RSS Feed

Đ ư ợ c t h à y

Anh La mở trang báo, chuyện trò.

“Cụ Hinh à, chuyện gặp thày học sự, quan trọng đến đâu nhỉ?”

“Ta nghĩ thế này.

Trong mỗi lĩnh vực hoạt động, gặp được người thày quí giá dẫn đường, người ấy sẽ có thể dẫn đưa bạn lên làm người thày của chính họ được.

Gặp được người thày trung bình dẫn đường, người ấy sẽ có thể đưa bạn lên làm người học trò xuất sắc của chính họ được.

Gặp được người thày ẻo lả dẫn đường, người ấy sẽ có thể đưa bạn lên làm người học trò ẻo lả của toàn thể loài người được.

Anh La tươi cười lỉnh đi pha trà.

D â n c h ủ, d ễ, k h ó

Posted on

Mỵ Châu pha trà.

“Cụ Hinh à, em thấy nhiều xứ họ cứ thập thò ở bậu cửa dân chủ, bước ra, bước lui, mãi không qua bậu cửa ấy. Dân chủ là cái gì, mà khó khăn thế ạ?”

“Dân chủ, như một mong muốn lờ mờ, ‘dân chủ cho tôi’, thì dễ dàng như một cảm xúc. Dân chủ, như một thiết kế và thi công một tổ chức đời sống xã hội, thì rất khó khăn.”

“Khó khăn như thế nào ạ?”

“Ngoài những khó khăn tự nhiên vì các lợi ích, các quyền lực sẵn có, trước hết đó là khó khăn của hiểu biết, của văn hóa trên diện toàn cộng đồng. Dân chủ là một thứ nhu cầu về một cách thức tổ chức đời sống của cộng đồng, sao cho sự tự do của con người, của từng cá thể và của các hội đoàn, được đảm bảo nhất, mà lại khai mở sự phát triển vừa đa dạng, vừa nhân văn. Cho nên, bản chất của nhu cầu về dân chủ, về tự do là một thứ nhu cầu trừu tượng.”

“Trừu tượng, tức là nhu cầu không thật, theo kiểu sờ mó được ạ?”

“Thứ nhu cầu sờ mó được, là một loại sự thật.

Và thứ nhu cầu trừu tượng, cũng là sự thật, mà nó không có sẵn ở trong giới tự nhiên, như ở loài vật chẳng hạn.

Nếu con người và những cộng đồng của họ chưa có những nhu cầu trừu tượng, thì chưa có những giải pháp cho chúng.

Kìa Mỵ Châu! Nước trà sánh hết ra bàn rồi kìa!”

N ó i t r ư ớ c, n g h ĩ s a u

Posted on

Mỵ Châu hỏi.

“Nói trước, nghĩ sau, có nên không ạ?”

“Có lúc cũng nên.”

“Ơ, Cụ Hinh mà lại bảo ‘cũng nên’ nhé!”

“Chứ sao.”

“Sao, là thế nào ạ?”

“Nói, nhiều khi là để tống bớt chữ trong đầu ra. Khi chữ đầy chặt cứng đầu, thì người ta không nghĩ được nữa, nên phải mở đường cho chúng thoát ra, rồi thì mới nghĩ lại được tiếp.”

“À… mà có khi như thế, nhỉ… thảo nào, em thấy có nhiều người chắc là rất giỏi, rất lắm chữ, nhưng mà họ cứ phải nói trước đã, rồi nghĩ sau. Em cảm ơn Cụ Hinh nhé.”

C h ợ c h ữ

I.

Cụ Hinh đi lạc vào chợ chữ. Các thày mời đon đả «bác mua chữ giúp đi ạ ».

Đáp công người ta mời hoài, Cụ Hinh thăm hỏi.

« Chào các bác, chẳng hay chữ nào đắt, chữ nào rẻ.»

« Chữ nào cũng như nhau thôi ạ. Đây, hai chữ người ta mua nhiều nhất, ‘nhẫn’ đây, ‘nhàn’ đây, cùng một giá ạ. »

« Sao như có hai chữ nằm quảnh ở góc kia lại có giá bằng chỉ bằng một chữ thường? »

« Dạ, đấy là hai chữ ‘tác’, và ‘tộ’, khó phân biệt nhau, nên bán hai chữ kèm nhau rẻ như một chữ ạ.”

II.

Cụ Hinh hỏi.

« Thày có vẽ giúp được chữ ‘nhi-nhô’ không? »

« Dạ, nhà chỉ quen bắt chước vẽ theo lại những chữ mẫu hay sẵn có rồi, chứ chữ ‘nhi-nhô’ thì không thấy có mẫu, nhà không biết vẽ nó ra sao đâu ạ.”

Nắng Xuân

Xuân chưa đến. Nhưng đã bồi hồi, thập thò khung cửa trời.

Xuân chưa đến, mà Nắng Xuân đã ngấp nghé. Một thứ nắng thật vô cùng nhẹ bâng, trong veo, xa xăm, mời gọi.

Bầu trời như trái bóng lớn được thổi căng dần, nhúc nhích, cựa mình, đòi nào bay lên.

Rừng cây mỏng tang, khoe thân, vươn cành, chưa bị những búp những lá những hoa tô điểm nặng nề chín chắn.

Những thân cành bạch dương rực cả lên, chói sáng hơn cả ánh nắng Mặt Trời.

DSC08543

#Ảnh HHM

Vài chú chim sớm ra rụt rè thử giọng, nhưng còn kiệm kẽ.

Mấy chú cá ngượng ngùng quẫy mình sâu trong làn nước còn quá trong veo.

Vệt mây mỏng mảnh, tít mãi trên cao, đang vẽ nên cái hình ý gì, thoảng như là tất cả, tất cả, vẫn còn đó.

“Tình đời ngây dài dại
Lần lại, nhẻn nhen lên”

Đ ồ n t i n

Mỵ Châu hỏi « Cụ Hinh à, có công nghệ để đồn tin không ạ? »

« Có chứ, nhiều. »

« Ví dụ ạ? »

« Mỵ Châu chịu khó đào một cái hố thật sâu, ở nơi không có một ai.

Rồi trèo xuống đó, nói ra điều không nhịn được.

Rồi trèo lên, lấp lại hố.

Thế là xong. »

Bạo lực có dập tắt được tiếng cười?

Nguyễn Vĩnh Nguyên

Chính khả năng lột trần sự thật của tiếng cười khiến cho những kẻ hài hước trong một thế giới bạo lực phải chịu nhiều rủi ro, hy sinh. Và trong tình thế đầy thách thức đó, khi con người ta còn cười được, nghĩa là còn khí chất, dũng cảm, còn tham vọng đạp đổ sự ấu trĩ để lương tri con người trong sạch hơn, thế giới được lành mạnh hơn.

Tòa soạn tờ tạp chí cười Charlie Hebdo ở Paris vừa bị tấn công. 12 người, trong đó có 10 nhà báo, nhà biếm họa nổi tiếng của tờ tạp chí này bị sát hại.

Ngay sau vụ thảm sát, Thủ tướng Đức Angela Merkel nói về vụ khủng bố: “Không thể biện minh. Hành động man rợ này không chỉ lấy đi sinh mạng của những công dân Pháp, mà còn tấn công đời sống báo chí và tự do ngôn luận – nền tảng của tự do dân chủ.”

Hành động khủng bố trên được cho là do lực lượng Hồi giáo cực đoan gây ra, sau vài lần (vào các năm 2006, 2011 và 2012) báo Charlie Hebdo cho đăng tải tranh biếm họa tiên tri Mohammed và từng bị thế giới Hồi giáo hăm dọa trả thù.

Ngoài chuyện triệt tiêu tự do ngôn luận, thì sự việc trên cũng đặt ra câu hỏi, phải chăng trong thế giới bạo lực này, đã đến lúc tiếng cười bị nguyền rủa? Và một khi tiếng cười bị xem là thù địch, tiếng cười phải trả giá bằng sinh mệnh con người, thì còn ai dám cười, dù biết, cho cùng, cười cũng là cách xác đáng để soi tỏ những sự thật khó cười nổi?

Mới đây, bộ phim hài The interview của hai đạo diễn Seth Rogen và Evan Goldberg (do hãng Sony Pictures Entertainment sản xuất) cũng đang gây ra tranh cãi. Thậm chí, The interview là nguyên nhân của những đợt tấn công mạng từ Triều Tiên nhằm vào nhà sản xuất, khi tác phẩm có màu sắc “siêu tưởng” này dám giễu cợt nhà lãnh đạo một quốc gia chuyên chế, về giá trị nghệ thuật của bộ phim thì để giới chuyên môn giải phẫu, vấn đề là cái nhảm, cái hài của nó lôi cuốn người ta đến rạp, cốt để xem những nhà làm phim trào lộng ra làm sao.

Không phủ định được điều này: công chúng hôm nay có nhu cầu được cười.

Hai câu chuyện trên cũng gợi nhớ đến Salman Rusdie, nhà văn Anh gốc Ấn, sau cuốn The Satanic Verses (Những vần thơ của Satan, năm 1988) từng bị giáo chủ Ayatollah Khomeini kết án tử hình chỉ vì hướng sự trào lộng vào thế giới Hồi giáo. Kết quả là Salman Rushdie phải sống ẩn dật trong vòng 10 năm. Nhiều năm sau, khi đã có độ lùi với cái sự việc mà nhà văn cho là “phủ bóng tối xuống sự nghiệp” của mình, trong cuộc trả lời phỏng vấn với nhà báo Lévai Balázs, Rusdie nói: “Sự hài hước hay trào lộng là khả năng giúp chúng ta coi nhẹ mọi việc. Nếu chúng ta quá coi trọng bản thân, thì ta sẽ không mấy khi cười. Người tự coi mình quá nghiêm chỉnh sẽ chẳng bao giờ cười. Và tôi coi đây là điều rất quan trọng, vì thế mà tôi luôn luôn đối nghịch với những người coi mình quá nghiêm chỉnh. Chính sự hài hước, trào lộng đã giúp tôi hiểu sự xung đột. Thực chất đó không chỉ là chuyện cuốn sách của tôi. Ta hãy xem điều gì thường xảy ra khi văn học và quyền lực đối đầu, lúc đó thường sinh ra trào phúng và giễu cợt, trong trường hợp nhất định, nó xúc phạm người ta còn hơn cả sự phê phán nghiêm túc, như cách người ta dễ bị kích thích bởi một vở hài kịch.”1

Chính khả năng lột trần sự thật của tiếng cười khiến cho những kẻ hài hước trong một thế giới bạo lực phải chịu nhiều rủi ro, hy sinh. Và trong tình thế đầy thách thức đó, khi con người ta còn cười được, nghĩa là còn khí chất, dũng cảm, còn tham vọng đạp đổ sự ấu trĩ để lương tri con người trong sạch hơn, thế giới được lành mạnh hơn.

Tiếng cười, dĩ nhiên, ngoài chức năng giải trí và khuây khỏa muôn thuở, nó còn hướng đến một sự thanh lọc. Sự hài hước kích thích sáng tạo và giúp người ta vượt qua nỗi sợ hãi. Nhà văn Mỹ Kurt Vonnegut, trong cuốn hồi ký Người không quê hương2, đã viết: “Tiếng cười là một phản ứng gần như bản năng của cơ thể trước nỗi sợ hãi”, “Rất nhiều tiếng cười phát sinh từ nỗi sợ”. Chính cách biết cười để trước những thực tế “không cười nổi” như bạo lực dã man, như chuyên chế ấu trĩ ấu trĩ lộng hành vô phương cứu chữa mà con người mới mạnh mẽ, kinh qua nhiều u ám, bất an vây bủa.

Chính vậy mà triết gia Friedrich Nietzsche đã tuyên bố “phong thánh cho tiếng cười”.

Sau những màn cắt cổ nhà báo dã man làm rúng động thế giới truyền thông năm qua nhằm đàn áp ngôn luận, thì đến lúc, phe bạo lực cực đoan đã ra đòn khủng bố mạnh mẽ nhằm vào tiếng cười. Pháp, nơi tiếng cười, chất u mặc (humour: hài hước, dí dỏm, trào phúng, châm biếm…) được tôn trọng, đề cao và coi như một thuộc tính quan trọng làm nên văn hóa đã là nơi gánh chịu tai ương đầu tiên. Trong một phóng sự ngắn phát trên truyền hình, một cụ bà người Pháp đã đến trước tòa soạn Charlie Hebdo để đốt nến tưởng niệm những nhà báo, họa sĩ xấu số. Cụ nói với phóng viên truyền hình rằng: “Bọn khủng bố đã giết chết một phần tinh thần Pháp”.

Nhưng liệu hậu Charlie Hebdo, nước Pháp nói riêng hay thế giới nói chung, có còn sự hiện hữu của tiếng cười?

Chắc chắn không bao lực nào dập tắt được tiếng cười, một khi đó là một thứ liệu pháp, một kháng thể tinh thần để giúp con người dám sống, sống bản lĩnh và sống trọn vẹn trong thế giới đương đại đầy rẫy những tai ương. Có khi ngay cả cái việc người ta dùng bạo lực để trấn áp hay cố tình hủy diệt tiếng cười lại là nguồn cảm hứng cho những kẻ biết cười để… quên chết!

1Lévai Balázs, Thế giới là một cuốn sách mở, Gíap Văn Chung dịch, Nhã nam & NXB Văn học, 2010.

2Kurt Vonnegut, Người không quê hương, Nguyễn Khánh Toàn dịch, Nhã Nam & NXB Thông Tấn, 2011.

Nguồn: http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=115&News=8311&CategoryID=41

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 112 other followers