Dòng thông tin RSS

Lưu trữ theo thẻ: Lề thói

Thôi sủa học

Mỗi lần chàng mèo Abricot đi ngang qua một nhà hàng xóm thì y như rằng cậu chó lực lưỡng nhà này nhảy ra sủa dữ dằn. Chàng Abricot nhảy phắt lên bờ tường, ngồi ngó chú chó sủa hồi lâu, rồi đủng đỉnh đi tiếp men tường về nhà mình.

Không chỉ với Abricot, mà với bất cứ động tĩnh gì, chú chó này cũng nhảy ra sủa lấy sủa để ngay.

—-

Lâu dần, chú chó nọ khi thấy Abricot cũng thưa sủa dần. Gần đây có khi vừa sủa một câu, thấy Abricot ngắm xuống, chú chó cũng vẫy đuôi ngắm lại.

Rồi một hôm, Abricot hỏi vọng xuống.

- “Tôi là Abricot. Thế bạn tên là gì ạ?”

- “Tôi là Hugar.”

- “Tớ nói với bạn một câu nhé.”

- “Ừ, nói đi.”

- “Đừng sủa lăng nhăng làm gì, nên tập những bài nói, những bài hát cho hay, để mà vui cùng bạn bè thì hơn.”

- “Nhưng mà Abricot phải chơi với tớ nhá.”

- “Tất nhiên rồi. Nhưng mà đừng sủa lăng nhăng cả với bất kì ai khác nữa, được không?”

Hugar vẫy đuôi, đầu gật lấy gật để./.

Sức mạnh của ý tưởng định chế xã hội

Posted on

Bản nguyên đầy đủ – HOÀNG Hồng Minh

Ngày 07 tháng 3 năm 1884, cao ủy vùng Seine (vùng Paris) Eugène René Poubelle ký quyết định về vấn đề lấy rác thải. Quyết định này yêu cầu các chủ nhà phải có, và phải cung cấp cho mỗi người thuê nhà của họ một thùng chứa rác thải gia đình, vào qui củ : “Từ nay, rác thải sẽ được thu thập qua một thùng chứa bằng gỗ, bên trong lót tôn sắt trắng, để không có gì có thể rơi vãi, và nó có thể chứa được tro nóng mà không có nguy cơ gây hỏa hoạn.” Các thùng chứa có kích thước từ 80 đến 120 lít, bản thân nó không được nặng quá 10 kg, có nắp đậy và tay xách, vv.

Sau ba tháng thảo luận, làm việc trong các hội đồng, dù có những sự phản đối, và sau cuộc bỏ phiếu của hội đồng thành phố Paris ngày 22 tháng hai 1884, tờ « Bản tin chính thức » của thành phố Paris ngày 7 tháng 3 năm 1884 đã công bố quyết định mới mang tên “Quy chế lấy rác hộ gia đình”, với chữ ký của Eugène René Poubelle.

Ngay khi bắt đầu quy chế này, việc phân loại các thùng chứa rác đã được xác lập : loại “chung” cho “các rác thải hộ gia đình”, loại « riêng » cho bát đĩa vỡ, thủy tinh, đồ gốm, v.v., và một loại riêng nữa cho các loại vỏ ốc, vỏ hến, vỏ trai…

Rất nhanh chóng, thùng gom rác được người ta gọi là “poubelle” (đọc là « pu-bel »), và từ năm 1890 từ này được đưa vào từ điển.

Kể từ đó việc gom rác được quy chuẩn hóa, vào nề nếp, và dần dần càng được cải tiến thêm lên.

Quy trình này được mở rộng dần đến mọi nhà ở các thành phố, làng xã trên nước Pháp, và rồi được nhân rộng ra cả ở nhiều nước bên ngoài nước Pháp!

Câu chuyện trên đây, các bạn có thể tìm đọc kĩ thêm trên Wikipedia.

—-

Ông Poubelle không phải là một nhà yêu nước vĩ đại, một nhà triết học, nhà tư tưởng, hay nhà tranh đấu xã hội cuồng nhiệt. Ông ấy cũng không để lại những công trình viết chữ lên trời xanh, hay hóa mình thành một tượng đài vĩnh cửu tỏa bóng mát xuống quảng trường.

Ông ấy hóa thân mình vào một cái vật dụng “tầm thường nhất”, thậm chí bị chê khinh, cái “thùng gom rác”, cái poubelle.

Cả một ngành công nghiệp thu gom rác vĩ đại, chuẩn hóa cho xã hội, đã được bắt đầu từ cái ý tưởng bình dị, nhưng không gì lay chuyển nổi đó của ông.

Và cả cái cộng đồng xã hội đã biết bắt lấy cái ý tưởng tổ chức đời sống xã hội cho ra kỉ cương, cho thật thuận lợi đó của ông, để mà đẩy nó lên.

—-

Các nhà hoạt động xã hội, các nhà hoạt động chính trị của xã hội chúng ta hôm nay có thật là nhiều việc phải làm, để đưa một xã hội uột oèo nhà nông nửa đô thị hóa vào qui củ.

Xã hội mong chờ ở họ chắc chắn không phải chỉ những bài diễn văn nóng bỏng sục sôi, mà trước hết những giải pháp thật căn bản cho nền nếp xã hội mới.

Chuyện xa xôi ư? Không. Cần ví dụ ư. Có thể. Trên mọi lĩnh vực.

Xã hội đã quá rộng lớn và mệt mỏi rồi, đặc biệt ở các thành phố lớn đông đúc hàng triệu người, nhưng người ta vẫn quá quen lo sợ với các tập tục ma chay cưới xin cũ kĩ nghịt người như khi xưa ở trong làng. Con người ở thành phố hôm nay không chỉ ở trong một cái làng, mà đã phải ở trong hàng chục cái làng đan chéo nhau : khu phố, họ hàng, công sở, trường học, bạn bè, tổ chức xã hội, v.v… Hãy ra một quyết định : cấm các công chức tham dự ma chay cưới xin trong giờ làm việc! Điều đó sẽ củng cố kỉ cương, mà cũng lại giải phóng chính các công chức khỏi những hủ tục này, qua đó rồi sẽ giải phóng xã hội. Các sự kiện ma chay cưới xin này nhờ đó mà trong đa phần các trường hợp rồi sẽ dần dần được thu nhỏ về bản thân các gia đình hẹp một cách nhanh chóng và thuận lợi hơn rất nhiều.

Tất cả các tên riêng của các địa danh, hãy thảo luận việc viết liền chúng lại, với chữ đầu tiên viết hoa. Và ra luật viết chúng. Hànội, Đànẵng, Sàigòn, Hoàngliênsơn, Mùcăngchải, Đaklak, Đaknông… không có lý do gì không làm được, thuận lợi đủ đường. Hãy nhớ rằng khi chúng ta viết các địa danh này trong các văn bản bằng tiếng nước ngoài, thì chính chúng ta lại đã viết chúng liền lại!

Thảo luận miên man không đi đến đâu, không để làm gì, là thói quen cố hữu của lớp sĩ phu trà dư tửu hậu.

Sau các nghiên cứu đã thảo luận nghiền ngẫm, luật định là công cụ tốt nhất để con người vào việc hiệu quả, chiến thắng được những hủ tục mà chính mình đã phát chán ngấy, nhưng lại vẫn đang sợ sệt co ro trước chúng, chiến thắng được những kẻ rởm chữ câu thời gian trên chiếc ghế quan trường.

Và mỗi công dân chúng ta, hãy sắn lòng đón nhận và cổ vũ những ý tưởng rộng mở và quả cảm, tinh tế và thiết thực, để thành công đời sống của chính chúng ta hôm nay./.

Tuổi Trẻ

« Chủ nghĩa đanh đá »


Bạn Cụ Hinh từng được sống trong những làng Việt xưa.

Thời ấy người nổi tiếng nhất làng bao giờ cũng là người đàn bà chua ngoa đanh đá nhất. Từ các vị chức sắc trong làng, cho đến lũ trẻ con, ai có việc phải đi ngang qua nhà người đàn bà này đều bỗng nhiên ngoan ngoãn hẳn ra, bước đi khép nép, dẹp hẳn sang phía kia của đường làng. “Phía kia” cũng chỉ cách “phía này” được thêm mấy chục phân trên cái đường làng ngoằn ngoèo bé tí.

Đời sống nghèo khổ dốt nát, chỉ còn có cái đanh đá để mà tự vệ, để cho thiên hạ biết tay khi cần, và cả khi mình bỗng « điên lên »!

Đanh đá để tự vệ. Ảnh minh họa

Sự đanh đá của những người đàn bà trong làng đều được xếp hạng cả, gặp nhau là biết trên hạng dưới hạng của nhau rồi, để mà lảng hay lấn, trừ một số người ngang cân lạng nhau thì cứ gườm căng chỉ chực nổ cuộc thi đấu. Trong làng tìm được người đàn bà hoàn toàn hiền thục, khó. Sống ở đời, tương đối thôi, kẻo rồi ở không.

Cái “được” ở sự đanh đá của người đàn bà trong làng xưa, là nhìn chung họ chân thật, họ bày sự chua ngoa đanh đá ra đấy. Không mấy người trong họ được đi học. Họ không có chữ.

Đàn ông xưa ở quê thường hiền hơn, nhưng cục, ít thể hiện ra hơn sự chua ngoa đanh đá. Cái chua ngoa đanh đá nay đã được nén lại vào trong, trở thành cái « cục ». Họ có cái « cục » để tự vệ rồi. Đừng tưởng cứ lấn họ được mãi.

Rắc rối nhất là số ít đàn ông được học ít chữ, vẽ được chữ vuông.

Nhiều vị trong số này mực thước ôn tồn, lo dạy học, lo bắt thuốc giúp người, để mà kiếm sống.  Cái năng lượng vô tổ chức của « chua ngoa đanh đá » vốn có ở họ đã được cải hóa, thuần hóa, để thành công ra một năng lực mới.

Nhiều vị khác trong số này thì lý sự kinh thiên, động địa. Vừa khó hiểu, vừa loăng quăng. Lý luận ngút ngàn với nhau xem « trời có đầu không » chẳng hạn, dẫn cả « ngũ kinh » ra bày trận. Lời nói của họ phải được mài thật sắc, múa lên phải như gươm dao lướt dưới trăng, phải chém được đầu này, phải xé được trời kia… Hết mấy chén rượu và mấy đường thuốc lào, thì mình phải cưỡi được ngựa lên trời xanh, để lại đám thua cuộc hạ đẳng tội nghiệp ngơ ngác ở tít mãi dưới kia.

Sau này bạn Cụ Hinh hiểu ra, đó lại là cái cách để sự chua ngoa đanh đá giấu mặt ở bên trong đám đàn ông lý sự kinh thiên động địa đó có được cái cơ hội mà chui ra. Họ thực ra cũng vô tư thôi, đâu có để ý lẽ đó.

Trong muôn hình chuyển hóa và tiến hóa của cái năng lượng chua ngoa đanh đá ở trong ta, chỉ có cái vô tư cuối cùng này mới kết tinh lên được thứ tinh chất của chính nó. Gọi chữ cho oai hôm nay, đó là “chủ nghĩa đanh đá”.

./.

HOÀNG Hồng-Minh – bee.net

Chuyện với Thượng Đế về Badakethutanha và Ladaboda

Thượng Đế của bạn

Đa phần chúng ta thường cho rằng việc chuyện trò với Thượng Đế, cũng gọi là Trời, là rất khó khăn. Ví như thời xưa người ta phải xem ngày đặt tháng, dựng đàn tế lễ. Rồi dăm ngày trước khi tiến hành làm lễ tế thì phải ăn chay tắm gội, nhịn nín làm tình … Chủ lễ tế khi lên đàn cầu phù sẽ phải xõa tóc, phải chân đất, phải ngất ngây… Xem ra rất phức tạp. Vụ này phải rối tinh lên như một màn ảo thuật. Nếu không một ai hiểu gì nữa, kể cả chủ tế, thì cuộc chuyện trò này với Trời được coi như là thành công.

Rút cục sau đó, công việc không được kết thành, thì là do Trời chưa cho, được kết thành, thì là do Trời thuận giúp. Hồi đó khi được việc thì người ta chưa quen nhận tranh hết của Trời, rằng đó chỉ là do riêng cái thiên tài của mình thôi. Điều quan trọng nhất là việc này đã được giao tế với Trời rồi, thôi nhé, đừng ai dám bàn dám cãi gì thêm nữa về nó!

Nhưng thực ra mỗi chúng ta vẫn luôn luôn chuyện trò với Thượng Đế của mình! Khi suy nghĩ, bạn phải vật lộn giữa cái đã biết và cái chưa biết, tuy nhiên ta nên miễn trừ chuyện này cho các nhà tuyên huấn chuyên nghiệp. Với mỗi việc, ở mỗi thời điểm, một khi bạn đã nghĩ kĩ rồi, đã nghĩ hết rồi, không còn nghĩ thêm được gì nữa rồi, lúc đó là lúc bạn tạm bàn giao, ủy thác việc nghĩ đó cho Thượng Đế của bạn nghĩ tiếp hộ bạn. Về tài năng, cái bạn đã biết, là chính bạn, cái bạn chưa biết, ta kí hiệu đó là Thượng Đế của bạn.

Thượng Đế như vậy sẽ không trừu tượng, mà luôn luôn là Thượng Đế của một người xác định ở một thời điểm xác định. Chuyện trò với Thượng Đế, đơn giản chỉ là thế thôi, là chính quá trình suy nghĩ, đối mặt với làn ranh giữa sự hiểu biết và không hiểu biết của mình, để tìm cách vượt thêm lên. Nhờ chuyện trò siêng năng với Thượng Đế của mình, bạn đẩy thêm lên được các nấc tài năng của bạn.

Bây giờ ta hình dung cái thang đo tài năng về hiểu biết như một dãy số tự nhiên N {0, 1, 2,…n…}, và tài năng của một người ở trong một lĩnh vực ở một thời điểm là n, khi đó (tài năng của) Thượng Đế của người đó ở trong lĩnh vực đó ở thời điểm đó sẽ là n+1. Vậy bạn càng tài năng, Thượng Đế của bạn cũng lại càng tài năng hơn. Và như thế, xem tài năng của Thượng Đế của một người, tức là xem cái mà họ tôn sùng, cái lý tưởng đích thực của họ, thì ta cũng khắc hình dung ra được cái tài năng của chính người ấy. Mượn lại chữ nhà Phật hay dùng cho sinh động, ta gọi tài năng của bạn là « ngộ », ngay sau ngộ thì là Thượng Đế của bạn, ta gọi là « nghi ». Nghi lớn nhờ ngộ lớn, ngộ lớn thì nghi lớn. Ta có công thức sau (cho oai), nghi = ngộ + 1, hay nghi = siêu(ngộ), với siêu là một toán tử để chỉ nấc tài năng liền sau một nấc của tham số tài năng, ở đây là ngộ. ;-)

Về hình ảnh thống kê, ta có thể hình dung mỗi cộng đồng xã hội ở một lĩnh vực và trong một thời điểm cũng có được một cái nấc tài năng xác định và cái Thượng Đế kế đó của mình.

Badakethutanha tự nhiên

Vừa xoẳn trước khi có con người, HST («Hệ Sinh Thái») trên trái đất này thực sự đạt tới một chu trình sinh thái hoàn thiện. Trong HST, vật chất, vi khuẩn, thực vật, động vật … nằm trong một chu trình kín tổng thể tự cân bằng được, tự tái sinh được. Tất cả các chất thải hữu cơ đều tự phân giải tự nhiên được trong chu trình này, không có “ô nhiễm chất thải đời sống”, « rác rưởi đời sống » không tái sinh được tự nhiên trong HST.

Xem một bộ phim tài liệu về đời sống của HST ở Bắc cực, ở Nam cực, hay ở một khu rừng nguyên sinh bát ngát nào đó còn sót lại ở châu Phi hay ở Nam Mỹ, bạn sẽ thấy ngay rằng Thượng Đế thật là vĩ đại, vì bạn chả có thể chê trách được điều gì nữa. Bạn ngồi đó chiêm ngưỡng, và chấm hết. Chu trình này của HST được gọi tên là « Badakethutanha », có bắt đầu, và có kết thúc, và cái kết thúc ở đây cho phép khởi động trở lại cái bắt đầu, tạo nên chu trình sinh thái tự tái sinh hoàn chỉnh.

Ladaboda

Bây giờ bạn bật lại bộ phim đi, và ngắm thật kĩ thêm nhé. Hình như cũng có một chút vấn đề tiềm năng gì đó.

Mấy con sên tham ăn cái búp non cho kì cùng, có khi cả cái cây non chết nẫu.

Mấy con sư tử xẻ thịt được con hươu, ăn một phần, rồi bỏ vương bỏ vất đấy.

Mấy con khỉ rung cành rụng cả đống quả, ăn được vài quả, rồi bỏ đi.

Chúng hoạt động theo cái sở năng gì vậy ?

Cái sở năng này được gọi là “Ladaboda”, một sở năng tự nhiên, sở năng hoạt động bỏ lửng, theo nguyên tắc “tiết kiệm năng lượng” cho mỗi sinh thể. May thay, các hoạt động của các sinh thể này của HST có thể bị bỏ lửng mà không gây ra những nguy hại căn bản nào cho bản thân chu trình sinh thái tổng thể của HST.

Tại sao ? Bởi vì HST có công năng «Badakethutanha », chu trình kín tổng thể tự cân bằng, tự tái sinh được. Chính Badakethutanha đã giải quyết mọi hậu quả hộ các sinh thể trong HST một cách rất tự nhiên, mà chính các sinh thể kia không cần phải biết đến. Và do đó « Ladaboda » chưa trở thành một vấn đề thực sự của HST.

Homo sapiens sapiens, Badakethutanha và Ladaboda

HST tiếp tục quá trình tiến hóa của mình. Và rồi đến một ngày, HST sản sinh ra homo sapiens sapiens, “con người tinh khôn ”. Con người ra đời, có thể rằng đó là niềm tự hào lớn nhất của HST : sản sinh ra được một sinh thể có khả năng ý thức được về chính HST…

Buổi đầu, con người cộng sinh hiền lành trong HST, giống như mọi sinh thể khác, trong một chu trình kín tổng thể tự cân bằng được, tự tái sinh được. Nếu bạn cất công đi vào được những bản làng thật sâu thật xa ở Tây Nguyên chẳng hạn, bạn có lẽ vẫn còn thấy được sự cộng sinh hiền hòa này của đồng bào mình trong HST.

Điều bất ngờ cho HST là cái sở năng “Ladaboda” đã bộc lộ ra những hiệu ứng rất khác thường một khi con người phát triển đến đời sống công nghệ hiện đại.

Từ vài trăm năm trở lại gần đây, từ khi mà loài người trở nên « tinh vi công nghệ » và đông đúc hơn lên vượt bậc, cái sở năng “Ladaboda”, vốn chỉ như là một vấn đề tiềm tàng ở các sinh thể, đã bộc lộ ra cái sở đoản khủng khiếp của mình.

Vào đời sống công nghệ hiện đại của con người, « Ladaboda » được kích hoạt thành quy trình « hễ có cái gì được bày ra là không biết bao giờ mới thanh toán nổi chúng đi nữa ».

 

Xưa kia ông Héraclite từng nổi tiếng với câu nói “người ta không thể tắm được hai lần ở một dòng sông“. Tôi đã tưởng ông này đã đạt đến cái suy tư cùng cực cho bõ cái khổ công phải làm một nhà triết học.

Chỉ có hơn một chục năm trở lại đây thôi, vậy mà hầu hết các con sông ở xứ ta đã không thể xuống tắm được nữa rồi, thành ra hầu như “người ta không thể tắm nổi được một lần ở một dòng sông“ xứ ta! Tất nhiên bây giờ nếu ta bỏ ra một khoản tiền thưởng lớn bất ngờ ngất trời ngây đất cho những người tham dự, thì có khi ta vẫn có thể sẽ tổ chức được một hội thi toàn quốc bơi vượt sông Tô Lịch, để cho ông Héraclite thức dậy ngắm xem.

Tại sao vậy ? Bởi vì con người ở ta biết bày ra cái cống, cái vốn không tồn tại trong HST, một cái « bắt đầu », mà không đưa đến được một cái « kết thúc » để rồi « tái nhập » trở lại được vào HST. Họ đinh ninh rằng cái cống cũng đã là con sông. Cái này thì rõ ràng là ông Héraclite chưa biết nghĩ tới.

Con người phát minh ra cái cống, tức là họ đã đẻ ra một cái « bắt đầu », để chuyển tải đi cái nước sạch của HST đã bị sử dụng và bị làm bẩn độc về môi sinh, do sinh hoạt của đời sống công nghệ của mình. Với cái cơ chế hoạt động của cái sở năng « Ladaboda » trong mình, « hoạt động bỏ lửng, tiết kiệm năng lượng, kể cả tiết kiệm tư duy», con người đã tống thẳng cái nước thải ở cái cống đó vào con sông, từng bước biến con sông thành cái cống. Con sông Tô Lịch là đỉnh cao đã hoàn thành của quy trình cống hóa do sở năng « Ladaboda » được triển khai hoàn chỉnh ở con người công nghệ hóa dở dang.

Vậy thì con người phải vượt qua được cái hạn chế tự nhiên của cái sở năng  « Ladaboda » của mình, để cái nước thải ở cái cống phải được giải quyết đến cùng, để nước thải ở đó phải được xử lý lại, sao cho nó phải đạt được tiêu chuẩn sạch của nước sông, và chỉ đến lúc đó thôi, thì cái nước rời cống đó mới được nhập lại vào sông. Có như thế, chúng ta mới hoàn thành được cái công năng «Badakethutanha », chu trình bắt đầu – kết thúc – tái nhập vào HST. Nghĩa là mỗi điểm nối bất kì giữa cái cống và con sông phải là một cơ sở xử lý nước thải đạt chuẩn, trên toàn bộ lãnh thổ của HST mà con người tham dự vào.

Chỉ có hơn một chục năm trở lại đây thôi, các con đường ở các thành phố lớn xứ ta  hầu như không thể đi dạo nên thơ giữa ban ngày được nữa, như chú nai vàng trên nẻo đường rừng trong thiên nhiên! Tất nhiên nếu bạn có phổi nhân tạo, có tai đút nút bông gòn hoặc bộ headphone nghe máy nhạc, lại có mắt trùm kính bơi, thì ta cũng có thể gắng đi dạo được ở đó… nếu vỉa hè còn chỗ.

Câu chuyện này hôm nay thành quá khó rồi, vì sự siêu quá tải của quá trình đô thị hóa « bứt rào bung ra » mang qui mô ngút trời đã và đang được nổ tung ở xứ ta. Nhưng con đường rồi sẽ phải thôi là cái cống thải khói và thải tiếng ồn vĩ đại, cùng là nơi tưởng niệm đông đảo các liệt sĩ giao thông.

Vậy thì con người phải vượt qua được cái hạn chế tự nhiên của cái sở năng « Ladaboda » của mình, để rồi một ngày nào đó, trong điều kiện bình thường, một con đường chỉ được phép lưu thông nếu nó thỏa mãn các độ ô nhiễm, độ ồn, độ ách tắc dưới mức cho phép.

Hàng loạt các biện pháp phải được suy tính và tổ chức dựng xây. Từ chuyện rất to lớn và dài lâu, như quy hoạch dân số, quy hoạch các thành phố cùng các vệ tinh của nó, qui hoạch hệ thống các trục đường dọc-ngang-vành cùng các hệ thống bãi đỗ, quy hoạch công nghệ và phương thức sử dụng các loại phương tiện giao thông – với ưu tiên cho các phương tiện công cộng… thật muôn vàn việc… Và cho đến những chi tiết, như hệ thống máy đo ô nhiễm và đo tiếng ồn, hệ thống truyền tin trên đường biết hướng dẫn dòng xe, biết áp đặt việc giảm tốc độ xe để giảm độ ô nhiễm khi thời tiết nóng nực và thiếu gió ở các thành phố…

Không thể làm được như thế ? Thì miễn bày ra. Thì đi bộ, đi xe đạp không thôi.

Chỉ có hơn một chục năm trở lại đây thôi, người ta không thể ăn uống vô tư ở xứ ta  được nữa! Rau tẩm thuốc sâu, quả tẩm hóa chất, rượu pha lừa đảo, thuốc giả thuốc hỏng… chỉ có mỗi dạ dày, ruột gan và bệnh tật của chúng ta vẫn là thật. Nghĩa khí Cần Giuộc “liều mình như chẳng có” còn chịu đựng được bao lâu nữa các đồ ăn thức uống này ?

Vậy thì con người phải vượt qua được cái hạn chế tự nhiên của cái sở năng « Ladaboda » của mình, để rồi một ngày đến, ngay từ đầu mối hàng đưa vào cộng đồng, các thực phẩm đã phải bị kiểm tra chất lượng an toàn, thay vì mỗi người dân phải luyện ngắm từng miếng thịt, lật từng miếng rau, và mặc cả triền miên với Thượng Đế của mình suốt ngày này sang tháng khác xem có nên mua chúng không, có dám tiêu thụ chúng không.

Cầm một mớ thịt, một cây rau, ở bất kì một chợ nào, nhà chức trách phải đủ khả năng truy nguyên rất nhanh chóng, thậm chí tức thời, nhờ hệ thống công nghệ thông tin được thiết kế và vận hành hoàn chỉnh, xem mớ thịt đó, cây rau đó do ai lưu hành, do ai sản xuất, và truy tố được thật nhanh chóng chính xác kẻ ích kỉ hại người. Có như thế chúng ta mới hoàn thành được chu trình «Badakethutanha ». Công việc này không dễ, nhưng làm được, và nhiều xã hội khác đã thực hiện được từ khá lâu rồi.

Có cần thiết phải kể ra nốt các hiệu ứng “Ladaboda” trong thế giới tinh thần của con người không? Biết bao nhiêu các thuyết lý của nợ đã được bày ra, từ cổ chí kim, chưa thấy cái thuyết lý nào được dẹp đi cả. Cái rổ đựng các mê thuyết chỉ thấy lớn lên mãi. Bói bài ta chán, bói thêm bài Tàu, bói bài Tàu chán, bói nữa bài Tây. Phép bói phải được nhân lên mãi, mở ra mãi, sang bói tóc, bói Kiều, bói lá, bói hột thị…liệu còn chỗ nào để không áp dụng được các phép bói mê?

Badatethutanha của kỉ nguyên công nghệ

Tất cả  những thất bại trên đây là do cái sở năng « Ladaboda » sẵn có trong HST được kích hoạt mạnh mẽ ở con người, một khi con người bắt đầu bày ra sự phát triển nền công nghệ nửa chừng, và cái công năng tự nhiên « Badakethutanha » của HST thì bị bất lực trước cái sở năng « Ladaboda » này đã được kích hoạt ở con người thời công nghệ hóa.

Sự bất lực của HST về cái công năng tự nhiên « Badakethutanha » trong thế giới con người công nghệ hóa buộc chính con người phải đối mặt thảo luận nghiêm túc với Thượng Đế của mình, để tìm cách thiết kế và vận hành cho được cái « Badakethutanha » cho đời sống của mình, để hoàn thành cho được chu trình bắt đầu – kết thúc – tái nhập HST trong kỉ nguyên công nghệ hóa của đời sống con người.

Thiền án về « Ladaboda » và « Badakethutanha » không phải chỉ là những vấn đề to tát như dòng sông, con đường, thực phẩm công cộng, hay nạn thuyết mê… Nó nằm ở khắp mọi ngõ ngách của đời sống hôm nay. Thiền định về thiền án này cho phép chúng ta tiến hóa về một đời sống phát triển bền vững và thông minh. Giản dị như mở rộng việc sử dụng rộng rãi túi xách bằng giấy tái sinh được, có giải pháp trồng rừng đã sẵn sàng triển khai được trước khi tổ chức khai thác rừng, cho đến sự ra đời của các thế hệ đồ vật thông minh như nồi cơm điện tự tắt khi cơm chín, vòi nước và đèn tự tắt được ở nơi toilet công cộng sau sử dụng. Vân vân.

Phải đi đến xây dựng và thực hành được nguyên lý như sau cho đời sống, rằng một khi con người muốn bày ra điều gì, thì họ phải chịu trách nhiệm về hệ thống giải pháp để hoàn thành được chu trình bắt đầu – kết thúc – tái nhập vào hệ sinh thái.

Đấy là lời mời gọi mỗi chúng ta, và cả cộng đồng, hãy chuyện trò với Thượng Đế của mình về « Ladaboda » và « Badakethutanha ».

Để cùng góp phần hóa giải cái sở năng khuyết tật « Ladaboda ».

Để đẩy lên được cái nền thiết kế và vận hành cái công năng « Badakethutanha » trong các lĩnh vực của đời sống được công nghệ hóa hôm nay.

Về cách dịch nghĩa các khái niệm « Ladaboda » và « Badakethutanha », các bạn có kiến giải ra sao ?

Tôi tạm dịch nghĩa cùng các bạn như thế này nhé : « Ladaboda » là « Làm đâu bỏ đấy », và « Badakethutanha » là « chu trình bắt đầu – kết thúc – tái nhập hệ sinh thái»./.

HOÀNG Hồng-Minh – bee.net

Tết, Tết, Tết!

Chúc bạn bè muôn nơi vui thưởng Tết Ta Con Rồng 2012!

P.S. Nhấn chuột vào trang báo, bạn sẽ đọc rõ hơn.

Tiền Phong, số Tết Con Rồng 2012


Tiền Phong, số Tết Ta Con Rồng 2012

Bản đồ tinh thần


HOÀNG Hồng Minh – Tia Sáng

Trong tuần lễ, có một ngày tôi phải đi làm sớm hơn thường lệ một tiếng đồng hồ.

Trong cái khổ, cũng có cái may.

Phố phường vắng vẻ. Đường cao tốc thoáng đãng.

Và khi đến nơi làm việc, đầy chỗ đậu xe!

Tôi vui sướng chọn chỗ đậu xe ngay trước cửa ra vào văn phòng. Thả vài bước là vào đến bureau. Lúc ra về cũng sẽ tha hồ tiện nhé, ba bước lên xe!

—-

Ấy vậy mà với cái ngày đi làm sớm này, lúc ra về tôi thường rất hay phải đi tìm xe phát mệt!

Tôi đi bộ vòng hết các chỗ mình thường hay đậu xe trong bãi đỗ, gãi đầu, ngoáy tai, tim đập nhanh dần lên, óc liệt kê các câu hỏi không khác gì các thám tử nổi tiếng, bước chân thì nhiều khi xoắn đi xoắn lại như những điệu nhảy của chàng Michael Jackson…

Mãi đến một lúc, khi mà hy vọng rõ cạn kiệt, thì tôi mới nhớ ra là, à hôm nay mình đi làm sớm, mình đã đậu xe ở cái chỗ rất hiếm hoi, nơi bình thường không bao giờ lại rảnh chỗ cả.

Tôi quay lại nơi đó, và tìm ra chiếc xe kiên nhẫn thủy chung. Tôi đã đậu xe ở chỗ gần nhất về địa lý so với văn phòng của mình, nhưng xa nhất trong bản đồ tinh thần của mình.

Hóa ra khi mình đi ra bãi xe, tuy có vẻ nhìn trời nhìn đất ghê gớm là thế, có vẻ tự do là thế, mà mình thực ra làm việc trước hết với cái hiện trạng của cái bản đồ tinh thần ở bên trong mình.

Trong mọi trường hợp, tình trạng của cái bản đồ tinh thần là cái quyết định hành động và hiệu quả của hành động.

—-

Nếu mỗi lần đỗ xe xong, tôi cập nhật vị trí đỗ xe trong bản đồ tinh thần, lưu thông tin này vào một bộ nhớ lưu trữ bên ngoài thì càng tốt, trên giấy hay trên điện thoại di động chẳng hạn, và trước khi ra xe thì tham khảo lại thông tin này, công việc hẳn sẽ trôi chảy hơn, thay vì để cho thói quen vô thức quyết định hộ.

Chàng trai trẻ xông xáo nọ hôm đi chơi New York City cùng với tôi thì lại rất bài bản. Vừa đậu xong xe ở cái phố lạ hoắc, chàng liền xuống xe, giơ điện thoại lên chụp ba cái ảnh vị trí đỗ xe, biển tên phố, và cả tên con phố cắt ngang, để lưu thông tin ngay!

Chuyện nhỏ đã là thế. Chuyện lớn hơn thì ra sao?

Đời sống cá nhân, gia đình, bạn bè, xã hội, tất cả đều được dẫn dắt bởi bản đồ tinh thần.

Trong rất nhiều trường hợp, chúng ta cứ mãi cậy vào thói quen, tập tục, và không có ngay cả nhu cầu điểm danh trở lại xem những thói quen, những tập tục đó là gì, chưa nói gì đến việc tìm hiểu và phân tích chúng, định giá lại chúng.

—-

Bản đồ tinh thần không phải là một bản tức thời duy nhất phi lịch sử, nếu chỉ có thế thì ta không sao hiểu được sự vận động của tinh thần.

Bản đồ tinh thần phải là một dãy các bản đồ tinh thần được cập nhật theo thời gian, và chúng không được thay thế lẫn nhau.

Mỗi khi bản đồ hiện tại lúc này cần được cập nhật, ta phải lưu lại bản hiện tại thành « bản cũ », chụp nhân bản này thành “bản mới”, và hiệu chỉnh thông tin trên “bản mới » này.

Nhờ có dãy các bản đồ tinh thần này mà ta dựng lại được đời sống tinh thần, hiểu được sự vận động biến đổi của chúng, dự đoán phần nào được xu hướng vận động sắp tới. Chính từ những tấm ảnh rời chụp theo từng thời điểm mà chúng ta có được một bộ phim hoạt động.

Như vậy một công việc rất cần thiết là lưu giữ các bức tranh tinh thần ở từng thời điểm của đời sống con người, của đời sống xã hội. Không làm được điều này, ta không sao hiểu được sự vận động trên thực tế của đời sống.

Sự lưu giữ này phải là một hoạt động “tầm thường”, “nhàm chán”, không nhằm thuyết minh, không nhằm khuếch trương, cũng không nhằm chê bai dè bỉu. Giản đơn như người du lịch giương máy ảnh lên chụp vậy. Nhưng cần toàn diện và có hệ thống.

Một ví dụ khá thành công mà chúng ta đã có được gần đây là bảo tàng thời bao cấp ở Hànội. Bạn sẽ thấy mình ngạc nhiên đến như thế nào về chính ngày hôm qua ồn ào hào quang của mình, khi thấy lại gà lợn cùng sống trong căn hộ 24m2 của mình, và những tem phiếu vải để mua được vài chục centimetres vải! Những tư liệu này không chỉ để nhớ nhung. Chúng là bằng chứng của chính bản đồ tinh thần chúng ta ở thời điểm đó, và chắc chắn chúng chưa hết hoàn toàn sức sống của mình. Tình trạng các giải pháp cá thể về giao thông đô thị ở ta hôm nay cũng tương đương với tình trạng các giải pháp cá thể nuôi gà nuôi lợn trong các căn hộ thành phố khi đó.

Hãy hình dung cứ mười năm chúng ta có thêm một gian bảo tàng như thế, trong mọi lĩnh vực của đời sống, điều đó sẽ cảnh báo và đánh thức chúng ta như thế nào.

Ví dụ theo thời gian thì các lớp mẫu giáo ra sao? Các đám cưới thế nào? Các màn thể dục buổi sáng ở thành phố?… Rồi các quan hệ quốc tế đổi thay? Các màn biểu diễn đổi thay? Giao thông đô thị? Quảng cáo ở phố phường? Các lối tranh cổ động? Các hò vè dân gian? Các quan điểm chính trị-xã hội? Vân vân…

Để rồi dần dần xã hội và con người chúng ta tập ra được một nhu cầu nhìn lại thật bình thản chính bản thân mình, như mình vốn là, phi mặc cảm.

Và từ đó để hình dung ra mình sẽ đi đến đâu hôm tới, nếu cứ tiếp tục trên cái đà đó.

Và suy nghĩ về khoảng cách giữa cái mình muốn và hiện trạng tinh thần ấy.

Và làm thế nào để đi tới cái mình mong muốn ?

—-

Đó là câu chuyện hôm nay về bản đồ tinh thần, nhân ngày Tết gõ cửa đến nơi./.

Chuyện Thày Trò, Tây Ta…

Giống như hầu hết các bạn hôm nay, tôi có may mắn được làm học trò từ bé. Và chính hôm nay, may mắn thay, tôi vẫn được làm học trò, vẫn đi học thêm những cái mình thích học trong thể thao, âm nhạc… Rồi tôi cũng đã làm thày giáo ở trường đại học đôi chút ở quê nhà, gần nhất là tí chút hè năm nay. Và tôi cũng đã làm thày giáo một thời gian ở trường đại học xứ ngoài, ở Paris. Cho nên những kỉ niệm thày trò đan nhau thật chồng chéo, nhiều hương vị, nhiều thứ chung nhau, mà nhiều thứ cũng thật khác nhau mênh mang.

Học trò ở ta khi nhỏ thấy thế giới thày cô thật xa vời. Nền giáo dục xưa thì chỉ có thày. Cô là mãi gần đây. Cô chính là thày, thày giáo nữ.

Chữ thày trong tiếng ta chính là “bố”. Trong nhà xưa có thể gọi bố mẹ là “thày bu”, xưng là con hoặc em. Khi đến lớp (hoặc thày đến nhà dạy), thày thay mặt bố mà dạy con, nên quan hệ tiếp tục là “thày – con” hay “thày – em”. Nhưng sau này người ta không gọi giáo viên nữ là “bu giáo”, không biết có nên đáng tiếc việc đó hay không? Một chữ là ơn thày, nửa chữ là nhờ thày. Trẻ phải kính thày như kính cha. Cha xử con chết, con không chết là đồ bất hiếu.

Các bố mẹ xưa góp gạo nuôi thày thường đều là những người chưa từng được có chữ. Họa chăng đôi nhà cũng có biết chữ, nhưng mới vài ba chữ, chưa đủ để dạy nhau. Chữ ngày xưa là thứ chữ thiêng liêng của thánh hiền, thứ chữ không đánh vần được, học chữ nào biết chữ đó, nhầm là chuyện thường. Sự hơn kém nhau ở thời xưa hóa ra rất lượng tử, rất rõ ràng, chứ không rối rắm như hôm nay : đếm xem tổng số lượng chữ mỗi ai đã biết là biết tài. Cứ thế mà ra tiêu chuẩn bầu giáo sư với tiến sĩ thì kể cũng tiện. Trong một xã hội sơ giản như thế, ai có chữ cũng thành thày. Ta có thày chữ. Ngoài ra thì ai có hiểu biết hơn người xung quanh chút đỉnh, thậm chí có vẻ hơn thôi, thì cũng thành thày : có thày thuốc, thày võ, thày địa lý, cũng có cả thày tướng, thày số, thày bói, thày mo.

Cái nếp đó, học trò và gia đình ta đến hôm nay vẫn giữ được gần như nguyên vẹn, với những hiệu ứng tân kì.

Các cô (hầu như không có thày) dạy trẻ ở nhà trẻ có vai trò giáo dục thật ra rất quan trọng, nhưng do các cô chưa dạy “chữ”, nên xã hội ngầm coi thường họ hơn, xem như họ “chưa phải ra thày”. Chuyện này lại sẽ phải có bài bàn riêng.

Các giáo viên phổ thông thì giữ được ảnh hưởng cổ truyền lớn lao nhất. Gia đình và trẻ em cư xử với các thày cô này gần như trong mối quan hệ cổ truyền nguyên trạng, thày cô là cha là mẹ học sinh. Ngày nhà giáo, trẻ em đã đành, nhiều bạn bè nay đã trở thành ông thành bà, có cháu nội ngoại rồi, cũng vẫn nô nức í ới từ cả tháng để rủ nhau đi thăm thày cô dạy phổ thông hồi xưa. Đó là một nét đặc biệt nhất trên thế giới ! Nhưng kì lạ thay, các thày cô dạy Đại học thì lại không còn được hưởng cái lòng thành kính trung trinh này! Ngày lễ này rất thoảng qua ở các trường đại học, so với bậc phổ thông. Nhất là khi các sinh viên đã tốt nghiệp, thì hầu như không có chuyện họ phải í ới nhau đi thăm lại thày với cô của thời đi học đại học nữa. Họ chỉ phải lo cái bổn phận đi thăm lại thày với cô thời tiểu học và trung học mà thôi.

Từ điều này ta có thể thấy ra nhiều mặt.

Đối với xã hội, gia đình, học đại học không phải là cái thứ sống chết nữa. Các thày cô ở đại học nay dạy kiến thức, chứ không phải là những bậc « dạy chữ », bậc « khai chữ » thiêng liêng.

Đối với sinh viên, họ không còn là đám trẻ con ne nét nữa. Cái yêu mến thày cô ngày xưa ở tiểu học và trung học có nội dung lấm lét ở bên trong, nay với thày cô ở đại học, « sợ » thì có “sợ” nhưng không đến nỗi “khiếp”. Bỗng nhiên mặc cảm cha mẹ – con cái ở họ tan biến đi. Nếu thày với cô lại mới ra trường, thì sự chênh lệch tuổi tác so với sinh viên lại càng ít đáng kể hơn. Các thày cô ở đại học mặt khác cũng biết tự kiềm chế hơn, cư xử bình đẳng hơn đối với các sinh viên… Cho nên người ta có cảm giác, và tự cho phép nữa, rằng quan hệ thày trò ở bậc đại học được phép “nhạt” đi.

Khi sang Paris, tôi lại có dịp đi học, với những xúc cảm mới.

Có những giáo viên tận tình đến thế. Để kịp chuẩn bị tài liệu cho năm học tới, một ông giáo gọi điện hỏi tôi địa chỉ, rồi mấy hôm sau chạy ôtô đến tận nhà để đưa cho tôi giáo trình, rồi động viên cố gắng, rồi hẹn khi vào năm học sẽ gặp lại nhau để trao đổi chương trình! Lúc này đang là mùa hè ! Thày trò quả là những người bạn, làm sao để cùng nhau thành công cái việc chung : viêc dạy và học.

Cả năm học trôi qua, không thấy xã hội có cái ngày lễ giáo viên ầm ĩ nào cả. Ở các trường phổ thông cũng vậy. Rất nhiều bố mẹ hầu như còn không hề biết tên, không biết cả mặt giáo viên! Bận quá, ai việc nấy thôi. Trong xã hội cũng vậy, không thấy đài báo tuyên truyền, ngợi ca thống thiết gì về giáo dục, về thày cô cả.

Thế rồi về sau tôi cũng bắt đầu tham gia giảng dạy về bộ môn Công nghệ Thông tin và Quản lý ở vài trường đại học.

Đi dạy CNTT cho sinh viên các ngành khoa học tự nhiên, như khoa Toán – CNTT, thì … vất vả! Các vị này có tư duy gần gụi với các thuật toán. Cả lớp toàn con trai, may được vài ba cô gái kéo mắt lại. Những giờ bài tập thì mình phải chuẩn bị ém số lượng bài gấp đôi lên, kể cả các cách giải, đề phòng các vị giải bài nhanh quá rồi ngồi chơi, không biết làm gì. Coi chừng nhất là mấy anh chị cao thủ giải bài như bay ! Được cái các bạn giỏi ở đây thường cũng không có lối chơi trội, mà nhã nhặn đợi chờ bạn bè, hoặc giúp đỡ lẫn nhau.

Còn đi dạy ở bên mấy trường KHXH thì như đi chấm thi hoa hậu. Cả lớp chỉ có mấy mống con trai nhút nhát, còn lại toàn là các bạn gái thanh tú, tao nhã, thích nói chuyện bên lề nhiều hơn là giải bài… Giờ nghỉ thì cùng xuống lấy càfê, ra bãi cỏ ngập nắng mênh mông, ngả ngốn tán đủ thứ chuyện.

Nhưng chả bao giờ có cái ngày lễ học trò ôm hoa thẹn thùng chúc thày gì cả! Chạnh lòng nhớ năm nào về chuyện trò vui vẻ với các bạn ở khoa Quản lý trường ĐHQG HN, cuối giờ được các bạn tặng hoa, phát biểu cảm tưởng, được chụp ảnh, lúc chụp ảnh bạn lớp trưởng lại còn khéo ý tứ đẩy mấy bạn gái xinh nhất lên đứng cạnh thày… Làm thày như thế, thích quá a.

Cũng phải công bằng, có một năm nọ, vào cuối một buổi học, một cô sinh viên vốn khá thân trong lớp, cô Marie, đã nhã ý mời mấy bạn trong nhóm cùng đề tài và tôi cùng thưởng thức đĩa bánh cô làm, và dùng nước quả… Thế rồi Marie bất ngờ tặng tôi cây hoa xương rồng bé xíu thật xinh xắn ! “Hôm nay là Tết ! Chủ nhật vừa rồi bọn em đi ăn phở nên phát hiện ra ngày này ! Với sáu giờ lệch pha, nào ta nâng cốc chúc Giao Thừa! “. Lòng tôi bất ngờ tràn dâng sung sướng, chợt nuôi nao nhớ quê nhà… Tôi ôm hôn cảm ơn Marie và chúng bạn.

Mình bao giờ cũng phải sống hai lần. Sống, và nghĩ lại về cuộc sống.

Đáng nhẽ Thiên nhiên phải cho ta hai cuộc đời để làm hai cái việc đó thật tách bạch thảnh thơi.

Nghề nào cũng đáng tôn quí. Ở các xứ sở đã phát triển, nếu các ngành mà bãi công, ta sẽ thấy ngay rằng ngành vệ sinh công cộng là quan trọng nhất, rồi thì năng lượng, giao thông, y tế, thương mại… Ngành giáo dục mà bãi công thì cũng chưa chết ai ngay. ;-)

Tại sao xã hội người ta nền nếp như thế về giáo dục, từ nhà trẻ cho đến trên đại học, mà không cần tuyên truyền, không cần tôn vinh, không cần phải nô nức đi thăm thày thăm cô dạt dào cảm xúc ? Vì ngành giáo dục của họ, như mọi ngành khác trong xã hội, đã sống thật, đã chạy trong qui củ. Trường sở khang trang. Chương trình đàng hoàng. Giáo viên được trả đồng lương chính đáng. Đơn giản, có thế thôi.

Sự tôn kính ồn ào, đẫm lệ ở xứ ta nhiều khi lại chính là cái vỏ vờ vĩnh để che lấp đi cái khổ sở của ngành giáo dục, cái chật vật nhọc nhằn, nhiều khi đành chịu cả nhục, của đời sống của các thày cô. Có lẽ không gì khổ bằng việc người giáo viên không có đồng lương đàng hoàng, phải để dành những ngón nghề để dạy tủ thêm mà kiếm sống ! Đáng nhẽ khi dạy học, khi san sẻ kiến thức, lúc đó chính là những khoảnh khắc của niềm vui vô bờ. Đằng này phải sống như đi đêm, thày vào lớp dạy, nửa này của lớp tối qua đã học thêm với mình, còn nửa kia của lớp thì không hề hay biết gì, hay nghi hoặc hoặc nghi…

Và người đi học, cứ phải lo suốt năm “cư xử thế nào đây, phong bì, quà cáp, học thêm…” để rồi được thày cô dạy cho cái đáng dạy, cái đảm bảo thi đỗ, chứ không dạy cái thứ vô tích sự cho xong ?

Không phải lập tức mà chúng ta sẽ giải được câu chuyện này, nhưng phải có quyết tâm, phải có lộ trình, để rồi phải có bằng được cái nền giáo dục giản dị ấy. Và toàn xã hội, mọi lĩnh vực rồi phải vào nếp, phải vào qui củ, phải đĩnh đạc, phải đàng hoàng, không thể cứ mãi dối vòng dối quanh, mèo vờn chuột chết.

Không lúc nào tôi quên đươc cái hình ảnh tuy đã rất lâu, cái ngày nào tôi đã bất chợt thoáng gặp lại người thày rất quí mến khi xưa dạy ở lớp ba, nhưng lại rất ưu ái với tôi đang học lớp hai ngay bên cạnh… Thày lúc đó đã thật già cả, phải còng lưng ngồi trước cái cân sức khỏe trên đường phố để kiếm sống… Tôi lúc đó nghẹn ngào, không dám chào thày, sợ thày mủi lòng… Tôi không thể còn biết làm gì nữa… Mà những năm tháng đó, chính trong túi tôi cũng không có mấy đồng xu…

Một ngày lễ thịnh soạn trong một năm để tôn vinh các nhà giáo không thể thay thế được 364 ngày thường còn lại trên đường đời, chưa kể một khi nhà giáo đã già cả, còm cõi, và đồng lương hưu trí còn còm cõi hơn. Chúng ta hãy thay đổi cách nghĩ, cách sống, hãy chân thật, giản dị, không thỏa hiệp với những thứ lễ lạt tự dối mình đằng đẵng làm gì nữa.

Hãy giản dị, chân thật như cây hoa xương rồng bé xíu xinh xắn mà cô Marie đã tặng nhân Giao Thừa Tết năm nao./.

HOÀNG Hồng Minh – Bee.netTia Sáng

Tiến tăm


Bài trên Tia Sáng – HOÀNG Hồng Minh

Sáng thứ bảy vẫn còn đang ngái ngủ sau một tuần bộn rộn thì anh bạn đã réo điện thoại « dậy chưa, đi ăn sáng ở sơn trại đi “, vừa tức ông này, vừa thấy cũng hay hay… “Mấy ông doanh nhân này lấy đâu ra mà lắm năng lượng thế! Chơi với các vị này vui có vui, mà cũng có mệt!”.

Lại thấy chuông réo tiếp “tôi ở dưới cổng nhà rồi nhé”, kèm theo tiếng cười khúc khích. Anh chàng muốn bất ngờ đây mà!

—-

“Chào cậu. Tuần vừa rồi tớ lắm việc quá, tưởng sáng nay sẽ sẽ ngủ bù được, vậy mà không! Lôi ông dậy sớm ra ngoại ô cho thanh cảnh”. Anh bạn thắt dây lưng, vào số xe, lên đường.

Gió sông Hồng ẩm mát phần phật qua cầu Thăng Long. Nhớ ngày nào bê xe đạp xuống con đò Chèm nhỏ bé chòng chành để mà vượt sóng sông Hồng mênh mông, nhìn sang bờ bên kia như một miền đất hứa xa xăm nào khác…

Đây rồi hàng quán sơn trại mới sáng ra, tịnh không một bóng người, lặng lẽ. Cỏ còn đầm ướt hơi thở sương mai. Mùi đất dạt dào quê hương. Cả hàng quán có mỗi một cô bé cần mẫn coi nhà bếp. Nhờ được cô bé làm cho đĩa nhắm, cùng tí chút rượu quê để nhấm nháp.

Căn nhà sàn đơn côi. Có hạt mưa nào đọng lại tí tách ngoài khung cửa.

Nhấm nháp giản dị, chuyện trò đơn sơ. Trong yên lặng, cả hai chúng tôi đều thả mình tận hưởng cái cảm giác về miền quê đồi núi thanh tịnh đơn sơ như tự thuở nào. Có con mọt nào đang gặm xà gỗ trên cao, và cô gà mẹ nào bắt đầu dẫn lũ con đi đào bới. Mấy con dế hát ậm ẹ, không biết là cố tình hay vô thức vậy…

Chuyện trò câu được câu chăng, cũng chẳng đâu vào đâu. Chuyện cũ nhiều hơn chuyện mới.

Khi sự mộc mạc trụ trì, chân lý trở nên vô duyên, không ai muốn mời chúng dự cuộc.

Thấm thoắt, mà rồi cũng đã quá giữa buổi sáng rồi. Tại sao thời gian trong vui tịnh thì lại ngắn? Cuộc đời nhiều niềm vui thì chả nhẽ sẽ ngắn hơn?

Chúng tôi xuống nhà chào cô bé nhà bếp, gửi tiền. Đang dở tay mổ gà, cô liền chùi hai tay vào sau vạt áo mình, lục trong túi áo một hồi, rồi rút ra chiếc tăm. Hai bàn tay cô cầm hai đầu chiếc tăm, đưa lên, rất cẩn thận mời tôi. Rồi lại mời anh bạn. Chúng tôi vui vẻ cầm vào phần giữa của chiếc tăm, nhận lấy nó, và cảm ơn cô.

Ra đến xe anh bạn bảo « người ta lòng thành, nhưng hai đầu tăm bị bẩn đấy nhé, anh bẻ đôi cái tăm ra, phần giữa coi như là sạch».

—-

Thế nhưng cái tăm này lại là một món quà đặc biệt. Nó chứa đựng nhiều điều thú vị.

Nó chứa đựng rất nhiều tình cảm và sự lễ phép ở trong đó.

Cô bé đang bận mổ gà là như thế, mà nhất định không quên chuyện phải có chiếc tăm cho chúng tôi sau bữa ăn.

Mấy chiếc tăm bé tí tẹo, cô đã cố công lục chúng trong túi áo. Cô nhất định tìm bằng được ra chúng.

Cô lại dùng cả hai bàn tay để nâng được hai đầu chiếc tăm bé xíu lên, để « tiến tăm » cho chúng tôi. Ngày hôm nay, khó mà tìm lại được cái tinh thần đó ở giữa chốn phố phường.

Hiệu quả của việc tiến tăm, thì lại là cả một câu chuyện khác.

Hai đầu tăm vẫn còn mùi thịt gà tươi sống…

—-

Anh bạn lái xe một hồi, rồi quay sang «cậu làm gì mà có vẻ suy tư vậy».”

-” Tôi lại vừa được trải nghiệm kĩ thêm một điều đã cảm nghiệm từ lâu nay. »

-« Điều gì vậy ? »

-« Chuyện tiến tăm… ».

-”Chữ nghĩa khó thế!”.

-« Cô bé lúc nãy đã học thành lòng, học kĩ lưỡng sự chu đáo, sự tử tế, sự cố tâm để làm vui lòng người khách.
Cô là cô bé học trò thật ngoan ngoãn và thành tâm trong sự việc này.

Nhưng cô bé không đi được đến cái bến cuối của sự học.

Cái bến cuối đó là : học một việc gì, thì cũng để rồi mình không còn là đứa học trò bé bỏng mãi mãi của cái việc đó nữa. »

-« Ừ, những chuyện như thế thì còn nhiều nữa lắm nhé… ».

-« Ở đây tôi chỉ nghĩ đến những công việc tử tế và những con người tử tế.

Trong rất nhiều việc này, việc nhỏ, việc to, và cả việc rất to, tôi vẫn nhận thấy cái tinh thần chí nguyện làm một đứa học trò bé bỏng mãi mãi của những người người trong cuộc.

Có cái gì đó trong cái nôi văn hóa đã ru họ thế chăng?»./.

Ngồi yên

Ông Đô, viện trưởng Viện Trừu Tượng học hỏi Anh La.

-”Tôi định nhờ Anh La thay mặt tôi đi dự một cuộc họp quan trọng…”

-”Thế tôi phải làm gì nếu đi họp ở đó ạ?”

-”Ngồi thật yên.”

-”Trong bao nhiêu phút ạ?”

-”Ba ngày.”

-”Cũng được bác Đô ạ, nếu tôi chỉ phải đến vào lúc khai mạc và lúc bế mạc cuộc họp đó.”

Chuyện viết tiếng Việt


Bài trên Tia Sáng

Một câu hỏi đang được đặt ra là “có cần thêm một số chữ cái latin vào bộ chữ tiếng Việt », ví dụ như F, J, W, Z?

Nguyên tắc chung, nếu nhu cầu là rõ ràng, thì sự đáp ứng là cần thiết. Còn sử dụng cụ thể như thế nào những chữ cái thêm vào này, đó là công việc tiếp theo.

Chữ cái vẫn dùng mà không chính thức hóa

Trước hết trong đời sống tiếng Việt hôm nay, chúng ta thực tế đã sử dụng những chữ này!

Nếu bạn đọc dòng văn bản “Thông báo của TW Hội LHPNVN” thì bạn hiểu rằng chữ W ở đây định nói cái gì, tuy có khi bạn chưa học chữ này bao giờ. Người ta không viết “TW” là “TƯ”, vì lo đọc chuyện này lại thành ra chuyện khác.

Người nông dân chúng ta thì đã quen với chuyện lợn lai : lợn F1 hay lợn F2, chứ không phải lợn PH1 hay lợn PH2.

Câu “từ A đến Z” ai cũng nói cũng viết, và nếu bạn nói và viết “từ A đến Y” thì không ai hiểu bạn muốn gì.

—-

Nhưng câu chuyện không dừng ở đây.

Hôm nay, thế giới đã mở ra với chúng ta.

Việc mỗi người cần học để biết lấy một đến vài ngoại ngữ đã trở nên cần thiết. Và có lẽ chẳng mấy mà chúng ta sẽ phải giảng dạy khoa học, trước hết là các khoa tự nhiên, khoa công nghệ, khoa thương mại, bằng song ngữ Anh-Việt, trên phạm vi đại trà, nếu chúng ta lập chí hiện đại hóa dứt điểm.

Khái niệm du nhập

Chưa đến mức đó, thì việc sử dụng các khái niệm du nhập đã bắt chúng ta phải đọc thông viết thạo các chữ cái latin “chưa được đưa vào chính thức”.

Tìm hiểu khái niệm WTO, đó là bổn phận và lợi ích sát sườn của người Việt hôm nay đã tham gia tổ chức này. Phải biết chữ W.

Mỗi xứ sở có điểm mốc “Zero”,”cây số không” (không viết “Dê rô”) của mình, để tính khoảng cách đi tới trung tâm này từ trên các quốc lộ hướng tâm này. Phải biết chữ Z.

Đo độ dài còn có “Foot” : 1 Foot US (ft) = 0,3048006 mét. Phải biết chữ F.

Nghe nhạc thì cũng có “Jazz”, không viết nhạc “Giagigi”. Phải biết chữ J.

Viết tên riêng

Phổ biến hàng ngày hơn nữa, là việc đọc và viết tên riêng.

Sau những thói quen ban đầu cố gắng mòn mỏi để hán-việt hóa bằng được các tên riêng trên thế giới cho bùi tai mình, chúng ta đã vượt được dần ra khỏi cái thói quen cố hữu lấy mình làm trung tâm này.

Nhiều bạn trẻ hôm nay khó biết đâu là Á Căn Đình, đâu là Gia Nã Đại, ai Là Mạnh Đức Tư Cưu, ai là Nã Phá Luân.

Yêu bóng đá thì hôm xưa có Zico, hôm qua có Zidan khắc trong trí nhớ mình, không phải viết dịch Di Cô hay Di Đan.

Tôi phản đối việc nhất nhất cố gắng viết chuyển dịch các tên Đông Á sang hán-việt. Điều đó gây ra những cảm xúc phản nhận thức.

Từ bao giờ chúng ta tự cho mình có nghĩa vụ phải chuyển âm hán-việt các tên riêng Trung Hoa hay Triều Tiên, và rồi từ đó chúng ta có cảm giác như họ gần gũi với mình hơn cả những người láng giềng Lào hay Miên, thậm chí gần gũi hơn cả các tên riêng của người thiểu số trên đất mình! Đó là tự lừa mình.

Tất nhiên khi bạn gọi “Hoa Thịnh Đốn” hay “Mạc Tư Khoa”, bạn sẽ có cảm giác tương tự, “thân thiết hơn”, vì âm thanh này quen thuộc và bùi tai chúng ta hơn. Nhưng nay bạn đã gọi Washington, Moscow, có lẽ rất nên gọi Beijing, Pyongyang để mà tinh thần ta có được sự bình đẳng, bình tâm sáng suốt trong nhận thức.

Tên người cũng thế, tại sao ngay cả với người Nhật, chúng ta không cố sống cố chết hán-việt hóa tên riêng của họ, trong khi mọi tên người Trung Hoa chúng ta cứ như có bổn phận phải hán-việt hóa chúng bằng được? Nếu không phải lo hán-việt hóa tên ông tổng thống Mỹ là “Ô Bá Mã”, tên ông thủ tướng Nga là “Bá Tín”, thì cũng rất nên gọi tên ông thủ tướng Trung Hoa theo âm là Wen Jiabao, và bạn sẽ tìm thông tin về thủ tướng Trung Hoa trên Internet bằng tên đó dễ dàng hơn nhiều, thay vì mù tịt khi phải tìm hiểu về ông ấy vì chỉ biết cái tên đã hán-việt hóa.

Giữa cái tên ghi âm và cái tên hán-việt hóa nhiều khi có khoảng cách rất xa, ví dụ tên ông chủ tịch Triều Tiên Kim Jong-il được hán-việt hóa là Kim Chính Nhật, không biết đâu mà lần.

Một thói quen nữa là ngay ở Đông Á, nơi đâu “thân thiện” thì người ta gắng hán-việt hóa, bằng không thì thôi. Hongkong xưa là nhượng địa của Anh, nên thôi, không cần gọi là “Hương Cảng”. Các tên riêng ở Đại Hàn cũng khỏi bị cố gắng được hán-việt hóa nhiều vì “không thân lắm”. Tên riêng của Nhật Bản thì miễn phải hán-việt hóa.

Phải học tránh sự thiên vị trong nhận thức, bởi vô hình chúng ta cổ vũ cái lý tưởng “đồng văn đồng chủng” cho dân chúng, thông qua việc nhất nhất hán-việt hóa tên riêng của Trung Hoa hay của Triều Tiên trên thông tin đại chúng. Từ đó thậm chí ta hình dung như họ có họ hàng với mình khi suy từ tên gọi!

Từ kép (*)

Một vấn đề rất quan trọng khi viết tiếng Việt là vấn đề từ kép.

Khi bạn đọc câu “học sinh vật cô Na”, bạn không có cách gì để xác định nghĩa thực của câu này.

Các ngôn ngữ dùng hệ thống chữ cái đều biết ghép các từ bằng cách viết liền chúng lại. Nếu trong tiếng Anh bạn có “net” là mạng lưới, “inter” là nối kết, bạn sẽ tạo ra chữ “internet” mà không phải là “inter net”. Và bạn có thể ghép nhiều hơn hai chữ để có một chữ mới.

Bạn ghép chữ “sinh” và “vật”, bạn phải có một chữ mới, đáng lẽ là “sinhvật”, chứ không phải là “sinh vật” cạnh nhau.

Khi bạn đọc câu “học sinh vật cô Na”, bạn phải cố làm một thao tác tinh thần để nối “học sinh” thành “họcsinh”, rồi kiểm tra xem có được hay không theo hiểu biết chủ quan của bạn. Bạn thấy được, và bạn tiếp tục kiểm tra câu này, và bạn nghi ngờ « được, nhưng chắc không phải thế ».

Tiếp đến bạn phải cố làm một thao tác tinh thần khác để nối “sinh vật” thành “sinhvật”, rồi kiểm tra xem có được hay không theo hiểu biết chủ quan của bạn. Bạn thấy được, và bạn tiếp tục kiểm tra câu này, và bạn tự bảo « được, chắc là thế ».

Hơn thế nữa, một người nước ngoài học tiếng Việt thì sẽ đánh vật với cái câu vô định này!

Lối viết tách rời các từ trong một từ kép làm tăng tính mất chính xác của câu chữ, khuyến khích tính chủ quan thẩm định, làm giảm tốc độ đọc hiểu, làm tốn kém lưu trữ trên giấy tờ văn bản hoặc trên các bộ nhớ điện tử, làm khó khăn cho người nước ngoài học tiếng Việt.

Tất cả nguyên do chỉ vì xưa kia chúng ta dùng chữ vuông! Mỗi chữ vuông phải kê cách nhau ra, không có thì không ai hiểu!

Và công cuộc xây dựng chữ quốc ngữ dùng bảng chữ cái latin đã thiếu cái chí đi đến cùng để giải chuyện này. Chính chúng ta là người phải giải nó.

Đây là một dịp để tưởng nhớ tới người có công lao đề xuất giải pháp viết từ kép này đã từ rất lâu, ông HOÀNG Xuân Hãn. Ông đã soi rằng việc viết chữ kép như thế sẽ có rất hãn hữu trường hợp có thể gây nhầm nghĩa, và trong trường hợp đó thì một dấu gạch ngang sẽ là giải pháp.

Hy vọng rằng người Việt chúng ta sẽ đến lúc đủ quyết tâm để thực hiện ý tưởng đơn giản và tuyệt vời này của ông HOÀNG Xuân Hãn.

Không cần phải ngay một lúc viết liền hết các từ kép : chỉ cần chúng ta tiến lên từng bước một, thống nhất từng chữ kép một, và chúng ta sẽ đi dần được rất xa. Công việc này có thể được giao cho một tổ chức có năng lực và thẩm quyền.
./.

(*) Cũng có thể gọi là « từ ghép ».

P.S.

Để làm ví dụ giống như ông HOÀNG Xuân Hãn đã làm trước đây, tôi chép đoạn cuối của bài viết ra đây nhưng viết liền các từ kép để chúng ta cùng đọc thử, và để thấy chúng ta sẽ được lợi về đủ đường : chính xác, tốc độ, và tiết kiệm lưu trữ.

—-

Từkép

Một vấnđề rất quantrọng khi viết tiếng Việt là vấnđề từkép.

Khi bạn đọc câu “học sinh vật cô Na”, bạn không có cách gì để xácđịnh nghĩa thực của câu này.

Các ngônngữ dùng hệthống chữ cái đều biết ghép các từ bằng cách viết liền chúng lại. Nếu trong tiếng Anh bạn có “net” là mạnglưới, “inter” là nốikết, bạn sẽ tạo ra chữ “internet” mà không phải là “inter net”. Và bạn có thể ghép nhiều hơn hai chữ để có một chữ mới.

Bạn ghép chữ “sinh” và “vật”, bạn phải có một chữ mới, đáng lẽ là “sinhvật”, chứ không phải là “sinh vật” cạnh nhau.

Khi bạn đọc câu “học sinh vật cô Na”, bạn phải cố làm một thaotác tinhthần để nối “học sinh” thành “họcsinh”, rồi kiểmtra xem có được hay không theo hiểubiết chủquan của bạn. Bạn thấy được, và bạn tiếptục kiểmtra câu này, và bạn nghingờ « được, nhưng chắc không phải thế ».

Tiếp đến bạn phải cố làm một thaotác tinhthần khác để nối “sinh vật” thành “sinhvật”, rồi kiểmtra xem có được hay không theo hiểubiết chủquan của bạn. Bạn thấy được, và bạn tiếp tục kiểmtra câu này, và bạn tự bảo « được, chắc là thế ».

Hơn thế nữa, một người nướcngoài học tiếng Việt thì sẽ đánhvật với cái câu vôđịnh này!

Lối viết táchrời các từ trong một từ kép làm tăng tính mấtchínhxác của câuchữ, khuyếnkhích tính chủquan thẩmđịnh, làm giảm tốcđộ đọchiểu, làm tốnkém lưutrữ trên giấytờ vănbản hoặc trên các bộ nhớ điệntử, làm khókhăn cho người nướcngoài học tiếng Việt.

Tấtcả nguyêndo chỉ vì xưakia chúngta dùng chữ vuông! Mỗi chữ vuông phải kê cách nhau ra, không có thì không ai hiểu!

Và côngcuộc xâydựng chữ quốcngữ dùng bảng chữ cái latin đã thiếu cái chí đi đến cùng để giải chuyện này. Chính chúngta là người phải giải nó.

Đây là một dịp để tưởngnhớ tới người có cônglao đềxuất giảipháp viết từkép này đã từ rất lâu, ông HOÀNG Xuân Hãn. Ông đã soi rằng việc viết từkép như thế sẽ có rất hãnhữu trườnghợp có thể gây nhầm nghĩa, và trong trườnghợp đó thì một dấu gạchngang sẽ là giảipháp.

Hyvọng rằng người Việt chúngta sẽ đến lúc đủ quyếttâm để thựchiện ýtưởng đơngiản và tuyệtvời này của ông HOÀNG Xuân Hãn. Chỉ cần tiếnlên từng bước một, thốngnhất từng chữkép một, và chúngta sẽ đi được rất xa.

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 72 other followers