Xả thiền
Nghĩ suy nhỏ hẹp, bỏ.
Việc nào, ra việc nào.
Tự do,
cho người khác.Tự do,
cho chính mình.|- HHM 1202-|
Phương pháp “duy-lý tưởng” qua câu chuyện “trí thức là gì”
Bài viết trên Tia Sáng
Phương pháp và chân lý là hai phạm vi khác nhau.
Bằng phương pháp duy-lý tưởng, người ta vẫn có thể đạt được những chân lý vĩ đại có tính trực giác, phóng tưởng, những chân lý này thường phải chịu những thử thách khắc nghiệt tiếp sau đó của những kiểm định tỉ mỉ công phu.
Và cũng có những phương pháp khác khác, phi-duy-lý tưởng.
| HOÀNG Hồng-Minh |

Tượng “Thinker” (Người suy tưởng) của Rodin
Ảnh: AFP
Những ngày qua chúng ta đã được chứng kiến nhiều bài báo bàn về « trí thức là gì ». Nhiều bài trong số này rất tâm huyết và có chất lượng cao, mang tiếng gọi về trách nhiệm và sự đóng góp xã hội.
Không bàn về các nội dung của câu chuyện « trí thức là gì », ở đây tôi muốn nhận dạng về phương pháp, phương thức tiếp cận vấn đề.
Phương pháp duy-lý tưởng
Phương pháp duy-lý tưởng là một cách thức tư duy phổ biến từ ngàn xưa về nhận thức xã hội cùng con người. Đây là một lựa chọn. Và nó vẫn có giá trị trong những phóng tưởng trực giác, gợi mở.
Lưu ý là ở xứ Việt người ta cũng dùng cả chữ « phương pháp duy tâm » cho trường hợp này. Tôi muốn dùng chữ « phương pháp duy-lý tưởng » vì nó rõ nghĩa hơn, và tránh bị rơi vào cái bẫy việt vị của thói quen vội quy kết ý thức hệ.
Con người ai chả có lý tưởng. Người có học, càng có. Còn lý tưởng gì, thì lại là chuyện khác.
Nhưng lấy lý tưởng làm phương pháp, thì lại càng là một câu chuyện khác nữa.
Đặc trưng của phương pháp duy-lý tưởng là cách đặt vấn đề « xã hội, con người phải như thế nào ? ».
Lấy ví dụ ở phương Đông, « thánh nhân » là một lý tưởng. Sau khi mô tả lý tưởng này như một mô hình, người ta đem chiếu các nhân vật cuộc đời vào lý tưởng ấy, đó là cách thức tư duy « duy-lý tưởng ».
Và khi đó người ta bắt đầu nhận thấy những khó khăn mới. Đó là nếu « thánh nhân » bắt buộc phải là « mười phân vẹn mười », thì người trần « ai mà được cả mười phân». Từ đó tất thảy các nhân sĩ đều được đem ra thử lửa « thánh nhân », xem còn được bao nhiêu phần trăm. Chưa nói đến ai (được) làm người thử lửa, làm người phán xử xếp hạng thánh nhân ? Dân thường thì không cần đem thử làm gì, mất công, phí giờ. Theo tinh thần cao nhất, ở phương Đông có hai ông Nghiêu và Thuấn được coi như đạt đủ tiêu chuẩn « thánh nhân », cũng vì lý lịch của hai ông rất xa xưa này vô cùng mờ nhạt, và dù sao thì cũng phải có ai chứ… Tiếp đến thì Khổng tử và Lão tử (nhân vật Lão tử chưa chắc đã có thật) có thể được tạm xét là « phó-thánh nhân », tất nhiên hai dòng thuyết của hai ông này thì hạ bệ nhau chan chát, không kiêng nể gì nhau.
Phương pháp duy-lý tưởng này phổ biến trong khắp các tôn giáo, cũng như trong khắp các chế độ xã hội thần quyền thời xưa. Người ta đưa ra một cái tiêu chí duy-lý tưởng, và đem con người và xã hội ra so ép vào đó. Một khi nhất nhất phải làm bằng được như thế, nó đẻ ra phương cách mục đích luận.
Bản thân phương pháp duy-lý tưởng không quyết định vấn đề chân lý có đạt được, hay không đạt được. Đó là hai vấn đề khác nhau.
Với các động cơ rất tốt đẹp, các ông Marx và Engels thời trẻ cũng đã sử dụng chủ yếu phương pháp duy-lý tưởng. Các ông Marx và Engels đã bắt đầu các nghiên cứu riêng của mình về phân tích xã hội và con người, nhưng các nghiên cứu riêng thời trẻ đó của các ông chưa phải là các nghiên cứu thống kê so sánh tỉ mỉ có tính chất xã hội học. Tác phẩm « Tuyên ngôn của đảng cộng sản », được viết vào các năm 1847-1848 khi ông Marx 29-30 tuổi (sinh năm 1818), và ông Engles 27-28 tuổi (sinh năm 1820), là một dự phóng duy-lý tưởng : các ông đề xuất ra một mô hình xã hội của ngày mai dưới dạng một xã hội lý tưởng. Càng về cuối đời mình, các ông tỏ ra càng dè dặt hơn, và nghiêng dần về các biến đổi tiệm tiến với nhiều khả năng khác nhau.
Phương pháp «phi-duy-lý tưởng », hay « tích cực »
Tách ra khỏi xu hướng duy-lý tưởng, các nghiên cứu xã hội học ra đời, khoảng từ những năm 1830 ở châu Âu. Thay vì cố tranh biện đơn thuần về việc « xã hội, con người phải như thế nào ? », các nghiên cứu này lấy trọng tâm tìm hiểu « xã hội, con người đang như thế nào ? ».
Sự ra đời của xã hội học là sự trưởng thành của xã hội hậu-thần quyền, của xã hội thế tục. Các xã hội ngày càng trở nên phức tạp hơn, phong phú hơn bội phần. Nhà nghiên cứu cũng trở nên bớt hùng biện, bớt suy diễn tư biện hơn. Thay vào đó là các nghiên cứu có tính tập thể hơn, liên ngành hơn, tỉ mẩn và dài lâu, với các công cụ phong phú hơn. Một xã hội, cũng như bất kì một thực thể nào, đều mang trong nó nhiều khả năng phát triển khác nhau – ở những thời điểm khác nhau và trong những môi trường khác nhau. Cách nhìn xã hội, con người chỉ đi theo một con đường sẵn có định mệnh đã tỏ ra thiếu thực tế, và thiếu sức sống. Hôm nay chúng ta thừa biết rằng trong khung cảnh toàn cầu hóa này, nếu một quốc gia nhỏ bé dốt nát phút chốc phát hiện ra cái kho dầu mỏ vĩ đại ở dưới nền nhà mình, thì nó sẽ đi một con đường mới tinh, bất chấp các nghị luận dự đoán trước đó về nó có chất đầy đến đâu trên giá sách.
Hơn thế nữa, con người và xã hội không phải là một thực thể « tự nhiên », nằm yên đấy để cho ta đi vòng quanh đó quan sát và nghiên cứu thỏa thích như thời trung cổ nữa. Cùng với sự hiểu biết thay đổi nâng lên, chính con người và xã hội cũng thay đổi cùng lên theo cấp số ! Chúng ta biết rằng ở nhiều nơi vào ngày bầu cử tự do người ta cấm các tổ chức điều tra thống kê dự báo về xu hướng và kết quả bầu cử được đưa ra thông tin, vì chính những thông tin tức thời này sẽ lại ảnh hưởng lập tức ngược trở lại luôn cuộc bầu cử, tạo nên một vòng xoáy điên đảo trong ngày !
Các thảo luận về « trí thức »…
Đa phần những thảo luận về « trí thức » gần đây trên các media trong nước thuộc về phương thức « duy-lý tưởng ». Các tác giả đưa ra những định nghĩa có tính lý tưởng khác nhau về « trí thức phải là… », sau đó xem ai đạt tiêu chuẩn của những định nghĩa này. Đó là một lựa chọn, lựa chọn duy-lý tưởng.
Chắc rằng rất nhiều người làm việc trí óc khi đọc những bài luận như thế khắc phải sờ lên gáy mình nghĩ, không biết mình có đạt các tiêu chuẩn duy-lý tưởng đó không. Trong trường hợp nếu các định nghĩa mà quá khắt khe, thì có cơ lại rơi vào trường hợp chỉ có ông Nghiêu và ông Thuấn đắc địa.
Cách tiếp cận này có cái thú vị của nó. Nhưng nếu nó tự cho mình là duy nhất, thì sẽ gạt bỏ chính tinh thần đa nguyên trong nhận thức.
Ngoài cách tiếp cận duy-lý tưởng, tất nhiên các nhà xã hội học vẫn cứ phải an tâm nghiên cứu tiếp, xem mấy triệu trí thức « phi-duy-lý tưởng » kia ở ta, họ làm việc mấy giờ một ngày, mấy ngày một tuần, họ thờ cúng mê tín ra sao, bao nhiêu phần trăm trong họ đã có lần lên tiếng cho công lý xã hội, bao nhiêu phần trăm trong họ trùm chăn ngủ kỹ mãi mãi, thu nhập trong bọn họ khác nhau ra sao, bằng cấp của họ có được bằng các cách thức gì, ngoại ngữ họ đọc được bao nhiêu phần trăm, họ hiểu được bao nhiêu phần trăm, vân vân và vân vân.
Cũng phải để ý rằng các nghiên cứu phi-duy-lý tưởng ở xứ ta thì đang rất yếu kém, cần được xây dựng và đẩy mạnh. Đơn giản nhất như vấn đề dân số, di dân và phố xá tắc nghẽn liên quan nhau như thế nào ? Giải pháp trước mắt và dài lâu ? Tại sao nước Đức có dân số và diện tích tương tự nước Việt mà họ ăn ở rộng rãi đàng hoàng được đến như thế ?./.
Mười phân vẹn mười
HOÀNG Hồng-Minh – Bản đầy đủ
Giống như mọi người, tôi vẫn nhớ mãi cái thuở mình còn rất trẻ. Khác nào như buổi sớm mùa xuân cựa mình ở vùng trung du, sương móc giăng yên ả trên những ngọn cỏ, và hơi nồng của đất quyện vương với mùi khói rơm tỏa từ bếp lửa sớm của nhà nào trong xóm.
Và rồi tôi bắt đầu tham dự buổi hội thảo đầu tiên của giới học thuật ! Chao, mình người lớn rồi nha, bàn toàn những vấn đề cực to.
Buổi sáng khai mạc hôm ấy có ba chuyến tham luận dài như những đoàn tàu hỏa sang sảng trôi qua. Giờ giải lao đến, anh Ba, người đàn anh mới của tôi, mời tôi ra quán nước trà kẹo lạc bên kia đường để « tĩnh tâm ».
-« Sao, nhà học giả trẻ Cụ Hinh, bạn thấy các tham luận ra sao ? »
-« Dạ, khó nói quá ạ… Chặt chẽ, kín bưng, hùng dũng… »
-« Cậu được đấy, thật thà… Nhưng mà, dát.
Tôi thấy thế này : họ tham luận cốt để khoe mẽ dọa người là một, để siêu tự vệ không một kẽ hở là hai, để lĩnh nhuận bút là ba. Còn lại chả có cái nội dung gì.
Họ có một bài thôi, hát ở khắp nơi, rằng đâu có họp là ta cứ đi.
Các loại bài này, không thể bị phê phán ở đoạn này hay đoạn kia được. Đâu cũng rào then ‘như dưới đây sẽ nói’, ‘như trên kia đã nói’, ‘xem toàn tập trang…’, bày binh bố trận tinh xảo, không biết đâu mà lần, đã rơi vào trong là không có lối ra. Chỉ có một cách, là cho toàn bộ những bài vở chết tiệt này vào sọt rác. »
Ông chủ quán hiền hậu đơm thêm lượt trà mới cho hai anh em, cười giòn «cứ chuyện đi, lượt trà này tôi biếu nhuận khẩu, không tính tiền! ».
—-
Vừa vặn lúc ấy bác Hai bước vào oang oang « mấy ông này lại rình nói xấu tôi hả ? Lạ gì ! Cho tôi nước nhá, ông chủ kính mến của tôi!».
Bác Hai chính là người đọc tham luận sang sảng lúc vừa rồi trên hội trường !
Ghế đẩu được kê thêm vào. Thêm người, cái quán đầu xuân vênh cửa này cũng đỡ lạnh hơn.
-« Mời bác Hai ! Đúng thế đấy, đang nói xấu người vắng mặt, như xưa nay thôi! Giới thiệu với bác Hai, một học giả trẻ của tương lai, mới tinh, bạn Cụ Hinh. Có người mới, nên có dịp nói lại chuyện cũ. »
Bác Hai trịnh trọng là thế trên diễn đàn lúc nãy, mà giờ này thì đã lại rất tinh anh dân dã.
-« Tôi biết thừa các ông nói gì về bọn tôi rồi ! Biết cả là các ông đang nói về chính tương lai của các ông mà các ông không biết đó thôi. »
Có sếp lớn, anh Ba gọi thêm đĩa kẹo lạc.
Bác Hai bảo.
-« Hôm nay có bánh kẹo, trà lá trên sảnh bên hội trường, chắc các anh chị em chúng nó tiết kiệm tiền không ra quán à ? Lỗ ông chủ nhé ! Ít người, nói chuyện kiểu ít người, cũng hay. »
Anh Ba bảo.
-« Xưa bác Hai cũng múa gươm chịu chơi lắm, dạo này bác nói tôi buồn ngủ quá ! »
-« Thế này nhé – Bác Hai hắng giọng.
Bây giờ người ta đến hội thảo để làm gì ? Như cậu vẫn thích nói đấy thôi, để khoe mẽ dọa người là một, để siêu tự vệ không một kẽ hở là hai, để lĩnh nhuận bút là ba.
Nói hay đến giời, có ai nghe ai đâu. Xã hội cổ truyền thì là vua với dân, cùng một ít quan. Nay là xã hội không vua, với vô vàn lớp quan trên dưới lạm phát nhằng nhịt. Hoặc giả có ai nghe ai một chút, thì rồi cũng bỏ đấy thôi, làm được gì ?
Thế nhưng nếu cậu nói hở một câu, mà chưa cần hở thật đâu – chỉ cần ‘có vẻ hở thôi’, thì hôm sau là câu ấy lên đến tận bàn tiệc của cấp trên cùng ! Không phải người ta mách để mà làm quà các mâm trên cao đâu. Mà để có cái làm chứng, để rồi quay về xơi tái cậu.
Tại sao anh Ba nhà ta đây còn nói hăng ? Vì anh Ba nhà ta chưa đạt đủ cân lạng để đáng bị xơi tái, thế thôi. »
Bác Hai thấy bạn Cụ Hinh nghe chăm chú quá, quay sang vỗ vai vui vẻ.
-« Cậu còn trẻ chán, vui tươi đi, bao giờ bằng anh Ba kia, thì chuyện của tôi nó mới ngấp nghé tới cậu.
Nói thêm với các ông thế này.
Xứ mình có nền bắt bẻ, không có nền nghị luận.
Từ vua đến dân, ai nói gì thì cứ lo rào dậu kín bưng, chữ vàng chữ bạc cả đấy. Ông nào cũng là nhà đại kiểm duyệt cả.
Người hay người tốt thì vẫn có, nhưng nền nghị luận hay và tốt, thì còn lâu.
Người ta không chỉ giỏi cái nền bắt bẻ, mà còn có bầu trời suy diễn siêu việt thêm nữa. »
Anh Ba quay sang « bạn Cụ Hinh đã thấy chàng trai anh Hai ngày nào chưa? »
-« Vâng, thưa bác Hai với anh Ba, tôi trẻ người, nhưng thấy người ta khi đọc khi nghe thì không hề cố tìm cách hiểu cái dòng chảy suy nghĩ của tác giả, tìm cách lật đi lật lại các vỏ từ của tác giả dùng để xem chúng chứa những nội dung gì mới của riêng tác giả đó. Người ta có vẻ chỉ lăm le lên đạn sẵn, chực xem người kia nói chỗ nào có vẻ chệch mình, là nổ súng liền ạ. »
Bác Hai cười sảng chí.
-« Chà, tay chịu chơi này cũng đáng hứa hẹn a ! Để tôi nói tiếp.
Nghị luận đối với người xứ Đông là võ công, là khẩu chiến, nôm na là võ miệng. Võ công thì trước hết phải thủ thế an toàn, mười phân vẹn mười, cốt sao cho không ai làm gì được mình đã. Chiến đấu mà lại sẵn sàng để cho người ta thắng mình, đấy là chuyện gì chứ không phải là võ công. Hơn nữa thì rồi lừa miếng, rồi chớp thời cơ, rồi quật ngã đối thủ mà giành chiến thắng.
Các biện sĩ thời xưa bắt đầu cuộc luận tranh nào cũng phải kín đáo, gói ghém chuyện từ « Tam hoàng, ngũ đế » đã, rồi khéo bày ra cái lưới lý luận kín bưng bâng quơ, để cuối cùng bất ngờ « ụp một cái » chụp ngay được đối thủ tranh luận vào trong chiếc vó luận của mình và khua trống đem trình bà con.
Đỉnh cao của công nghệ này là cuộc khẩu chiến giữa Gia Cát Lượng với Vương Lãng, các ông nhớ chứ. Ông Vương Lãng trổ tài mắng Gia Cát Lượng, đã tưởng trên tuyệt vời, đã cất vó được đối thủ. Thế mà khi bị Gia Cát Lượng mắng lại, ông Vương Lãng phải tức hộc máu lăn đùng xuống ngựa mà chết tại chỗ trong cái vó luận của Gia Cát Lượng. Thực ra thì hai ông này luận biện giống hệt nhau, khác nhau chỉ về kín hở, cùn sắc tí tẹo mà thôi. Mà rồi tôi nghĩ cuốn Tam Quốc cũng bịa vụ này nốt, cốt để khoe cái người kể chuyện thành ra là người trên tài cả Gia Cát Lượng ! Tranh biện ở xứ Đông cốt sao sướng được miệng mình, tàn hại được đối thủ, ở tầm cao nhất có thể !
Tôi nói chung vậy thôi, chứ riêng tôi rất quí các bạn đấy nhé, anh Ba biết tôi lâu rồi. Các bạn tranh biện in ít thôi, đủ về phong trào, cũng có thêm nhuận bút mà sống. Còn lại anh em cố gắng lẳng lặng mà nghiên cứu tìm tòi, làm được cái gì dài hơi, đừng phí ngày phí tháng. Tôi từ ngày làm quản lý cũng linh tinh quá, rồi đến lúc nào cũng phải dứt ra thôi.
Thôi ta vào đi, muộn rồi. Ông chủ ghi sổ tôi đi, mấy chục năm ghi sổ nhau rồi còn gì. Hôm nay tôi chiêu đãi anh em một phần nhuận bút. Nhanh nhanh, còn phải kịp lĩnh tiền rồi đi ăn trưa nữa chứ ! »./.
Tầm vóc một dân tộc
“Người ta có thể phán xử tầm vóc một dân tộc qua cách họ đối xử với các con vật.”
Gandhi
« Chủ nghĩa đanh đá »
Bạn Cụ Hinh từng được sống trong những làng Việt xưa.
Thời ấy người nổi tiếng nhất làng bao giờ cũng là người đàn bà chua ngoa đanh đá nhất. Từ các vị chức sắc trong làng, cho đến lũ trẻ con, ai có việc phải đi ngang qua nhà người đàn bà này đều bỗng nhiên ngoan ngoãn hẳn ra, bước đi khép nép, dẹp hẳn sang phía kia của đường làng. “Phía kia” cũng chỉ cách “phía này” được thêm mấy chục phân trên cái đường làng ngoằn ngoèo bé tí.
Đời sống nghèo khổ dốt nát, chỉ còn có cái đanh đá để mà tự vệ, để cho thiên hạ biết tay khi cần, và cả khi mình bỗng « điên lên »!

Sự đanh đá của những người đàn bà trong làng đều được xếp hạng cả, gặp nhau là biết trên hạng dưới hạng của nhau rồi, để mà lảng hay lấn, trừ một số người ngang cân lạng nhau thì cứ gườm căng chỉ chực nổ cuộc thi đấu. Trong làng tìm được người đàn bà hoàn toàn hiền thục, khó. Sống ở đời, tương đối thôi, kẻo rồi ở không.
Cái “được” ở sự đanh đá của người đàn bà trong làng xưa, là nhìn chung họ chân thật, họ bày sự chua ngoa đanh đá ra đấy. Không mấy người trong họ được đi học. Họ không có chữ.
Đàn ông xưa ở quê thường hiền hơn, nhưng cục, ít thể hiện ra hơn sự chua ngoa đanh đá. Cái chua ngoa đanh đá nay đã được nén lại vào trong, trở thành cái « cục ». Họ có cái « cục » để tự vệ rồi. Đừng tưởng cứ lấn họ được mãi.
Rắc rối nhất là số ít đàn ông được học ít chữ, vẽ được chữ vuông.
Nhiều vị trong số này mực thước ôn tồn, lo dạy học, lo bắt thuốc giúp người, để mà kiếm sống. Cái năng lượng vô tổ chức của « chua ngoa đanh đá » vốn có ở họ đã được cải hóa, thuần hóa, để thành công ra một năng lực mới.
Nhiều vị khác trong số này thì lý sự kinh thiên, động địa. Vừa khó hiểu, vừa loăng quăng. Lý luận ngút ngàn với nhau xem « trời có đầu không » chẳng hạn, dẫn cả « ngũ kinh » ra bày trận. Lời nói của họ phải được mài thật sắc, múa lên phải như gươm dao lướt dưới trăng, phải chém được đầu này, phải xé được trời kia… Hết mấy chén rượu và mấy đường thuốc lào, thì mình phải cưỡi được ngựa lên trời xanh, để lại đám thua cuộc hạ đẳng tội nghiệp ngơ ngác ở tít mãi dưới kia.
Sau này bạn Cụ Hinh hiểu ra, đó lại là cái cách để sự chua ngoa đanh đá giấu mặt ở bên trong đám đàn ông lý sự kinh thiên động địa đó có được cái cơ hội mà chui ra. Họ thực ra cũng vô tư thôi, đâu có để ý lẽ đó.
Trong muôn hình chuyển hóa và tiến hóa của cái năng lượng chua ngoa đanh đá ở trong ta, chỉ có cái vô tư cuối cùng này mới kết tinh lên được thứ tinh chất của chính nó. Gọi chữ cho oai hôm nay, đó là “chủ nghĩa đanh đá”.
./.
Chuyện với Thượng Đế về Badakethutanha và Ladaboda
Thượng Đế của bạn
Đa phần chúng ta thường cho rằng việc chuyện trò với Thượng Đế, cũng gọi là Trời, là rất khó khăn. Ví như thời xưa người ta phải xem ngày đặt tháng, dựng đàn tế lễ. Rồi dăm ngày trước khi tiến hành làm lễ tế thì phải ăn chay tắm gội, nhịn nín làm tình … Chủ lễ tế khi lên đàn cầu phù sẽ phải xõa tóc, phải chân đất, phải ngất ngây… Xem ra rất phức tạp. Vụ này phải rối tinh lên như một màn ảo thuật. Nếu không một ai hiểu gì nữa, kể cả chủ tế, thì cuộc chuyện trò này với Trời được coi như là thành công.
Rút cục sau đó, công việc không được kết thành, thì là do Trời chưa cho, được kết thành, thì là do Trời thuận giúp. Hồi đó khi được việc thì người ta chưa quen nhận tranh hết của Trời, rằng đó chỉ là do riêng cái thiên tài của mình thôi. Điều quan trọng nhất là việc này đã được giao tế với Trời rồi, thôi nhé, đừng ai dám bàn dám cãi gì thêm nữa về nó!
Nhưng thực ra mỗi chúng ta vẫn luôn luôn chuyện trò với Thượng Đế của mình! Khi suy nghĩ, bạn phải vật lộn giữa cái đã biết và cái chưa biết, tuy nhiên ta nên miễn trừ chuyện này cho các nhà tuyên huấn chuyên nghiệp. Với mỗi việc, ở mỗi thời điểm, một khi bạn đã nghĩ kĩ rồi, đã nghĩ hết rồi, không còn nghĩ thêm được gì nữa rồi, lúc đó là lúc bạn tạm bàn giao, ủy thác việc nghĩ đó cho Thượng Đế của bạn nghĩ tiếp hộ bạn. Về tài năng, cái bạn đã biết, là chính bạn, cái bạn chưa biết, ta kí hiệu đó là Thượng Đế của bạn.
Thượng Đế như vậy sẽ không trừu tượng, mà luôn luôn là Thượng Đế của một người xác định ở một thời điểm xác định. Chuyện trò với Thượng Đế, đơn giản chỉ là thế thôi, là chính quá trình suy nghĩ, đối mặt với làn ranh giữa sự hiểu biết và không hiểu biết của mình, để tìm cách vượt thêm lên. Nhờ chuyện trò siêng năng với Thượng Đế của mình, bạn đẩy thêm lên được các nấc tài năng của bạn.
Bây giờ ta hình dung cái thang đo tài năng về hiểu biết như một dãy số tự nhiên N {0, 1, 2,…n…}, và tài năng của một người ở trong một lĩnh vực ở một thời điểm là n, khi đó (tài năng của) Thượng Đế của người đó ở trong lĩnh vực đó ở thời điểm đó sẽ là n+1. Vậy bạn càng tài năng, Thượng Đế của bạn cũng lại càng tài năng hơn. Và như thế, xem tài năng của Thượng Đế của một người, tức là xem cái mà họ tôn sùng, cái lý tưởng đích thực của họ, thì ta cũng khắc hình dung ra được cái tài năng của chính người ấy. Mượn lại chữ nhà Phật hay dùng cho sinh động, ta gọi tài năng của bạn là « ngộ », ngay sau ngộ thì là Thượng Đế của bạn, ta gọi là « nghi ». Nghi lớn nhờ ngộ lớn, ngộ lớn thì nghi lớn. Ta có công thức sau (cho oai), nghi = ngộ + 1, hay nghi = siêu(ngộ), với siêu là một toán tử để chỉ nấc tài năng liền sau một nấc của tham số tài năng, ở đây là ngộ. ;-)
Về hình ảnh thống kê, ta có thể hình dung mỗi cộng đồng xã hội ở một lĩnh vực và trong một thời điểm cũng có được một cái nấc tài năng xác định và cái Thượng Đế kế đó của mình.
Badakethutanha tự nhiên
Vừa xoẳn trước khi có con người, HST («Hệ Sinh Thái») trên trái đất này thực sự đạt tới một chu trình sinh thái hoàn thiện. Trong HST, vật chất, vi khuẩn, thực vật, động vật … nằm trong một chu trình kín tổng thể tự cân bằng được, tự tái sinh được. Tất cả các chất thải hữu cơ đều tự phân giải tự nhiên được trong chu trình này, không có “ô nhiễm chất thải đời sống”, « rác rưởi đời sống » không tái sinh được tự nhiên trong HST.
Xem một bộ phim tài liệu về đời sống của HST ở Bắc cực, ở Nam cực, hay ở một khu rừng nguyên sinh bát ngát nào đó còn sót lại ở châu Phi hay ở Nam Mỹ, bạn sẽ thấy ngay rằng Thượng Đế thật là vĩ đại, vì bạn chả có thể chê trách được điều gì nữa. Bạn ngồi đó chiêm ngưỡng, và chấm hết. Chu trình này của HST được gọi tên là « Badakethutanha », có bắt đầu, và có kết thúc, và cái kết thúc ở đây cho phép khởi động trở lại cái bắt đầu, tạo nên chu trình sinh thái tự tái sinh hoàn chỉnh.
Ladaboda
Bây giờ bạn bật lại bộ phim đi, và ngắm thật kĩ thêm nhé. Hình như cũng có một chút vấn đề tiềm năng gì đó.
Mấy con sên tham ăn cái búp non cho kì cùng, có khi cả cái cây non chết nẫu.
Mấy con sư tử xẻ thịt được con hươu, ăn một phần, rồi bỏ vương bỏ vất đấy.
Mấy con khỉ rung cành rụng cả đống quả, ăn được vài quả, rồi bỏ đi.
Chúng hoạt động theo cái sở năng gì vậy ?
Cái sở năng này được gọi là “Ladaboda”, một sở năng tự nhiên, sở năng hoạt động bỏ lửng, theo nguyên tắc “tiết kiệm năng lượng” cho mỗi sinh thể. May thay, các hoạt động của các sinh thể này của HST có thể bị bỏ lửng mà không gây ra những nguy hại căn bản nào cho bản thân chu trình sinh thái tổng thể của HST.
Tại sao ? Bởi vì HST có công năng «Badakethutanha », chu trình kín tổng thể tự cân bằng, tự tái sinh được. Chính Badakethutanha đã giải quyết mọi hậu quả hộ các sinh thể trong HST một cách rất tự nhiên, mà chính các sinh thể kia không cần phải biết đến. Và do đó « Ladaboda » chưa trở thành một vấn đề thực sự của HST.
Homo sapiens sapiens, Badakethutanha và Ladaboda
HST tiếp tục quá trình tiến hóa của mình. Và rồi đến một ngày, HST sản sinh ra homo sapiens sapiens, “con người tinh khôn ”. Con người ra đời, có thể rằng đó là niềm tự hào lớn nhất của HST : sản sinh ra được một sinh thể có khả năng ý thức được về chính HST…
Buổi đầu, con người cộng sinh hiền lành trong HST, giống như mọi sinh thể khác, trong một chu trình kín tổng thể tự cân bằng được, tự tái sinh được. Nếu bạn cất công đi vào được những bản làng thật sâu thật xa ở Tây Nguyên chẳng hạn, bạn có lẽ vẫn còn thấy được sự cộng sinh hiền hòa này của đồng bào mình trong HST.
Điều bất ngờ cho HST là cái sở năng “Ladaboda” đã bộc lộ ra những hiệu ứng rất khác thường một khi con người phát triển đến đời sống công nghệ hiện đại.
Từ vài trăm năm trở lại gần đây, từ khi mà loài người trở nên « tinh vi công nghệ » và đông đúc hơn lên vượt bậc, cái sở năng “Ladaboda”, vốn chỉ như là một vấn đề tiềm tàng ở các sinh thể, đã bộc lộ ra cái sở đoản khủng khiếp của mình.
Vào đời sống công nghệ hiện đại của con người, « Ladaboda » được kích hoạt thành quy trình « hễ có cái gì được bày ra là không biết bao giờ mới thanh toán nổi chúng đi nữa ».
Xưa kia ông Héraclite từng nổi tiếng với câu nói “người ta không thể tắm được hai lần ở một dòng sông“. Tôi đã tưởng ông này đã đạt đến cái suy tư cùng cực cho bõ cái khổ công phải làm một nhà triết học.
Chỉ có hơn một chục năm trở lại đây thôi, vậy mà hầu hết các con sông ở xứ ta đã không thể xuống tắm được nữa rồi, thành ra hầu như “người ta không thể tắm nổi được một lần ở một dòng sông“ xứ ta! Tất nhiên bây giờ nếu ta bỏ ra một khoản tiền thưởng lớn bất ngờ ngất trời ngây đất cho những người tham dự, thì có khi ta vẫn có thể sẽ tổ chức được một hội thi toàn quốc bơi vượt sông Tô Lịch, để cho ông Héraclite thức dậy ngắm xem.
Tại sao vậy ? Bởi vì con người ở ta biết bày ra cái cống, cái vốn không tồn tại trong HST, một cái « bắt đầu », mà không đưa đến được một cái « kết thúc » để rồi « tái nhập » trở lại được vào HST. Họ đinh ninh rằng cái cống cũng đã là con sông. Cái này thì rõ ràng là ông Héraclite chưa biết nghĩ tới.
Con người phát minh ra cái cống, tức là họ đã đẻ ra một cái « bắt đầu », để chuyển tải đi cái nước sạch của HST đã bị sử dụng và bị làm bẩn độc về môi sinh, do sinh hoạt của đời sống công nghệ của mình. Với cái cơ chế hoạt động của cái sở năng « Ladaboda » trong mình, « hoạt động bỏ lửng, tiết kiệm năng lượng, kể cả tiết kiệm tư duy», con người đã tống thẳng cái nước thải ở cái cống đó vào con sông, từng bước biến con sông thành cái cống. Con sông Tô Lịch là đỉnh cao đã hoàn thành của quy trình cống hóa do sở năng « Ladaboda » được triển khai hoàn chỉnh ở con người công nghệ hóa dở dang.
Vậy thì con người phải vượt qua được cái hạn chế tự nhiên của cái sở năng « Ladaboda » của mình, để cái nước thải ở cái cống phải được giải quyết đến cùng, để nước thải ở đó phải được xử lý lại, sao cho nó phải đạt được tiêu chuẩn sạch của nước sông, và chỉ đến lúc đó thôi, thì cái nước rời cống đó mới được nhập lại vào sông. Có như thế, chúng ta mới hoàn thành được cái công năng «Badakethutanha », chu trình bắt đầu – kết thúc – tái nhập vào HST. Nghĩa là mỗi điểm nối bất kì giữa cái cống và con sông phải là một cơ sở xử lý nước thải đạt chuẩn, trên toàn bộ lãnh thổ của HST mà con người tham dự vào.
Chỉ có hơn một chục năm trở lại đây thôi, các con đường ở các thành phố lớn xứ ta hầu như không thể đi dạo nên thơ giữa ban ngày được nữa, như chú nai vàng trên nẻo đường rừng trong thiên nhiên! Tất nhiên nếu bạn có phổi nhân tạo, có tai đút nút bông gòn hoặc bộ headphone nghe máy nhạc, lại có mắt trùm kính bơi, thì ta cũng có thể gắng đi dạo được ở đó… nếu vỉa hè còn chỗ.
Câu chuyện này hôm nay thành quá khó rồi, vì sự siêu quá tải của quá trình đô thị hóa « bứt rào bung ra » mang qui mô ngút trời đã và đang được nổ tung ở xứ ta. Nhưng con đường rồi sẽ phải thôi là cái cống thải khói và thải tiếng ồn vĩ đại, cùng là nơi tưởng niệm đông đảo các liệt sĩ giao thông.
Vậy thì con người phải vượt qua được cái hạn chế tự nhiên của cái sở năng « Ladaboda » của mình, để rồi một ngày nào đó, trong điều kiện bình thường, một con đường chỉ được phép lưu thông nếu nó thỏa mãn các độ ô nhiễm, độ ồn, độ ách tắc dưới mức cho phép.
Hàng loạt các biện pháp phải được suy tính và tổ chức dựng xây. Từ chuyện rất to lớn và dài lâu, như quy hoạch dân số, quy hoạch các thành phố cùng các vệ tinh của nó, qui hoạch hệ thống các trục đường dọc-ngang-vành cùng các hệ thống bãi đỗ, quy hoạch công nghệ và phương thức sử dụng các loại phương tiện giao thông – với ưu tiên cho các phương tiện công cộng… thật muôn vàn việc… Và cho đến những chi tiết, như hệ thống máy đo ô nhiễm và đo tiếng ồn, hệ thống truyền tin trên đường biết hướng dẫn dòng xe, biết áp đặt việc giảm tốc độ xe để giảm độ ô nhiễm khi thời tiết nóng nực và thiếu gió ở các thành phố…
Không thể làm được như thế ? Thì miễn bày ra. Thì đi bộ, đi xe đạp không thôi.
Chỉ có hơn một chục năm trở lại đây thôi, người ta không thể ăn uống vô tư ở xứ ta được nữa! Rau tẩm thuốc sâu, quả tẩm hóa chất, rượu pha lừa đảo, thuốc giả thuốc hỏng… chỉ có mỗi dạ dày, ruột gan và bệnh tật của chúng ta vẫn là thật. Nghĩa khí Cần Giuộc “liều mình như chẳng có” còn chịu đựng được bao lâu nữa các đồ ăn thức uống này ?
Vậy thì con người phải vượt qua được cái hạn chế tự nhiên của cái sở năng « Ladaboda » của mình, để rồi một ngày đến, ngay từ đầu mối hàng đưa vào cộng đồng, các thực phẩm đã phải bị kiểm tra chất lượng an toàn, thay vì mỗi người dân phải luyện ngắm từng miếng thịt, lật từng miếng rau, và mặc cả triền miên với Thượng Đế của mình suốt ngày này sang tháng khác xem có nên mua chúng không, có dám tiêu thụ chúng không.
Cầm một mớ thịt, một cây rau, ở bất kì một chợ nào, nhà chức trách phải đủ khả năng truy nguyên rất nhanh chóng, thậm chí tức thời, nhờ hệ thống công nghệ thông tin được thiết kế và vận hành hoàn chỉnh, xem mớ thịt đó, cây rau đó do ai lưu hành, do ai sản xuất, và truy tố được thật nhanh chóng chính xác kẻ ích kỉ hại người. Có như thế chúng ta mới hoàn thành được chu trình «Badakethutanha ». Công việc này không dễ, nhưng làm được, và nhiều xã hội khác đã thực hiện được từ khá lâu rồi.
Có cần thiết phải kể ra nốt các hiệu ứng “Ladaboda” trong thế giới tinh thần của con người không? Biết bao nhiêu các thuyết lý của nợ đã được bày ra, từ cổ chí kim, chưa thấy cái thuyết lý nào được dẹp đi cả. Cái rổ đựng các mê thuyết chỉ thấy lớn lên mãi. Bói bài ta chán, bói thêm bài Tàu, bói bài Tàu chán, bói nữa bài Tây. Phép bói phải được nhân lên mãi, mở ra mãi, sang bói tóc, bói Kiều, bói lá, bói hột thị…liệu còn chỗ nào để không áp dụng được các phép bói mê?
Badatethutanha của kỉ nguyên công nghệ
Tất cả những thất bại trên đây là do cái sở năng « Ladaboda » sẵn có trong HST được kích hoạt mạnh mẽ ở con người, một khi con người bắt đầu bày ra sự phát triển nền công nghệ nửa chừng, và cái công năng tự nhiên « Badakethutanha » của HST thì bị bất lực trước cái sở năng « Ladaboda » này đã được kích hoạt ở con người thời công nghệ hóa.
Sự bất lực của HST về cái công năng tự nhiên « Badakethutanha » trong thế giới con người công nghệ hóa buộc chính con người phải đối mặt thảo luận nghiêm túc với Thượng Đế của mình, để tìm cách thiết kế và vận hành cho được cái « Badakethutanha » cho đời sống của mình, để hoàn thành cho được chu trình bắt đầu – kết thúc – tái nhập HST trong kỉ nguyên công nghệ hóa của đời sống con người.
Thiền án về « Ladaboda » và « Badakethutanha » không phải chỉ là những vấn đề to tát như dòng sông, con đường, thực phẩm công cộng, hay nạn thuyết mê… Nó nằm ở khắp mọi ngõ ngách của đời sống hôm nay. Thiền định về thiền án này cho phép chúng ta tiến hóa về một đời sống phát triển bền vững và thông minh. Giản dị như mở rộng việc sử dụng rộng rãi túi xách bằng giấy tái sinh được, có giải pháp trồng rừng đã sẵn sàng triển khai được trước khi tổ chức khai thác rừng, cho đến sự ra đời của các thế hệ đồ vật thông minh như nồi cơm điện tự tắt khi cơm chín, vòi nước và đèn tự tắt được ở nơi toilet công cộng sau sử dụng. Vân vân.
Phải đi đến xây dựng và thực hành được nguyên lý như sau cho đời sống, rằng một khi con người muốn bày ra điều gì, thì họ phải chịu trách nhiệm về hệ thống giải pháp để hoàn thành được chu trình bắt đầu – kết thúc – tái nhập vào hệ sinh thái.
Đấy là lời mời gọi mỗi chúng ta, và cả cộng đồng, hãy chuyện trò với Thượng Đế của mình về « Ladaboda » và « Badakethutanha ».
Để cùng góp phần hóa giải cái sở năng khuyết tật « Ladaboda ».
Để đẩy lên được cái nền thiết kế và vận hành cái công năng « Badakethutanha » trong các lĩnh vực của đời sống được công nghệ hóa hôm nay.
Về cách dịch nghĩa các khái niệm « Ladaboda » và « Badakethutanha », các bạn có kiến giải ra sao ?
Tôi tạm dịch nghĩa cùng các bạn như thế này nhé : « Ladaboda » là « Làm đâu bỏ đấy », và « Badakethutanha » là « chu trình bắt đầu – kết thúc – tái nhập hệ sinh thái»./.
Phát triển, và thách thức tái cấu trúc hệ thống
Có một giai đoạn vì cố chạy theo các bạn trẻ, bạn Cụ Hinh mang đàn ra luyện ra trò. Tiến bộ không rõ ràng lắm về nhạc âm, nhưng rõ ràng là tay trái bấm phím chắc lên, bớt phải mắm môi mắm lợi.
Thế rồi cái tay trái bấm đàn cứ bị đau tê dần theo thời gian, lúc lên, lúc giảm, nhìn toàn cục là lên.
Đến một lúc, suốt dọc từ cổ tay lên đến bả vai cứ thế là tê dại cả đi, như bị kẹp cùm vậy, ngày qua tháng lại không thôi. Khó chịu suốt ban ngày là một chuyện, nhưng đêm đến thế là hết cả ngủ, nửa người tê táy như bị kiến bò lổm ngổm vậy.
Bạn Cụ Hinh bất dắc dĩ đành qua gặp ông Tơ, bác sĩ mình quen đi khám, một người rất đáng mến, nhưng rõ ràng là không nên phải đi gặp ông ấy thường xuyên! Ngồi chờ đến lượt khám, nghĩ vẩn vơ thấy nhiều người xứ Đông dịch sách viết báo cụm chữ tiếng Tây viết tắt « bác sĩ của mình » thành là “bác sĩ riêng của mình” mà ngộ nghĩnh. Có dịp đi qua đó mới té ra rằng thế là dịch theo kiểu bám chữ, nghe oai, còn cụm chữ tiếng Tây này chỉ là để gọi vị bác sĩ mình hay đến xin được thăm khám ! Gọi là « vị bác sĩ theo dõi mình » cũng được, và người dân nào cũng có « bác sĩ của mình ». Phải là nhà siêu triệu phú trở lên, hoặc nhà siêu quyền lực trở lên… thì may ra mới có « bác sĩ riêng » nhé…
Ông Tơ vồn vã chào hỏi như thường lệ, còn Cụ Hinh thì tê tay nên không được tươi lắm, cùng vào phòng khám. Sau khi khám nghiệm, chất vấn, suy tư, ông Tơ nhìn vào mắt Cụ Hinh, giọng ôn tồn.
-”Gay đấy, Cụ Hinh có muốn bỏ tập đàn không?”
-”Dạ, không…”
-”Trong thời gian qua, có một cái phát triển rất tốt ở Cụ Hinh.”
-”Hay quá bác Tơ, gì vậy ạ?”
-”Cơ tay của Cụ Hinh phát triển lên.”
-”Tôi tự hào nha, chắc mình trẻ ra!”
-”Nhưng Cụ Hinh chắc không phải là người tập đàn nỗ lực và đều đặn từ nhỏ.”
-”Dạ, đáng tiếc thế đấy ạ. Không thì chắc tôi đã suýt thành sao sáng rồi.”
-”Vâng… cho nên những cơ ở cổ tay này của Cụ Hinh phát triển nóng, đột phát, trên một cái nền tảng cổ tay không có được sự phát triển tương xứng.”
-”Chết…”
-”Điều đó dẫn đến là các cơ mới đột phát này bóp nghẹt đôi chút các mạch máu ở cổ tay. Và từ đó cả cánh tay bị tê dại đi.”
-”Trời đất… có cách gì không ạ, thưa bác Tơ?”
-”Bây giờ kiểu gì thì cũng phải giảm tập đàn tập địch đi. Rất may là Cụ Hinh đâu còn quá trẻ để mơ thành sao này sao nọ.”
-”Vâng…”
-”Sau đó, nếu may mắn thì cứ cà tang như thế, cơ thể Cụ Hinh dần sẽ quen được một phần, tuy tay vẵn hơi đau đấy, nhưng vẫn tập chơi được đàn chút đỉnh. Chút đỉnh thôi.”
-”Dạ… Nhưng thế thì làm sao mà đuổi theo được các bạn trẻ đây…”
-”Còn nếu không, chắc sẽ phải phẫu thuật, mổ cổ tay để nới chỗ cho các mạch máu… Nhưng kết quả thì không dám chắc. Cũng có trường hợp tốt lên, cũng có trường hợp không ăn thua gì, thậm chí…”
-”Bác Tơ ạ, đến nước tái cấu trúc hệ thống này thì, thôi, tôi xin rút lui, hoạt động nhẹ nhàng thôi, và nhường đường cho những ai thuộc thế hệ trẻ khỏe, lại có đào luyện sớm sủa và bài bản ạ. Cảm ơn bác sĩ Tơ, tôi về nhé!”
Đoạn Cụ Hinh vội vã đứng lên xếp ghế để ra về.
-”Ấy Cụ Hinh, chưa được, đừng hoảng hốt, tôi còn phải viết cho Cụ Hinh cái đơn thuốc giảm đau để đi mua thuốc đã!”
./.
Chối từ hoang dã
Khi thể chế của ông Saddam Hussein sụp đổ, người dân bắt đầu vào hôi của tại dinh thự tổng thống.
Có vẻ đó chỉ như là sự trả đũa của người dân cho bõ tức đơn thuần.
Nhưng rồi hóa ra đó là cả một cuộc cướp bóc mới đã được nổ tung.
Cả một cộng đồng thiếu một nền tảng căn bản được chuẩn bị để tổ chức cho được một đời sống mới với nhau qui củ và nhân bản, đã tự phơi trần mình ra không kém phần khiếp khủng.
Nếu nền bạo lực ở con người hôm trước được tinh luyện và siêu tập trung hóa, thì hôm sau đã được hoang dã hóa hoàn toàn.
—-
Bài học này, bài học cho toàn thể nhân loại.
Muốn tiến lên, chống lại cường quyền không thôi, không đủ.
Bởi vì chống lại cường quyền đơn thuần có thể sẽ đưa đến việc sử dụng tràn lan các bạo lực mới, điều này là tự nhiên nhất như chính trong giới tự nhiên. Và cuối cùng lại hình thành nên các cường quyền mới.
Nền dân chủ là một hình thái tổ chức đời sống chưa bao giờ sẵn có trong lịch sử tinh thần, trong đời sống của con người.
Phải học, phải tập, phải suy ngẫm, phải tự chế, phải hợp tác. Và phải nhân hậu.
Phải bắt đầu công việc này rất bền bỉ, dài lâu, từ việc gây dựng những cấu trúc nhỏ nhất trong đời sống, đến những cấu trúc lớn nhất. Ngay trong đời sống hàng ngày hôm nay.
Và nền dân chủ được chuẩn bị, được bồi đắp lên để thiết chế quyền lực, để định chế cái bản năng hoang dã ở trong mỗi con người, để đào luyện một nền tảng tinh thần được tiến hóa cho một đời sống biết quí trọng tự do và sự yên vui của mỗi cá nhân.
./.
Cần bao nhiêu cái Tết, để có một Thế hệ mới, một Xã hội mới?
{Bản đầy đủ}
Các bạn trẻ lớn lên, tràn đầy hy vọng. Với hiểu biết, với nhiệt tình, với năng lượng đầy huyết quản, bạn nghĩ “mọi chuyện lăng nhăng rồi sẽ phải qua thôi. Kể từ thế hệ chúng ta, một trang mới hoàn toàn sẽ phải mở ra, nhất định phải thế!”.
Nói nhỏ với các bạn, ai cũng mong sao để các bạn được như thế!
—-
Thế hệ tôi cũng có đúng từng ấy ước mơ, từng ấy nhiệt huyết, từng ấy năng lượng trong huyết quản.
Bao nhiêu cố gắng, bao nhiêu suy tư… Chúng tôi tiến lên. Và như hôm nay các bạn thấy đó, có tiến lên… nhưng rõ ràng là chưa được bao xa.
Các thế hệ trước nữa, hẳn họ cũng từng đã tự nhủ như thế. Chưa biết chừng còn hơn thế nữa.
Tôi nhìn quanh bạn bè thuở nào, nay nhiều người đã cận trung niên, chuẩn trung niên, hoặc « thăng trung niên»… nom họ cũng đã thấm mệt. Hơn thế nữa, nhiều người đã cũ kĩ đi nhiều. Sao nhanh thế nhỉ ? Hoặc là, xã hội có cái sức mạnh siêu khủng để thuần hóa họ trở lại thành cũ kĩ khá nhanh, như chính xã hội vốn như thế. Hoặc là, ở trong ta có cái gene già nua ngủ im đó, đến tuổi nào thì đó nó tỉnh dậy, và lập tức biến chàng và nàng thanh niên nhạy cảm, thông minh, hăng hái ngày nào, thành con người cũ kĩ, thoái chí, phản tiến hóa chăng? Vài chục năm, một thế hệ với vài thành quả nhỏ nhoi như vậy, mà đã chấm hết sao ? Rất may rằng hình như có những người vượt được ra khỏi cái thói chung đó.
Câu hỏi tự nhiên đặt ra trong mình : vậy thì cần bao nhiêu thời gian để có được một xã hội tiến hóa lên rõ ràng được một nấc mới ?
—-
Câu hỏi nói trên có vẻ mơ hồ, nó phụ thuộc vào sự vận hành của con người, của xã hội.
Trong hàng ngàn năm thời trung cổ, cuộc đời tròn khúc, nào có thay đổi được bao nhiêu. Con người cảm thấy cái vòng tròn khép kín đó chính là “đạo”. Đạo con rắn cắn đuôi, đạo gà cồ ăn quẩn cối xay.
Vậy thì hôm nay cũng đáng vui lên hơn nhiều rồi! Dẫu sao so với thời xưa đó, thì chúng ta đã có và đã được chứng kiến trong mỗi một đời người những tiến hóa quan trọng hơn rất nhiều của đời sống. Người cao tuổi hôm nay phải loay hoay học dùng máy tính, chứ không giản đơn cậy quyền “lão nông tri điền” để giao giảng thao thao bất tuyệt được như ngày xưa nữa. Nhưng câu hỏi trên đây vẫn đáng được đặt ra, đơn giản vì hôm nay là… Tết!
—-
Bạn đã có dịp biết hay quan sát một bạn trẻ 8 tuổi từ xứ ta sang sinh sống và học hành ở một xã hội phát triển chưa?… Nếu có, chắc chắn rằng mười năm sau, bạn sẽ gặp lại một thanh niên 18 tuổi của một thế hệ xã hội khác. Trong trường hợp tối ưu, có lẽ chỉ cần bảy năm thôi, từ mười một tuổi đến mười tám tuổi chẳng hạn.
Bạn trẻ mười tám này khi đó sẽ có tri thức, có hành xử, có quyết đoán, có bản lĩnh, v.v. của một thế hệ hiện đại hoàn toàn khác. Khác đến mức các bậc cha chú , các bậc đàn anh, các bậc cấp bề trên của anh ta, của chị ta không còn tác dụng để sai khiến gì trong thực chất cái nhân cách của anh ta, của chị ta được nữa ! Họ có nền tảng bản lĩnh rồi, có nền tảng hiểu biết rồi, người ta phải cộng tác với họ thôi.
Như thế câu hỏi có vẻ trừu tượng ở trên đây đã không còn là câu chuyện hư vô. Bảy năm, mười năm, hay, bảy cái Tết, mười cái Tết, là « có thể », là « yes, we can ». Làm thế nào, là chuyện cũng có đó rồi, phải nhận ra, học ra, và áp dụng mà thôi.
Chuyện đáng ngạc nhiên không dừng ở đây. Nếu quan sát kĩ hơn, sẽ còn thú vị hơn thế nữa.
—-
Trong thời gian sống và làm việc ở Paris, đôi khi vào những chủ nhật nắng vàng ấm áp, tôi tự thưởng cho mình một buổi ra chơi một công viên thật đẹp đẽ, thật rộng rãi, để “thông gió” cái đầu, linh hoạt cái cơ thể bí bách của mình.
Có một chỗ thú vị để thỉnh thoảng quan sát, ngắm nghía, đó là khu chơi của bọn trẻ.
Các khu này thường được cây cối bao bọc xung quanh kín bưng như pháo đài của chàng Robinson. Bạn sẽ có nền trải bằng loại tấm xốp mềm, nhỡ có ngã chúi đầu xuống cũng không sao. Các trò chơi thì khá đủ loại, nhưng bao giờ cũng phải có leo trèo cầu trượt, đi cầu treo đung đưa, rồi các khu nhà con con, rồi đánh đu, rồi bập bênh, rồi đào cát…
Cái đáng nói là các bố mẹ của lũ trẻ thường không vào chơi cùng, mà chỉ ngồi tán gẫu, quan sát chúng từ những chiếc ghế băng công cộng được dựng ở xa xa vòng quanh.
Thế các bạn đang leo trèo này là những ai? Tùy khu, theo lứa tuổi. Khu tôi hay ghé xem là khu dành cho các bạn ở tuổi nhà trẻ, mẫu giáo, có bạn đi hay chạy còn chưa thật vững.
Hầu như hoàn toàn không có sự can thiệp của người lớn. Các bạn bé tí này xếp hàng, leo lên cầu thang, chờ đến lượt, rồi trượt xuống.
Có những cậu bé, cô bé thật kháu khỉnh, cực kì nhanh nhẹn, và “liều mạng”, đã đành. Nhiều cô cậu khác thì còn vô cùng lơ đễnh, vụng về, kém cộng tác hơn.
Thế nhưng tất cả bọn chúng làm nên một cộng đồng kỉ luật, trật tự, sáng kiến, tự do. Anh chàng này tinh nghịch là thế, mà cứ kiên nhẫn chờ mãi cái anh chàng vụng về nọ loay hoay cho được cú trượt. Rồi thì cũng đến lượt mình, anh chàng tinh nghịch này nằm chúc đầu xuống, ưỡn cong mình, hai tay vểnh lên, lao xuống như một chiếc máy bay gặp hiểm. Tiếp đất, là cười khanh khách, để rồi lại vù ra xếp hàng cho lượt sau, hoặc sang xếp hàng chơi trò khác. Cô bé kháu khỉnh tiếp sau đó cũng chả kém, cô chạy một phần đầu trên đoạn nghiêng của cầu trượt, rồi mới kềnh ngửa người để lao xuống tiếp đất…
Rồi mấy đứa trẻ chúng thảo luận với nhau, tìm ra các trò chơi mới phức tạp hơn, cộng tác hơn. Tỉ như đứa dưới nắm chân đứa trên, đứa úp đứa ngửa, cùng trượt xuống…
Hầu như không thấy lộn xộn, không thấy tranh giành, ẩu đả, phá bĩnh, ăn vạ, to tiếng gì cả. Có gặp khó khăn thì chúng cũng không ngoảnh cổ giương mắt cầu cứu cha mẹ, mà loay hoay tự giải với nhau.
Đám trẻ này đã được học rèn tất cả những nền tảng bản lĩnh này ở nhà trẻ, ở trường mẫu giáo của chúng rồi.
Và tất nhiên, đám các phụ huynh cũng sẵn sàng “không nghênh chiến” với nhau, “không nghênh chiến” với đám trẻ. Họ cũng đã học được sự cộng tác xã hội này.
—-
Thường khi đã xem chán bọn trẻ chơi nghịch ngộ nghĩnh xong, tôi thích ra bờ hồ ngắm thiên nga, ngắm cá. Trời đất cỏ cây thật hiền hòa. Và tôi rút cây đàn bé tí ra, nằm lên bãi cỏ dưới nắng mà chuyện trò dai dẳng chẳng đâu vào đâu với nó.
Và nay thì tôi biết mười mươi rằng, chỉ cần từ ba năm, rộng ra là đến năm năm, năm cái Tết thôi, là ta đã có thể có một thế hệ hoàn toàn mới!
Phần còn lại trong cuộc đời, là bảo dưỡng, là đừng để làm hỏng cái thành quả của năm năm, của năm cái Tết đã đạt được kia.
Đó là câu chuyện Tết năm nay mà tôi muốn san sẻ cùng với các bạn. Đấy, chưa kịp loay hoay gì, đã một giáp mười hai năm của thiên niên kỉ thứ hai trôi vèo qua cửa nhà chúng ta! Giá như chúng ta đã có được bảy tiểu thế hệ mới tốt nghiệp… nhà trẻ-mẫu giáo hệ năm năm, để rồi bảo dưỡng thành công họ trở thành những con người của những thế hệ mới mẻ văn minh, vui hạnh, thành đạt…
./.
Tồn tại, Trở thành
Trên một cái khung cảnh nền tảng tiết tấu, âm thanh, bao gồm trong đó cả sự im lặng…
Nghe thấy những âm thanh, tiết tấu, im lặng không tồn tại, mà đáng phải tồn tại.
Nghe ra những âm thanh, tiết tấu, im lặng đang tồn tại, mà đáng phải khuât đi.
Tồn tại đang tìm đường Trở thành.
Bản lĩnh tổ chức đời sống cộng đồng hôm nay
{Bản đủ}
Năm 1802 ông Nguyễn Ánh lên ngôi, lần đầu tiên người Việt quản trị một đất nước Việt thống nhất có một tầm vóc lớn gấp đôi từ xưa cho tới lúc đó trong lịch sử! Bạn hãy hình dung bạn đang lái chiếc xe con, nay nhảy sang lái chiếc xe tải, và trên những chiếc xe này là toàn bộ đời sống của cộng đồng xứ sở.
Mới được 56 năm thì hải quân Pháp đổ bộ tấn công vào cảng Đà Nẵng vào 1858, và tháng 6 năm 1862, vua Tự Đức ký hiệp ước nhượng ba tỉnh miền Đông cho Pháp, và năm 1867, Pháp chiếm nốt ba tỉnh miền Tây tạo thành một lãnh thổ thuộc địa Cochinchine (Nam kỳ).
Đến 1887 thì sự cai trị của Pháp trên toàn xứ Việt được hoàn thành.
Như thế người Việt thực tế mới chỉ có kinh nghiệm 60 năm tự cai quản nước Việt thống nhất với tầm cỡ lãnh thổ đương đại như của hôm nay, tính từ 1802 đến 1862.
Hơn thế nữa, sự quản trị của 60 năm đó là nền quản trị thuộc diện sơ sài nhất của một nhà nước phong kiến tiểu nông được trang bị bởi một ý thức hệ nhập khẩu Khổng giáo cực giản cực đoan. Xã hội căn bản chỉ gồm vua-quan-dân, và phương pháp quản trị chủ yếu nhất là ra lệnh bằng miệng trực tiếp.
Chúng ta phải thực sự hiểu ra điều này, và phải thú nhận sự thật này một cách thật sâu thật lắng, để mà biết ra được cái năng lực vô cùng thiếu kém về quản trị xứ sở của mình trong lịch sử.
Nền cộng hòa non trẻ được thiết lập mong manh trên phạm vi toàn quốc vào mùa thu năm 1945 giữa một bối cảnh nửa hòa bình nửa chiến tranh với các thế lực xâm hấn và xâm lấn. Ngay từ cuối tháng 9 năm 1945 quân đội Pháp đã quay trở lại Việt Nam. Nền cộng hòa non trẻ đã phải kí ngày 6 tháng 3 năm 1946 với Pháp Hiệp định sơ bộ Pháp-Việt 1946, cho phép quân đội Pháp ra miền bắc thay thế quân Trung Hoa đang đóng đó với sứ mệnh giải giáp quân đội Nhật Bản. Nền cộng hòa non trẻ vừa mới làm được một số công việc chuẩn bị căn bản cho nền quản trị toàn quốc, trên thực tế chỉ trong vài tháng trời.
Tiếp theo đó, trên thực tế lịch sử, người Việt chỉ quản trị toàn bộ lãnh thổ đương đại thống nhất của mình từ năm 1975, tính cho đến hôm nay 2012 vỏn vẹn gần được 37 năm, sau một thời gian dài đứt đoạn lịch sử.
Như vậy, không một niềm tự hào lên gân nào có thể thay thế thần thánh được cái năng lực thiếu kém một cách lịch sử này, cái năng lực của một cộng đồng tự đứng ra quản trị được đời sống phức hợp của mình. Nếu không liên tục tự dội những gáo nước thật lạnh vào đầu mình, chúng ta sẽ còn mất vô vàn thời gian, chỉ để rồi đến một lúc rất muộn màng sẽ phải thừa nhận ra sự thiếu vắng năng lực tổ chức xã hội này của mình, để mà phải quyết tâm học hỏi, lựa chọn, và dựng xây công cuộc tổ chức đời sống cộng đồng của mình.
Đã vậy, cuộc sống dân tộc hôm nay đi thẳng vào hội nhập toàn cầu, cạnh tranh và hợp tác.
Trong một bối cảnh éo le như thế, gấp rút như thế, phức hợp như thế, mọi sự lảng tránh việc thức tỉnh, việc kiểm hạch nền quản trị đời sống ; mọi sự tự ru ngủ bịa đặt, mọi nỗi kiêu kì ấu trĩ sẽ chỉ kéo dài sự khổ sở của đời sống, làm suy yếu cộng đồng, và đứng ngồi đó tiễn biệt trong nuối tiếc các chuyến ra đi mất mát của thời gian cõng cơ hội mà đáng lẽ được giành cho cộng đồng xứ sở, cho mỗi con người của xứ sở chúng ta hôm nay.
./.
Chuyện một phần trăm
Có tiếng bấm chuông. Cụ Ty quay sang.
-”Để tôi ra xem ai… Nước vừa sôi, Cụ Hinh pha hộ tôi ấm trà nhá.”
Ông Tộ, tổ trưởng dân phố của phường cụ Ty ồn ã vào nhà.
Xong xuôi mục chào hỏi, điểm tin với tuần trà đầu, ông Tộ dốc bầu.
-”Hôm trước, cái vụ bầu lại tổ trưởng dân phố ấy, tôi bị thiếu béng mất một phần trăm. Mấy hôm nay mất cả ngủ. Rõ ràng tôi nhớ là tôi có bầu cho chính tôi, mà sao lại không đủ cả trăm phần trăm! Ở xứ Việt mình mà được bầu dưới một trăm phần trăm là bị sứt mẻ hết cả uy với tín “.
Cụ Ty phân vân.
-”Mấy ngày trước đó, ông có cãi giả bà nhà ông không, hoặc ông có chê món nào của bà ấy là mặn hay nhạt không?”
Ông Tộ gãi đầu…
Cụ Ty bảo.
-”Chưa bằng ở nhà tôi, mỗi lần tôi đun nước pha trà, bà nhà tôi cứ lẻn vào tắt bếp vào đúng cái lúc ấm nước còn thiếu mất một độ C để đủ một trăm! Uống trà ngái, « nửa chừng xuân thoắt gãy cành thiên hương ». May cho các ông, hôm nay bà nhà tôi đi vắng, không thì chúng ta cứ ngậm miệng thưởng trà ngái nhé.”
Cụ Hinh thổ lộ với hai ông bạn.
-”Tôi thì có may mắn mà quen với mấy cô phụ trách mấy tờ báo, các cô ấy vừa xinh đẹp, lại vừa thật nhiệt tình. Còn mơ gì hơn, nên thỉnh thoảng tôi cũng cố viết bài gửi bài cho mấy tờ báo ấy.
Nhưng mà cậy mình xinh đẹp, các cô ấy tự đặt ra cái lệ thế này, “với mỗi bài báo, chúng em xin cắt bớt một phần trăm câu chữ không đăng lên, để giữ lại làm kỉ niệm riêng”.
Tôi hỏi “một phần trăm nào sẽ bị cắt để không đăng lên ạ?”.
Các cô ấy bảo “cái một phần trăm mà chúng em thích nhất ạ, cho bõ là kỉ niệm riêng!”.
Thế mới biết người ta bây giờ xinh đẹp, nhiệt tình đã đành, lại còn thật là khéo léo.”./.
Bạn bè
Bạn bè,
Những người này, muốn vượt khỏi chính mình.
Bạn bè,
Những người kia, gắng vượt lên chính mình.
Bạn bè,
Những người đó, chung dựng một lâu đài.
Dù chỉ bằng cát,
trên bãi cát,
khi triều xuống,
thênh thang.
|- HHM 1201 -|
|- Gõ phím đầu năm -|
Đón Tết 2012… Và đón Tết Vũ Trụ
Những khoảnh khắc cuối cùng của năm này, 2011, đang lặng lẽ trôi đi. Mấy lời tiễn năm này, kẻo 2011 lại thắc mắc, 2012 lại làm cao.
Dù khiêm tốn đến mấy, bạn cũng đã tham gia rất nhiều chuyện « quan trọng » trong trời đất một năm qua.
Một năm, bạn đã đi được một vòng xung quanh Mặt Trời, nhờ mình vẫn kí sinh trên con tàu Trái Đất.
Nói một năm, thực ra ta nói “một năm Trái Đất”, thời gian để Trái Đất chạy hết được đúng một vòng xung quanh Mặt Trời.
Trong một năm đó thì ánh sáng du ngoạn được khá xa, 9.46 trillion, hay triệu triệu, hay nghìn tỉ cây số (trong điều kiện chân không). Hình dung thế nào? Một giây ánh sáng đi được 299 792 cây số, nghĩa là chỉ mất 1,3 giây để tia sáng tỏa đi từ khuôn mặt chị Hằng (Mặt Trăng) đến mi mắt bạn! Nhưng buổi sáng ngày ra thì tia nắng Mặt Trời lề mề hơn nhiều, phải mất 8,3 phút nó mới đi xong quãng đường từ Mặt Trời đến để đến ra mắt bạn.
“Một năm Vũ Trụ” thì to chuyện. Đó là thời gian để (Hệ) Mặt Trời của chúng ta làm được một vòng quanh trung tâm của Thiên Hà của chúng ta (Milky Way Galaxy). Chúng ta cũng chả phải làm gì, nhưng phải sống đủ lâu để đi hết được một năm này. Năm này dài bằng… 22.5 triệu năm trái đất! Tóm lại là từ khi loài người sinh ra cho đến giờ chúng ta chưa đi được hết một vòng này, và chưa bao giờ được đón Tết Vũ Trụ.
Chuyện to hơn thế nữa… có chứ… nhưng thôi, thế đã, kẻo to quá mức.
—-
Cụ Hinh chúc ai đó trong chúng ta sẽ được đón Tết Vũ Trụ này, nhờ vào một phép may nào đó.
Ví dụ nhờ chịu khó luyện hóa kiếp bền bỉ liên tục chẳng hạn.
Say “why not?”, please!(*)
—-
(*) Cứ nói là có thể lắm đi, đã chết ai?
Chuyện gọi đúng tên
Bản nguyên – HOÀNG Hồng-Minh
Nhiều người hôm nay chán ngán với tình trạng rối loạn về các tên gọi bát nháo ở khắp nơi. Sự rối loạn về tên gọi trong xã hội tất nhiên rất cần được cảnh báo. Ai cũng mong có được các tên gọi giản dị, chính xác nhất trong phạm vi có thể. Ví dụ, nếu một sự cố rất nghiêm trọng xảy ra trong xã hội, mà rồi cuối cùng chỉ có tình trạng « kiểm điểm rút kinh nghiệm của tập thể », thì tình trạng đó cần được gọi là tình trạng « không thể truy cứu được trách nhiệm ». Như thế tình trạng này hẳn sẽ rõ ràng hơn ra, và buộc chúng ta phải tìm cách tháo giải nó.
Câu chuyện mong mỏi hãy cố gắng « gọi đúng tên » sự vật, bất cứ ai cũng có nhu cầu này.
Nói chuyện này, một số người có thói quen hay nối cái nhu cầu « gọi đúng tên » giản dị với một vấn đề lịch sử nổi tiếng hơn nhiều, « thuyết chính danh của Khổng Tử ».
Như thế, chuyện bé bị xé nghe kêu thật to đã đành, mà bản thân câu chuyện lại bị kê lệch đi.
Bản thân ông Khổng Tử quan tâm chính yếu đến chuyện chính trị, đức trị, và đặc biệt là lễ trị, sao cho các xã hội nhiễu nhương thời ông đang sống sẽ trở về lại được khuôn phép như thời nhà Chu lý tưởng của ông. Thời Khổng Tử sống là thời loạn lạc, việc tôi giết vua, con giết cha thường thấy xảy ra.
Nên chuyện « chính danh » của Khổng Tử liên quan chính yếu đến « danh phận » trong xã hội, và ông Khổng Tử nổi tiếng được cũng nhờ ở chỗ đó. Câu nói nổi tiếng của ông về chính danh là lời kêu gọi « quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử », « vua cho ra vua, tôi cho ra tôi, bố cho ra bố, con cho ra con ». Ông hy vọng một khi đã định lại được danh phận đâu ra đấy, lễ nhà Chu sẽ thực hành lại được, và xã hội sẽ vào lại khuôn phép trật tự như xưa.
Về sau này các triều chính Đông Á lại hóa ra mê Khổng giáo, vì « quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử » thì cũng rất có lợi cho tôn ti trật tự một chiều để củng cố các triều chính. Tất thảy được đẩy lên tới cực đoan : “vua xử bề tôi chết, bề tôi không chịu chết là đồ bất trung; bố xử con chết, bề con không chịu chết là đồ bất hiếu”. Không còn bóng dáng của lý tưởng tự do, của quyền làm người, của bay bổng học thuật, văn hóa, nghệ thuật, khoa học.
Nếu ta dùng chữ « chính danh » theo nghĩa đời thường là « gọi đúng tên », thì không việc gì phải phiền huy động cả Khổng Tử tham gia vào đây, vì ai cũng thấy cái nhu cầu thiết thực hàng ngày này rồi. Nhưng không nên và không cần nhầm cái nhu cầu phổ biến này với cái « thuyết chính danh » lịch sử nọ của Khổng Tử.
—-
Còn làm sao « gọi đúng tên» được các sự vật, thì lại là mênh mông.
Tên gọi là một phép gán của một từ vào một đối tượng, và nếu những từ đã tồn tại từ lâu đời thì phép gán này có tính quy ước lịch sử của nó. Tỉ như chúng ta gọi cái thể chế công quyền là « nhà nước », chữ « nhà » trong đây có vấn đề của lịch sử. Các biểu đạt cũng thế, mang nhiều tính quy ước văn hóa lịch sử. Nói « ba cây chụm lại nên hòn núi cao », chữ « cây » ở đây là nghĩa gì vậy ?
Như vậy công việc quan trọng hơn, là trong một lĩnh vực đã xác định, cần xây dựng các khái niệm được định nghĩa rõ ràng về các đối tượng, sao cho các khái niệm này chứa đựng các tri thức mang độ chính xác cao về các đối tượng, rồi xây dựng các lý thuyết hoàn chỉnh từ các khái niệm đó. Để rồi chúng ta có thể làm việc hiệu quả với các khái niệm của các lý thuyết này, mà thước đo tính hữu hiệu của các lý thuyết này là khả năng can thiệp vào thế giới các đối tượng một cách chính xác, hiệu quả, đem lại nhiều ích lợi bền vững cho đời sống.
Một lĩnh vực cọ sát sàn sạt đời sống xã hội của mỗi chúng ta là vấn đề luật pháp. Các khái niệm của luật pháp thì không thể lơ mơ giải nghĩa tùy theo tâm trạng của quan tòa được.
Và câu chuyện « gọi đúng tên » rộng ra cần được hiểu như một quá trình cố gắng tiến lên về năng lực hiểu biết chính xác, phong phú về thế giới tự nhiên, thế giới con người, cùng với việc mở mang những năng lực để quản trị, để sáng tạo đời sống của chúng ta nhiều vui hạnh./.

Phản hồi gần đây