội « trung quân, ái quốc » thời đó, cái bản năng đòi hỏi bề tôi phải trung với vua trước hết đã, rồi hẵng nói đến việc yêu nước được. Giả như vị tướng nọ đã phải tự nguyện nộp đầu trước rồi, làm sao vị ấy còn làm tiếp được việc yêu nước.

Xúc cảm và lý trí là hai lĩnh vực luôn giằng xé nhau. Cuối cùng thì chúng ta sẽ có một thứ ý chí tổng thể, ý chí này phải tìm cách đứng chân như thế nào trên cùng cả hai miền đất đang luôn luôn trôi dịch này.

Cách thức mà ý chí tổng thể xử lý mối tương quan giữa xúc cảm và trí tuệ sẽ làm nên câu chuyện đạo hạnh. Một ý chí « dở hại » ở một thời điểm còn thiếu sự hiểu biết trí tuệ cần thiết chung trên mức độ toàn xã hội, được coi là ngây thơ, là tha thứ được, là vô tội. Ví dụ như sự tảo hôn do cha mẹ áp đặt ở thời xưa. Một ý chí « dở hại » bày ra ở một thời đoạn kéo dài, khi mà sự hiểu biết trí tuệ cần phải có đã được phổ cập trên mức độ toàn xã hội, sẽ được xem là một sự cố chấp, một tội lỗi về đạo hạnh. Ví dụ như sự cưỡng ép hôn nhân ở thời nay.

Dẫu hàm lượng trí tuệ đã và sẽ ngày càng lớn mạnh lên trong ý chí, ý chí vẫn luôn luôn phải trả lời cho xúc cảm. Trước các nỗi khổ đau của con người, cá nhân và cộng đồng, ý chí không thể chỉ dừng ở phân tích các nỗi khổ đau ấy, mà phải « chịu trách nhiệm » về chúng, mà kẻ đứng ra đòi hỏi điều đó chính là « đạo hạnh ». Sự thờ ơ có thể là sự lạc đường, sự mất phương hướng, sự dỗi dàng lâm thời của ý chí, nhưng không phải là người bạn đường dài của ý chí. Nhiều thành phần của đạo hạnh có thể sẽ và phải được cộng đồng tham chiếu, chuyển dần thành « pháp quyền », qua một quá trình xây dựng lâu dài, bền bỉ, cập nhật, rà soát đi rà soát lại, thành tính bắt buộc (« pháp »), nhưng vì sự tự do và ích lợi của mỗi người và của cộng đồng trên tổng thể (« quyền »). Ví dụ như « trong giao thông mỗi ai thấy người gặp nạn một mình, thì phải tham gia cứu trợ » vốn từ một yêu cầu đạo hạnh đã trở thành một điều luật giao thông ở nhiều nước.

Các phép cai trị chỉ từ « bề trên » áp đặt xuống cộng đồng, chúng thường không có được tính năng « pháp quyền », chúng chỉ là những bộ roi vọt « pháp trị » đặc dụng để « bề trên » trói buộc « bề dưới », để bảo vệ « bề trên », chúng thành ra ngầm khuyến dụ sự tranh giành vị thế quyền lực xã hội không ngừng nghỉ để những người trong cuộc giành cho được lợi thế đối với hệ công cụ « pháp trị » ấy, chúng phản tác dụng tích cực cho sự ổn định và phát triển hài hòa hệ thống cộng đồng trong toàn bộ.

Nhưng dù vấn víu phức tạp đến như thế nào, ý chí chỉ là ý chí trọn vẹn một khi nó được nảy nở trên nền của tự do. « Ý chí » mà không nảy phát từ tự do, cái đó phải được gọi là một cái gì khác, cái đó không phải là ý chí. Tự do, là tự do lựa chọn : ngay cả khi trước mặt tự do chỉ có một thứ để lựa chọn, nó cũng bảo dưỡng quyền chấp nhận điều đó, hay khước từ điều đó. Tuy nhiên ý chí tự do phải lo trả món nợ với pháp quyền, mang tính bắt buộc, cùng đức hạnh, mang tính khuyến nghị.

Ý chí cộng đồng

Ý chí cộng đồng hình thành từ các ý chí xúc cảm, trí tuệ, tự do, đạo hạnh (bao gồm pháp quyền) của công dân, từ « ý chí công dân », chứ không phải từ « lòng dạ thần dân ».

Ý chí cộng đồng phải thể hiện được lợi ích của cộng đồng và những thành viên của nó.

Ông Rousseau thật vô cùng xuất chúng, khi làm sáng tỏ ra được rằng lợi ích của cộng đồng không phải là lợi ích của số đông trong cộng đồng. Đúng thế.

Bởi nếu lợi ích của nhóm đa số quyết định lợi ích của cộng đồng, thì nhóm đa số có cùng lợi ích sẽ độc tài chuyên chế trên các nhóm khác, hay trên các cá thể khác. Chưa hết. Và các công cuộc liên kết các nhóm để có nhóm đa số tạm thời nhằm trấn áp thiểu số còn lại trong mọi lĩnh vực xã hội sẽ làm nên những cuộc bạo động nhốn nháo không ngừng không nghỉ trong xã hội.

Và tất nhiên, lợi ích của cộng đồng càng không phải là lợi ích của số ít trong cộng đồng.

Lợi ích của cộng đồng là tổng thể của những lợi ích khác nhau, những lợi ích xung khắc nhau, của các cá nhân, của các nhóm cộng đồng. Và chính do đó mà phải xây dựng kĩ lưỡng từ đó lên được một hợp đồng xã hội thỏa đáng, một cách năng động và linh hoạt theo thời gian, để một cộng đồng có thể sống ổn thỏa và hạnh phúc với nhau dài lâu.

Ý chí cộng đồng ấy thông qua nền thương nghị cộng đồng được hóa thân dần vào nền pháp quyền, mang tính bắt buộc, cùng nền đức hạnh mang tính khuyến nghị.

Ví dụ giản dị, mỗi nhóm người dân tộc trên đất nước Việt đều phải thể hiện được lợi ích của mình về mọi mặt, văn hóa, xã hội, kinh tế, chính trị, trong hợp đồng xã hội, dẫu rằng người Kinh (Việt) là nhóm người đa số.

Ví dụ giản dị, mỗi con người trên đất nước Việt đều phải thể hiện được lợi ích của mình về mọi mặt, văn hóa, xã hội, kinh tế, chính trị, trong hợp đồng xã hội, dẫu như « những người khác là đa số ». Trừu tượng ư ? Không. Chẳng hạn những người bẩm sinh đồng tính phải được tôn trọng và lợi ích của họ phải được tính đến trong hợp đồng xã hội. Cũng như vậy với những người thuận tay trái, những người tàn tật, những người suy nghĩ không giống số đông, vân vân.

Ví dụ giản dị, nếu tất cả các nghị sĩ đều ủng hộ một điều luật, trừ một vị nghị sĩ. Ý kiến của vị nghị sĩ « lạc lõng » đó phải được tôn trọng, phải được lưu bút. Và bản thân con người nghị sĩ đó, phải được tôn trọng.

—-

Và một ví dụ giản dị sau cùng.

Rằng nếu Tết này có một ai đó mong mỏi được đốt một bánh pháo vào Giao Thừa, thì ý kiến của họ cần được xã hội ghi nhận, không mặc cảm. Để rồi một ngày kia, biết đâu ý chí của xã hội sẽ tìm ra được một giải pháp thỏa mãn được mong mỏi này ?

Có thể bắt đầu phác thảo ý chí đó bằng việc hướng đến xây dựng được một nền giáo dục, trong nhà, ngoài phố, và ở trường học, trong đó mỗi con người không còn chí chết chạy đuổi theo « chủ nghĩa lạm dụng », để tự mình khỏi trở thành « những người hùng của chủ nghĩa lạm dụng», để rồi họ lớn lên vui vẻ tự do, và sẽ chỉ tự do lập chí đốt cho mình đúng một bánh pháo vào thời khắc Giao Thừa?

Cái ngu, đến cái ác, đến kẻ ác biện hộ cái ngu

Chết dở tục quê

Tác giả Nguyễn Quang Lập

Mình không sành cà phê, ngon dở không thành vấn đề, chỉ thích ngồi một mình không phải nói chuyện với ai, càng không gặp người quen càng tốt. Cho nên chung cư mình cũng có quán cà phê nhưng mình không thích ngồi ở đó, vẫn thường ra ngồi mấy quán vỉa hè, quán càng vắng càng thích. Sát ngay cổng phụ chung cư có cái quán cóc của hai mẹ con cái Thảo, một cái bạt rách bốn cái cọc tre là thành cái quán.

Quán cái Thảo rất vắng khách, năm thì mười họa mới có khách vào, chủ yếu Thảo chạy đưa cà phê cho các bảo vệ mấy chung cư gần đấy, chả biết một ngày có bán được năm chục ly hay không. Rất ít khi thấy Thảo đứng bán cà phê nghiêm chỉnh, nó bỏ quán trống suốt ngày, ai vào quán ới một tiếng, nó ở túp lều bên kia tường dạ dạ to rồi lật đật chạy ra, pha cà phê xong lại lật đật chạy vào. Chẳng biết nó làm gì mà khi nào cũng thấy tất bật.

Con gái Thảo đang học đại học, mặt cô bé hiền ngoan nhưng buồn, mấy tháng mình uống cà phê ở đấy chưa khi nào thấy nó cười tươi. Hỏi ra mới biết mẹ nó ôm nó trốn nhà chồng, trốn luôn cả bố nó từ Quảng Trị vô Nam từ khi nó vừa một tuổi, từ bấy đến nay đã gần hai chục năm rồi. Mình hỏi sao trốn, nó cười như khóc, nói cháu không biết. Thấy cái lều tạm hai mẹ con ở trông nhếch nhác quá, cũng một tấm bạt rách và bốn cái cọc tre, mình nói đất nhà cháu rộng thế sao không bán đi một nửa lấy tiền làm cái nhà. Nó thở hắt, nói đất đâu của nhà cháu hả ông, là mẹ cháu cắm lều tạm lên đó ở, chừng nào người ta đuổi lại chạy.

Mình nói chuyện với cái Thảo mới biết nó vốn là giáo viên dạy cấp 1, nhà ở Thị xã Quảng Trị cũng không đến nỗi nghèo khó lắm. Kẹt nỗi lấy chồng nông thôn, nó phải về sống ở nhà chồng. Kể từ đó nó khóc hết nước mắt vì tục quê ở nhà chồng, cực nhất là khi nó sinh con, nội chuyện kiêng khem cũng đủ làm nó chịu hết nỗi. Mình hỏi sao đến nỗi thế. Nó cười buồn, nói kể ra dài dòng sợ mất thời giờ chú, nói thật lắm khi cháu muốn đập đầu vào tường chết quách cho xong.

Mình nói ngày nay nhiều chị em sinh xong chẳng thấy kiêng khem gì, vừa sinh đã ra gió, ăn uống lung tung, tắm rửa cũng giống người thường. Như thế cũng chẳng hay. Nhất thời thì thấy tiện lợi, khỏe khoắn nhưng về lâu dài có thể đó là mối họa khôn lường. Người ta nói chị em ngày nay sinh nở vài lứa đã thấy già khú, mau hư người cũng duyên do không chịu giữ gìn các kì vượt cạn. Thảo nói vâng, cháu biết chứ. Sinh nở không thể không kiêng khem nhưng kiêng khem như nhà chồng cháu thì thật đáng sợ.

Thảo thở hắt ra, ngồi im hồi lâu rồi thủng thẳng kể.

Quê chồng cháu sinh nở không ra bệnh viện. Cháu sinh tại nhà, bố mẹ chồng thưng cái buồng nhỏ, kín mít, không còn một khe hở nào, y chang cái xà lim, thiếu sáng thiếu khí. Và nóng, nóng kinh khủng. Nắng Quảng Trị chú biết rồi, vào mùa hạ chẳng khác gì cái nồi rang. Cháu xin mở hé cái cửa sổ, không cho. Xin mắc cái quạt, không cho. Cháu khẩn khoản xin mẹ chồng, nói con có thể chịu được nhưng con bé nó sắp chín đây rồi mạ ơi. Mẹ chồng lườm cháu, nói máy ở thành thị, quen thói tiểu tư sản, mới nóng tí đã kêu.

Lại thêm cái tục nằm than, xông muối. Suốt tháng ở cữ, dưới gầm giường luôn có nồi than to, quạt lửa đỏ rực. Lửa than than bốc lên cháy sém cả chiếu vẫn bắt mẹ con cháu cứ nằm cho trọn tháng. Cháu sợ con gái cháu chết cháy mất, cứ ngồi ôm nó suốt ngày đêm, không dám đặt xuống gường. Cả tháng cữ cháu chỉ ngủ ngồi, cứ gật gà gật gù như thế cả tháng trời, chưa khi nào được trọn giấc.

Đến đoạn xông muối thì cháu hết chịu nổi. Ngày nào cũng một lần xông muối, hơi nước nóng cộng hơi muối bốc lên ngột ngạt vô cùng. Cháu ngồi trong chịu không nổi, vừa nhấc đầu lên mẹ chồng đã vội vàng dúi đầu xuống. Một lần chịu không nổi cháu ngất luôn. Tưởng nhờ thế bố mẹ chồng tha cho cháu, nhưng không, bố chồng cháu ra lệnh, nói như rứa là con ni máu xấu, phải xông muối lâu gấp đôi gấp ba mới được.

Nghe thế cháu rùng mình, sợ quá nửa đêm ẵm con trốn về nhà mình, cứ băng đồng mà đi, đến sang mới tới đường quốc lộ, bắt xe ôm về Thị xã Quảng Trị. Về tới nhà thì chồng con đã đứng chờ ở cổng. Lại phải quay về nhà chồng. Sau bữa đó cháu ôm liệt giường gần một tháng.

Mình hỏi thế bố mẹ đẻ cháu không nói gì à? Thảo thở dài, nói bố mẹ đẻ cháu cũng lạc hậu lắm, một hai đuổi cháu về nhà chồng, nói xuất giá tòng phu không oong đơ chi hết. Mình hỏi thế thằng chồng thì thế nào. Thảo lắc đầu cười nhạt, nói chú đừng hỏi ông đó mà rầu lắm. Nhậu nhẹt tối ngày, về tới nhà lăn ra ngủ. Cháu có kể khổ thì ổng gạt đi, nói chà, có chừng đó đã kêu, thiên hạ đều làm vậy cả có ai chết đâu. Nước mắt Thảo chảy ròng ròng.

Mình không hỏi nữa nhưng Thảo cứ kể, nói tục quê sợ lắm chú ạ. Qua được tháng ở cữ lại đến đoạn con đau ốm mới chết dở với tục quê. Cháu vẫn biết dân gian có những bài thuốc chữa bệnh con nít rất hay. Ví dụ khi con đầy bụng, bắt một con gián, nướng hoặc rang rồi giã bột, hòa với dầu hỏa bôi rốn con, bụng trẻ xẹp liền. Hay con nít tưa miệng thì lấy lá cây hoa cúc đất rửa sạch giã lấy nước, lấy chút hàn the cho lên thìa cà phê nướng chảy hòa với nước hoa lá hoa cúc đất. Lấy cái lông gà đã tiệt trùng, chấm nước đó quét miệng con, vài ba lần sạch biến. Hay lắm. Nhưng quê chồng cháu quá nhiều bài chữa mẹo vô lý đùng đùng, lắm khi nguy hiểm chết người mà không biết. Cháu nói rã mồm chẳng ai chịu nghe, cực ơi là cực, để cháu kể chú nghe.

Con gái cháu nổi mận ngứa, tây y thì bảo là dị ứng, dân ta thì gọi là mề đay, hay mận tịt. Cái này dễ chữa không, nhưng mẹ chồng cháu dứt khoát bắt cháu lấy cái nón mê đặt chín miếng trầu đem ra để ngã ba đường cúng ông Cầu bà Quán. Trong nhà con ngứa khóc, ngoài đường mẹ sì sụp cúng vái. Cháu là giáo viên cứ sì sụp khấn vái giữa ngã ba không ra làm sao, nhưng không làm vậy thì chồng đấm bố mẹ chồng mắng, chú thấy có cực không?

Một hôm cháu dạy về, thấy con bé đau bụng khóc ngặt nghẽo. Đoán ở nhà bà nội cho nó ăn gì bị rối loạn tiêu hóa, cháu ôm con đi trạm y tế xã, mẹ chồng cháu ngăn lại, nói khỏi phải đi đâu hết, tao vừa hỏi mấy người bên xóm, có cách chữa mẹo hay lắm. Cháu hỏi cách chi mạ, mẹ chồng cháu nói chỉ cần mượn người nhổ bão, nhổ cục tóc trên đầu mày là khỏi. Cháu cười, nói mạ đừng có nghe tào lao, có nhổ trọc đầu đầu con cũng chẳng khỏi đâu. Thằng chồng cháu uống rượu đâu về, liền cho cháu bợp tai, nói cô hỗn láo với mạ tôi từ bao giờ thế. Rồi hắn đè cổ cháu xuống, gọi người hàng xóm nhổ tóc chỏm đầu cháu, nhổ trắng cả chỏm đầu con bé vẫn khóc ngặt nghẽo, khi đó mới cho cháu bồng con đi trạm y tế.

Chuyện đó vẫn chưa hãi hùng đâu chú ạ. Con bé cháu bị viêm phế quản, bú vào là trớ ra. Cháu bảo chồng đi mua thuốc kháng sinh, bố chồng cháu ngăn lại, nói con nít bị trớ sao lại uống thuốc kháng sinh, ngu. Để con nhỏ đó cho tau. Tưởng ông làm gì, té ra ông ra bến múc nước lòng đò cho con bé uống, nói thần dược đây, cả làng này đều trị tật trớ con nít như ri cả.

Cháu hãi quá, lạy lục phúc bái, nói ông ơi nước lòng đò trâu bò uống còn chết, ông không nghe người ta nói vậy sao. Bố chồng cháu không chịu, nói tau nuôi năm sáu đứa con, mày còn dạy khôn tau.

Cháu ôm chặt lấy con dứt khoát không cho uống, bố chồng cháu giật con bé ra, cháu giật lại, nói không, các người tính giết con tôi à, ác lắm!. Thằng chồng cháu nhảy ra hét lên, nói a con này dám chửi cả cha tau. Nó đánh cháu một trận nhừ tử, cho đến khi con ngất đi nó mới thôi.

Tối đó cháu viết cái đơn ly dị để lại rồi ôm con bỏ đi. Lúc đầu vô Huế, sau vô Đà Nẵng, lần mò mãi vô tận Sài Gòn, gần hai mươi năm rồi chú.

Thảo ngước lên, khuôn mặt đầm nước mắt, nói hai mươi năm chưa một lần cháu dám về quê. Thằng chồng cháu bắn tin, nếu mẹ con cháu về quê nó giết cả mẹ lẫn con. Chú ơi, năm ngoái nghe tin ba cháu mất cháu cũng không dám về … Thảo bỗng khóc òa nức nở.

NQL

Trùm chăn, nguy cơ

Mỵ Châu bữa nay diện chiếc váy dạ đỏ, nom ấm áp quá.

Cụ Hinh bảo “Mỵ Châu à, trí thức mà mặc ấm quá, rồi thành ra thích trùm chăn đấy nha.”

-“Thế trùm chăn thì nguy, hay cơ ạ?”

-“Cả hai.”

-“Cụ Hinh lại nước đôi rồi…”

-“Ông Gia Cát Lượng ngày xưa đi ngủ trùm chăn rất kĩ.”

-“Vâng, thì đã sao? Em cũng thế.”

-“Ba tay Lưu, Quan, Trương đến nhà, chờ rũ người, mà Lượng thì cứ trùm chăn hoài.”

-“Thế thì có gì mà nguy?”

-“Nguy là Trương Phi điên quá, định đốt nhà cho Lượng thức dậy.”

-“Kinh thật, Lưu Bị kết anh em với Trương Phi, hãi à. Thế thì còn gì là cơ.”

-“Lượng trùm chăn lâu như thế, Lưu Bị lại càng khao khát chờ mong được gặp. Cái cơ, lại là ở đó.”

-“Hay nhỉ. Sau ai bấm chuông, em cứ trùm chăn một lúc cái đã!”

-“Rồi Lưu Bị năn nỉ mãi, rốt cuộc Lượng phải bỏ quê, bỏ bạn, bỏ thú điền viên ra đi cùng Lưu Bị. Thế cũng là nguy.”

-“Thế còn cái cơ nào không ạ?”

-“Nhưng rồi được trọng dụng, Lượng trổ tài kinh bang.”

-“Em thấy cái nguy là chuyện này dài quá, trời lạnh, nguội hết café rồi ạ!

Em mời Cụ Hinh!”

Trí nhớ

Có lần chàng mèo Abricot được đến nhà bạn chơi, xa nhà mình cả ngàn cây số. Ngay tối hôm sau ở đó, Abricot lại đã lẻn qua cửa nhà… đi chơi tiếp. Cụ Hinh đi tìm mãi, không thể nào thấy Abricot đâu…

—-

Sáng ngày hôm sau, Abricot ngồi chờ trước cửa nhà!

—-

Vậy mà mỗi khi bị chê trách, Abricot hiểu ra, nhưng không thấy để bụng, hay dỗi bực, hay hớn hở… như sĩ phu.

Bình thường, điềm tĩnh.

Chắc không phải vì thiếu trí nhớ.

Cảm trầm

Bác Tộ mời trà bác Luống, Cụ Hinh.

Bác Tộ bảo.

-“Bác Luống khỏe mạnh chứ? Nom bác Luống hôm này hơi xuống khí à.”

-“Quả là hơi có thế. Không khéo tôi hơi trầm cảm. Cụ Hinh thấy sao?”

Cụ Hinh ái ngại.

- “Bác tự thấy kém hứng khởi hoạt động?”
– “Vâng.”
– “Thờ ơ…”
– “Vâng.”
– “Mỏi mệt…”
– “Vâng.”
– “Nản chán…”
– “Vâng.”
– “Bí bách…”
– “Vâng.”
– “Ừm…
Cái này nữa, quan trọng đây.
Bác có cảm giác tự thấy mình kém cỏi không?”
– “Ồ không! Không được! Tôi mà thế, thì làm sao còn đôn đốc, dẫn dắt được các anh chị em viết báo tường ở phường nữa!”
– “May quá, thế thì bác không bị trầm cảm đâu! Chắc là mấy anh chị em viết báo tường ở phường của bác trầm cảm, làm cho bác cảm trầm mà thôi!”

Bác Tộ vui vẻ đứng lên pha tuần trà mới.

Phạm Duy về, dưới mưa


Đưa em về
dưới mưa

Nói năng chi
cũng thừa

Đưa em về
dưới mưa

Áo em
bùn lưa thưa


Bàn dài

Mỵ Châu hỏi.

-“Cụ Hinh à, với một nghị sự kiểu ta, loại bàn gì là phù hợp hơn cả ạ?”

-“Bàn dài”.

-“Em cứ tưởng bàn tròn thì dễ chuyện trò hơn chứ?”

-“Bàn tròn, lúc mới ngồi vào thì dễ, nhưng để thêm người vào mãi được thì khó.”

-“Mỵ Châu chưa hiểu…”

-“Bàn dài, thì khi con, cháu, chắt, chút, chít, chịt… của mình phải tham gia vào, chỉ cần đóng kéo dài thêm cái bàn tiếp ra, trong khi vẫn nghị sự tiếp, là vẫn đủ chỗ.”

-“Chết, bàn thế thì dài mãi ra ạ?”

-“Nghị sự của ta là bàn dai, bàn về những chuyện tưởng là hiển nhiên, nhưng mà không có chuyện nào đi đến đâu cả.

Cho nên bàn dai thì phải bàn dài, dài được mãi, dài cho muôn đời con cháu.”

Mỵ Châu ngắm Cụ Hinh… Chợt nở nụ cười long lanh.

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 96 other followers