Bạn Cụ Hinh chỉnh dây đàn, hát mấy câu
Vì,
Em cần thấy
Tôi yêu đời.
Mỵ Châu mỉm cười.
-”Chết nha!
Công Sơn kiện Cụ Hinh đấy nha!”.
Bạn Cụ Hinh chỉnh dây đàn, hát mấy câu
Vì,
Em cần thấy
Tôi yêu đời.
Mỵ Châu mỉm cười.
-”Chết nha!
Công Sơn kiện Cụ Hinh đấy nha!”.
Vua xứ Tì sai biên một phong thư đưa cho Cụ Hinh, nhờ cầm sang thăm vua xứ Kì Èo hàng xóm.
Cụ Hinh rẽ đường vào xứ Kì Èo, qua làng này, bản nọ. Xứ Kì Èo độ vài trăm nóc nhà, ăn ở thưa thớt.
Vua xứ Kì Èo nhận phong thư, sai đọc, rồi liền đó mở lễ rượu quả rừng mời Cụ Hinh.
Nhà vua hỏi chuyện.
-”Vào xứ Kì Èo, Cụ Hinh thấy dân chúng ra sao?”
-”Thưa Đức Vua, tôi thấy dân chúng nói năng như lãnh tụ.”
-”Ngươi thấy thế là lạ à?”
-”Vâng, tôi băn khoăn, như thế thì Đức Vua làm sao trị vì được xứ sở ạ?”
-”Đừng lo Cụ Hinh à, họ chỉ giỏi bắt chiếc cái vỏ lời của ta thôi, nhưng ta là siêu lãnh tụ của họ.”
Đã hết giờ thuyết trình, cử tọa vẫn không chịu ra về.
Ai ai cũng hăng hái thắc mắc inh củ tỏi về sự khác biệt giữa tương đối và tuyệt đối liệu có là thật hay không.
—-
Anh La lại phải đăng đàn.
-”Các bạn cứ hiểu như thế này nhé.
Sống là tương đối.
Chết là tuyệt đối.
Rõ cả rồi chứ ạ?”
Cả hội trường lặng đi. Mọi người lục tục buồn rượi ra về. Nhiều người lấy mùi soa ra chấm mắt.
—-
Anh La quay sang thổ lộ với ông Đô, Viện trưởng Viện Trừu Tượng học, “tôi quả là lấy làm tiếc, là đã làm các anh chị em phải buồn đời đến như thế…”
Ông Đô mắt đỏ hoe, không nói năng gì.
Nếu mình say tệ mãi,
Người khác vẫn có thể giúp được mình,
Bằng cách
Quên mình đi.|- HHM 1203 -|
Romeo hỏi Juliet.
- “Em có thể yêu ta chí ít được không?”
Juliet cười chúm chím.
- “Ít thì được. Chí ít thì không.”
- “Sao vậy?”
-” Romeo à, ‘chí ít‘ là một lý tưởng để nhắm tới, để tiến gần tới, mà không bao giờ đạt tới được!”
Anh La hỏi chuyện.
-” Cụ Hinh à, tại sao vẫn còn có người say mê kiêu khoác nhỉ?”
-”Bởi vì người ta vẫn còn hy vọng.”
-”Hy vọng gì ạ?”
-”Hy vọng sẽ còn kiêu khoác được hơn như thế nữa.”
Mỗi lần chàng mèo Abricot đi ngang qua một nhà hàng xóm thì y như rằng cậu chó lực lưỡng nhà này nhảy ra sủa dữ dằn. Chàng Abricot nhảy phắt lên bờ tường, ngồi ngó chú chó sủa hồi lâu, rồi đủng đỉnh đi tiếp men tường về nhà mình.
Không chỉ với Abricot, mà với bất cứ động tĩnh gì, chú chó này cũng nhảy ra sủa lấy sủa để ngay.
—-
Lâu dần, chú chó nọ khi thấy Abricot cũng thưa sủa dần. Gần đây có khi vừa sủa một câu, thấy Abricot ngắm xuống, chú chó cũng vẫy đuôi ngắm lại.
Rồi một hôm, Abricot hỏi vọng xuống.
- “Tôi là Abricot. Thế bạn tên là gì ạ?”
- “Tôi là Hugar.”
- “Tớ nói với bạn một câu nhé.”
- “Ừ, nói đi.”
- “Đừng sủa lăng nhăng làm gì, nên tập những bài nói, những bài hát cho hay, để mà vui cùng bạn bè thì hơn.”
- “Nhưng mà Abricot phải chơi với tớ nhá.”
- “Tất nhiên rồi. Nhưng mà đừng sủa lăng nhăng cả với bất kì ai khác nữa, được không?”
Hugar vẫy đuôi, đầu gật lấy gật để./.
Cụ Hinh lại có dịp ghé thăm xứ Tì bé xíu, mấy mươi nóc nhà.
Nhân lúc trà đàm, vua xứ Tì mời Cụ Hinh xem tờ báo xứ sở, ba tháng ra một lần.
-”Cụ Hinh thấy báo chí xứ ta thế nào?”
-”Sạch sẽ, toàn tin lành.”
-”Thế sao Cụ Hinh lại tủm tỉm vậy?”
-”Thưa Đức Vua, ta mải nghĩ tới cái chuyện người Ănglê có cái tật hay nói ‘bặt tin, lành tin’.
Họ ngây ngô thật! Chả nhẽ mình bặt tin, thì khỏi phải ra tờ lành tin?”
“Xuống mình” để xem mình như mọi như mọi người khác, thì ta vẫn đang loay hoay ngợp ở trong mình.
Bắt đầu thấy được chính mình là một người như mọi người khác, ta bắt đầu tự ngoi vượt lên được lên khỏi chính mình, “lên mình”.
Để làm gì?
Có thể cũng chả để làm gì.
Kết buổi đàm đạo, ông Plato hắng giọng.
-”Những điều ta vừa nói, các ông thực ra đã biết cả rồi. Từ lâu lắm. Từ khi các ông vừa mới sinh ra.”
Một ông loay hoay đứng lên.
-”Vậy, sao ngài lại còn phí công nói lại chúng như thế ạ.”
-”Vì bây giờ, ta muốn ông nhắc lại những điều ta đã bàn luận, để ta nhìn lại xem ta có còn nhớ chúng đúng không?”
-”Dạ, xin lỗi ngài… đúng lúc này thì tôi lại quên phỗng mất hết chúng rồi ạ!”
Bản đầy đủ – HOÀNG Hồng-Minh
Nền văn hóa ý nhị truyền thống của xứ Việt tự bao giờ luôn nhắn nhủ chúng ta chuộng nhìn chếch.
Nhìn chếch có nhiều vẻ đẹp của nó.
Một cô gái nết na thời xưa bao giờ cũng nhìn chếch. Đôi mắt lá dăm càng hợp cho vẻ đẹp này. Rộng hơn nữa, xứ Đông là như thế. « Mắt đi mày đến », « nhãn khứ mi lai » là cách tả vẻ đẹp chênh chếch ý nhị này.
Nhìn thẳng chỉ hợp pháp, nếu là bề trên nhìn bề dưới.
Những người « ngang hạng » nhau, cũng phải tránh nhìn thẳng. Trong nhiều trường hợp việc nhìn thẳng người (có vẻ) ngang hạng hay người (có vẻ) trên hạng được tự động suy dịch ra như sự thách thức, và bạo lực, tinh thần hay vật chất, có thể chỉ vì thế mà được châm ngòi.
Nhìn thẳng đã phức tạp là thế. Khi ra đường bạn cũng phải cẩn thận.
Nói thẳng càng phức tạp hơn, vì bằng chứng rõ ràng hơn.
Khi ta phải bắt đầu câu nói bằng « tôi xin nói thẳng là… » là ta đã phải chấp nhận điều xấu nhất có thể sẽ xảy ra, có thể liên quan đến cả tính mạng. « Nói thẳng » là cùng bất đắc dĩ, cực chẳng đã, chịu hết nổi.
« Nghe thẳng », lại càng khó nữa. Xưa kia nhiều khi bề dưới chưa kịp tâu xong cho hết câu thì đầu bề dưới đã lìa cổ. Đôi khi sau đó bề trên nghĩ lại, cho khâu đầu liền lại thây mà cúng tế tiếc thương cho bề dưới, vì mình trót quá giận mà lỡ tay.
« Viết thẳng » thì bút sa gà chết.
Tóm lại đường vòng được tôn lên thành « Đạo », « Đạo Vòng ». Lời nói nhằm mục đích lớn nhất là quẩn quanh, « cho vừa lòng nhau », và điều này được khắc vào « túi khôn » cho những người tử tế. Kẻ bạo ngược có sức mạnh trong tay thì chỉ việc làm ngược lại như vậy mà thôi.
Cuộc sống sẽ nhẹ đi biết bao nhiêu, nếu « Đạo Thẳng » được mỗi chúng ta và cả xã hội chấp nhận.
Đầu tiên là chúng ta tập nhìn thẳng nhau, cứ ánh mắt mà nhìn. Tập nhìn với đầy thiện cảm, nhưng không nịnh bợ. « Nhìn thẳng nịnh bợ » thì lại còn ở dưới luôn cả tầm của nhìn chếch mất rồi !
Rồi tập nói thẳng. Lời nói đâu có phải là điềm sấm điềm sét gì đâu mà cái « Đạo Vòng » xưa thổi trương cái nói thẳng lên khiếp quá. Cứ nói rõ là « ma chay cưới xin của người cùng công sở, tôi xin phép không tham dự », ai giết được mình ?
Rồi tập nghe thẳng. Ta tự ghi vào máy ghi âm câu “tôi không thích ông, ông tệ lắm”, thỉnh thoảng mình tự bật lên nghe lại, cho nó quen tai mình đi.
Rồi tập viết thẳng, thành bài vở, viết thật thà, rõ ràng, đừng chua ngoa là được. Rồi gửi bài cho báo chí, để họ kiểm duyệt hộ mình. Họ cắt bài, là việc của họ, họ cũng có bao nhiêu mối phải lo vì cái « đạo vòng », nhưng rồi mỗi lần họ sẽ cắt ít dần đi. Nếu mình lúc nào cũng lại chủ động tự cắt bài mình đi nhiều quá rồi, để rồi tòa soạn họ lại phải đoán mãi, rồi lại phải nối các mẩu bài của mình hộ mình, thì khổ ra quá.
Những thứ học và tập này, nên bắt đầu từ trẻ thơ, từ trường lớp mẫu giáo luôn.
Có người sẽ nghị luận : trong đời sống, đường thẳng không phải là con đường ngắn nhất đâu nhé.
Chúng ta hãy xem một câu chuyện “nhỏ”, một câu chuyện “lớn”. Thực ra chúng cũng chẳng khác nhau bao nhiêu.
Câu chuyện thứ nhất, bạn muốn ứng cử con mình vào lớp mẫu giáo tốt (hy vọng rồi ở đó họ sẽ dạy « Đạo Thẳng » nha) ? Bạn phải điều tra như thám tử để biết ra cái hộp đen ra quyết định ở trường lớp đó hoạt động như thế nào, từ điểm A đến điểm Z. Sau đó bạn phải tìm ra người tin tưởng đứng ở A, để trả khoản cảm ơn phí cho nó chạy dần xuống đến tận Z, lúc ấy thì cỗ máy ấy mới cho ra được kết quả.
Đúng thế, đó là con đường vòng hiện đang ngắn nhất, chỉ có điều là « con đường ngắn nhất » đó, nó… dài quá, và đầy trắc trở ! Vậy thì phải có lộ trình để đi tới những con đường sẽ ngắn hơn nữa, và chắc chắn hơn nữa, trong tương lai. “Đạo Thẳng” là nhắm tới làm cho các con đường việc đời ngày càng thẳng hơn, ngày càng ngắn hơn, ngày càng chắc chắn hơn, chứ không phải là để nằm mơ có con đường ngắn nhất ngay lập tức.
Đấy là trường lớp mẫu giáo tư ? Trường lớp tư thì trước hết vẫn phải đảm bảo những yêu cầu tối thiểu chung của nền giáo dục cộng hòa. Và hãy đấu thầu công khai các suất học mẫu giáo đó, cả ngay ở trên Internet. Những ai trả cao nhất ở thời hạn chót thì sẽ có được suất học, tất nhiên có thể có thêm vài điều kiện nào đó như sức khỏe cân lạng. Nhà nước sẽ có luật đánh thuế lũy tiến vào mức đấu thầu đã đạt được của họ để lấy lại được một phần tiền dành cho việc nâng cấp dần các trường lớp mẫu giáo khác.
Đấy là trường lớp mẫu giáo công? Cũng có thể phải có một khoản đóng góp đặc biệt, công khai, cho trường lớp ấy, mà nhà nước cũng đánh thuế lũy tiến được lên đó để lấy tiền kéo hệ thống mẫu giáo chung lên. Phải tiến tới để các thày cô ở đó được trả đồng lương nghiêm chỉnh, đáng ghen tị so với thị trường các trường lớp công. Phải tiến tới để hệ thống tòa án hoạt động hoàn toàn độc lập. Và rồi đưa các tiêu chuẩn tuyển chọn của trường lớp đó ra công khai, cũng trên cả Internet… Vòng chọn lựa cuối cùng mà khó khăn quá thì sẽ có thêm bắt thăm. Còn hễ có lôi thôi thì ngành tòa án có thể vào cuộc.
Chính câu chuyện thứ nhất này lại đòi hỏi câu chuyện khó khác nữa, câu chuyện thứ hai ở đây, là lộ trình cải tạo đồng lương.
Nếu chúng ta cầu mong cải tạo đồng lương một cách « đồng khởi », một lần là xong cho toàn xã hội, tựa như đổi tiền, chắc là không đi đến đâu. Vì nhiều nhu cầu thật và căn bản của bộ máy xã hội sẽ bị « bỏ quên ». Hơn nữa các vị trí khác nhau của cỗ máy xã hội có các thế năng khác nhau cho tiến trình chuyển đổi.
Phải tìm những bước đi thật khoa học, thật đắc địa, thật thiết thực.
Hãy điều tra xã hội học về các thu nhập thật trong xã hội, trước hết trong bộ máy công quyền. Điều tra nghiên cứu này không nhằm làm hại ai, mà để hiểu rõ hơn cái xã hội thật mà chúng ta đang sống, mà ta tưởng như là đã hiểu nó dừ lắm rồi. Những mức thu nhập đó sẽ phản ánh rất nhiều những hiện thực mà chúng ta cứ cố gắng nhắm mắt lại để dối mình.
Đồng lương có mục đích quan trọng là để đền công, để công nhận giá trị công việc của những người đảm đương công việc. Cùng với đó, và có lẽ còn quan trọng hơn, đồng lương là để ràng buộc mạnh mẽ trách nhiệm của những người được trả lương cho những công việc đó. Đừng vội nghĩ đến « bình đẳng », chính cái mơ tưởng đó sẽ càng nuôi dưỡng mạnh mẽ hơn sự bất bình đẳng phình trương trong bóng tối.
Trong bộ máy công quyền, phải bắt đầu lộ trình cải tạo hệ thống tiền lương từ các vị trí then chốt nhất, để ổn định được chắc chắn cái bộ máy đó, bộ máy quan trọng nhất của đời sống.
Ví dụ cần bắt đầu bằng cải cách hệ thống tiền lương cho các quan chức cao cấp nhất, và công khai hóa lương của họ một cách kiểm tra được. Ví dụ cải cách bắt đầu từ lương của cấp thứ trưởng trở lên. Giả dụ lương tháng tương đương của thứ trưởng sẽ là 7000 USD, của bộ trưởng sẽ là 15000 USD, của thủ tướng và của chủ tịch nhà nước sẽ là 30000 USD. Mức lương cao đó cực kì quan trọng : nó chấm dứt việc xã hội phải trả lời vòng vèo về thu nhập, tạo điều kiện cho sự rối loạn trong thu nhập được nảy mầm một cách không thể kiểm soát được. Quan trọng hơn nữa, nó trách nhiệm hóa các nhân sự giữ các vị trí quan trọng : xã hội kí một hợp đồng cao giá với họ, và đòi hỏi cao ở họ. Nó mở những cánh cửa vô hình vốn bị đóng mãi, để cho phép sự kiểm tra công khai về sự trong sạch thu nhập của bộ máy quan trọng nhất của xã hội. Và một điều tưởng như không quan trọng, mà thực ra có lẽ là quan trọng nhất sẽ đến: chính người dân trong xã hội đương đại sẽ biết chấp nhận cái hiện thực hôm nay, thay vì họ thích tự dối chính mình qua những lời huấn chay gây ngủ! Mọi người sẽ học ra cách « nhìn thẳng », chấp nhận dần việc « nhìn thẳng » một cách tự nhiên. Đừng nhầm lẫn người lãnh đạo với công bộc, hai vị trí này có trách nhiệm rất khác nhau trước xã hội, trước luật pháp.
Có thể hình dung sự cải cách này sẽ mở ra tiếp đó đến các vị trí nhạy cảm của bộ máy công quyền: tòa án, ngân hàng, an ninh, lập pháp…
Tiếp đó là đến tầng lớp lao động nghèo nhất: đồng lương tối thiểu phải được cải thiện dần dần theo các đợt sóng, để nó dần trở thành thực sự là nền tảng, là hạ tầng của hệ thống thu nhập xã hội, qua đó mà các quỹ an sinh của toàn thể xã hội được hình thành liên quan đến sức khỏe, trợ cấp thất nghiệp, đào tạo lại, hưu trí, v.v.
Và tầng lớp cần nhẫn nại nhất, có lẽ là tầng lớp trung lưu, các cải cách tiền lương cho họ nằm ở lượt cuối của mỗi đợt sóng cải thiện tiền lương tối thiểu.
Và đến một lúc, tiền lương trong khu vực công cộng và trong khu vực tư nhân sẽ gần như nhau nếu tính về tổng thể phúc lợi của cuộc đời lao động.
—-
Chào xa dần « Đạo Vòng », nghênh đón dần « Đạo Thẳng », chúng ta sẽ thay đổi dần được các đồ đạc trong cái « túi khôn » truyền thống, để nhất định cải thiện được cuộc đời của mình, sao cho đàng hoàng, yên ấm, và vui vẻ./.
Bạn Cụ Hinh
quen biết
nhiều đôi vợ chồng
ta/tây
hay
tây/ta
rất hòa thuận.Cho
đến
khi
họ
bắt đầu
nói được tiếng của nhau.Bạn Cụ Hinh
quen biết
nhiều đôi vợ chồng
ta/ta
hoặc
tây/tây
rất rối rắm.Cho
đến
khi
họ
bắt đầu
không nói được tiếng của nhau.
Xứ Đông xưa mấy ngàn năm văn hiến, mà mãi vẫn không biết chế ra các dấu ngắt nghỉ. Cho nên họ phải dùng thơ thẩn để ngắt câu.
Nhưng lại không biết ngắt khi cần, mà cứ phải theo sát vài thể niêm luật, thể câu sáu câu tám chẳng hạn. Không thế, thì bị thiên hạ cho chết lăn quay ngay.
Bơi ở vũng tù, vất vả là thế.
Vậy nên câu ca xưa cũng rất có thể là thế này :
Yêu nhau
Cởi áo
Cho nhau
Về nhà
Dối mẹ
Rằng
Qua cầu
Gió bay
Cụ Hinh
Những chiếc ôtô khổng lồ đậu ở sân bay chạy được.
Nhưng thừa những chiếc cánh vướng víu.
Bản nguyên đầy đủ – HOÀNG Hồng Minh
Ngày 07 tháng 3 năm 1884, cao ủy vùng Seine (vùng Paris) Eugène René Poubelle ký quyết định về vấn đề lấy rác thải. Quyết định này yêu cầu các chủ nhà phải có, và phải cung cấp cho mỗi người thuê nhà của họ một thùng chứa rác thải gia đình, vào qui củ : “Từ nay, rác thải sẽ được thu thập qua một thùng chứa bằng gỗ, bên trong lót tôn sắt trắng, để không có gì có thể rơi vãi, và nó có thể chứa được tro nóng mà không có nguy cơ gây hỏa hoạn.” Các thùng chứa có kích thước từ 80 đến 120 lít, bản thân nó không được nặng quá 10 kg, có nắp đậy và tay xách, vv.
Sau ba tháng thảo luận, làm việc trong các hội đồng, dù có những sự phản đối, và sau cuộc bỏ phiếu của hội đồng thành phố Paris ngày 22 tháng hai 1884, tờ « Bản tin chính thức » của thành phố Paris ngày 7 tháng 3 năm 1884 đã công bố quyết định mới mang tên “Quy chế lấy rác hộ gia đình”, với chữ ký của Eugène René Poubelle.
Ngay khi bắt đầu quy chế này, việc phân loại các thùng chứa rác đã được xác lập : loại “chung” cho “các rác thải hộ gia đình”, loại « riêng » cho bát đĩa vỡ, thủy tinh, đồ gốm, v.v., và một loại riêng nữa cho các loại vỏ ốc, vỏ hến, vỏ trai…
Rất nhanh chóng, thùng gom rác được người ta gọi là “poubelle” (đọc là « pu-bel »), và từ năm 1890 từ này được đưa vào từ điển.
Kể từ đó việc gom rác được quy chuẩn hóa, vào nề nếp, và dần dần càng được cải tiến thêm lên.
Quy trình này được mở rộng dần đến mọi nhà ở các thành phố, làng xã trên nước Pháp, và rồi được nhân rộng ra cả ở nhiều nước bên ngoài nước Pháp!
Câu chuyện trên đây, các bạn có thể tìm đọc kĩ thêm trên Wikipedia.
—-
Ông Poubelle không phải là một nhà yêu nước vĩ đại, một nhà triết học, nhà tư tưởng, hay nhà tranh đấu xã hội cuồng nhiệt. Ông ấy cũng không để lại những công trình viết chữ lên trời xanh, hay hóa mình thành một tượng đài vĩnh cửu tỏa bóng mát xuống quảng trường.
Ông ấy hóa thân mình vào một cái vật dụng “tầm thường nhất”, thậm chí bị chê khinh, cái “thùng gom rác”, cái poubelle.
Cả một ngành công nghiệp thu gom rác vĩ đại, chuẩn hóa cho xã hội, đã được bắt đầu từ cái ý tưởng bình dị, nhưng không gì lay chuyển nổi đó của ông.
Và cả cái cộng đồng xã hội đã biết bắt lấy cái ý tưởng tổ chức đời sống xã hội cho ra kỉ cương, cho thật thuận lợi đó của ông, để mà đẩy nó lên.
—-
Các nhà hoạt động xã hội, các nhà hoạt động chính trị của xã hội chúng ta hôm nay có thật là nhiều việc phải làm, để đưa một xã hội uột oèo nhà nông nửa đô thị hóa vào qui củ.
Xã hội mong chờ ở họ chắc chắn không phải chỉ những bài diễn văn nóng bỏng sục sôi, mà trước hết những giải pháp thật căn bản cho nền nếp xã hội mới.
Chuyện xa xôi ư? Không. Cần ví dụ ư. Có thể. Trên mọi lĩnh vực.
Xã hội đã quá rộng lớn và mệt mỏi rồi, đặc biệt ở các thành phố lớn đông đúc hàng triệu người, nhưng người ta vẫn quá quen lo sợ với các tập tục ma chay cưới xin cũ kĩ nghịt người như khi xưa ở trong làng. Con người ở thành phố hôm nay không chỉ ở trong một cái làng, mà đã phải ở trong hàng chục cái làng đan chéo nhau : khu phố, họ hàng, công sở, trường học, bạn bè, tổ chức xã hội, v.v… Hãy ra một quyết định : cấm các công chức tham dự ma chay cưới xin trong giờ làm việc! Điều đó sẽ củng cố kỉ cương, mà cũng lại giải phóng chính các công chức khỏi những hủ tục này, qua đó rồi sẽ giải phóng xã hội. Các sự kiện ma chay cưới xin này nhờ đó mà trong đa phần các trường hợp rồi sẽ dần dần được thu nhỏ về bản thân các gia đình hẹp một cách nhanh chóng và thuận lợi hơn rất nhiều.
Tất cả các tên riêng của các địa danh, hãy thảo luận việc viết liền chúng lại, với chữ đầu tiên viết hoa. Và ra luật viết chúng. Hànội, Đànẵng, Sàigòn, Hoàngliênsơn, Mùcăngchải, Đaklak, Đaknông… không có lý do gì không làm được, thuận lợi đủ đường. Hãy nhớ rằng khi chúng ta viết các địa danh này trong các văn bản bằng tiếng nước ngoài, thì chính chúng ta lại đã viết chúng liền lại!
Thảo luận miên man không đi đến đâu, không để làm gì, là thói quen cố hữu của lớp sĩ phu trà dư tửu hậu.
Sau các nghiên cứu đã thảo luận nghiền ngẫm, luật định là công cụ tốt nhất để con người vào việc hiệu quả, chiến thắng được những hủ tục mà chính mình đã phát chán ngấy, nhưng lại vẫn đang sợ sệt co ro trước chúng, chiến thắng được những kẻ rởm chữ câu thời gian trên chiếc ghế quan trường.
Và mỗi công dân chúng ta, hãy sắn lòng đón nhận và cổ vũ những ý tưởng rộng mở và quả cảm, tinh tế và thiết thực, để thành công đời sống của chính chúng ta hôm nay./.