Tag Archive | tự do

Xả thiền

Nghĩ suy nhỏ hẹp, bỏ.

Việc nào, ra việc nào.

Tự do,
cho người khác.

Tự do,
cho chính mình.

|- HHM 1202-|

Cần bao nhiêu cái Tết, để có một Thế hệ mới, một Xã hội mới?

{Bản đầy đủ}

Tuổi Trẻ – Tết Con Rồng 2012 — HOÀNG Hồng-Minh


Các bạn trẻ lớn lên, tràn đầy hy vọng. Với hiểu biết, với nhiệt tình, với năng lượng đầy huyết quản, bạn nghĩ “mọi chuyện lăng nhăng rồi sẽ phải qua thôi. Kể từ thế hệ chúng ta, một trang mới hoàn toàn sẽ phải mở ra, nhất định phải thế!”.

Nói nhỏ với các bạn, ai cũng mong sao để các bạn được như thế!

—-

Thế hệ tôi cũng có đúng từng ấy ước mơ, từng ấy nhiệt huyết, từng ấy năng lượng trong huyết quản.

Bao nhiêu cố gắng, bao nhiêu suy tư… Chúng tôi tiến lên. Và như hôm nay các bạn thấy đó, có tiến lên… nhưng rõ ràng là chưa được bao xa.

Các thế hệ trước nữa, hẳn họ cũng từng đã tự nhủ như thế. Chưa biết chừng còn hơn thế nữa.

Tôi nhìn quanh bạn bè thuở nào, nay nhiều người đã cận trung niên, chuẩn trung niên, hoặc « thăng trung niên»… nom họ cũng đã thấm mệt. Hơn thế nữa, nhiều người đã cũ kĩ đi nhiều. Sao nhanh thế nhỉ ? Hoặc là, xã hội có cái sức mạnh siêu khủng để thuần hóa họ trở lại thành cũ kĩ khá nhanh, như chính xã hội vốn như thế. Hoặc là, ở trong ta có cái gene già nua ngủ im đó, đến tuổi nào thì đó nó tỉnh dậy, và lập tức biến chàng và nàng thanh niên nhạy cảm, thông minh, hăng hái ngày nào, thành con người cũ kĩ, thoái chí, phản tiến hóa chăng? Vài chục năm, một thế hệ với vài thành quả nhỏ nhoi như vậy, mà đã chấm hết sao ? Rất may rằng hình như có những người vượt được ra khỏi cái thói chung đó.

Câu hỏi tự nhiên đặt ra trong mình : vậy thì cần bao nhiêu thời gian để có được một xã hội tiến hóa lên rõ ràng được một nấc mới ?

—-

Câu hỏi nói trên có vẻ mơ hồ, nó phụ thuộc vào sự vận hành của con người, của xã hội.

Trong hàng ngàn năm thời trung cổ, cuộc đời tròn khúc, nào có thay đổi được bao nhiêu. Con người cảm thấy cái vòng tròn khép kín đó chính là “đạo”.  Đạo con rắn cắn đuôi, đạo gà cồ ăn quẩn cối xay.

Vậy thì hôm nay cũng đáng vui lên hơn nhiều rồi! Dẫu sao so với thời xưa đó, thì chúng ta đã có và đã được chứng kiến trong mỗi một đời người những tiến hóa quan trọng hơn rất nhiều của đời sống. Người cao tuổi hôm nay phải loay hoay học dùng máy tính, chứ không giản đơn cậy quyền “lão nông tri điền” để giao giảng thao thao bất tuyệt được như ngày xưa nữa. Nhưng câu hỏi trên đây vẫn đáng được đặt ra, đơn giản vì hôm nay là… Tết!

—-

Bạn đã có dịp biết hay quan sát một bạn trẻ 8 tuổi từ xứ ta sang sinh sống và học hành ở một xã hội phát triển chưa?… Nếu có, chắc chắn rằng mười năm sau, bạn sẽ gặp lại một thanh niên 18 tuổi của một thế hệ xã hội khác. Trong trường hợp tối ưu, có lẽ chỉ cần bảy năm thôi, từ mười một tuổi đến mười tám tuổi chẳng hạn.

Bạn trẻ mười tám này khi đó sẽ có tri thức, có hành xử, có quyết đoán, có bản lĩnh, v.v. của một thế hệ hiện đại hoàn toàn khác. Khác đến mức các bậc cha chú , các bậc đàn anh, các bậc cấp bề trên của anh ta, của chị ta không còn tác dụng để sai khiến gì trong thực chất cái nhân cách của anh ta, của chị ta được nữa ! Họ có nền tảng bản lĩnh rồi, có nền tảng hiểu biết rồi, người ta phải cộng tác với họ thôi.

Như thế câu hỏi có vẻ trừu tượng ở trên đây đã không còn là câu chuyện hư vô. Bảy năm, mười năm, hay, bảy cái Tết, mười cái Tết, là « có thể », là « yes, we can ». Làm thế nào, là chuyện cũng có đó rồi, phải nhận ra, học ra, và áp dụng mà thôi.

Chuyện đáng ngạc nhiên không dừng ở đây.  Nếu quan sát kĩ hơn, sẽ còn thú vị hơn thế nữa.

—-

Trong thời gian sống và làm việc ở Paris, đôi khi vào những chủ nhật nắng vàng ấm áp, tôi tự thưởng cho mình một buổi ra chơi một công viên thật đẹp đẽ, thật rộng rãi, để “thông gió” cái đầu, linh hoạt cái cơ thể bí bách của mình.

Có một chỗ thú vị để thỉnh thoảng quan sát, ngắm nghía, đó là khu chơi của bọn trẻ.

Các khu này thường được cây cối bao bọc xung quanh kín bưng như pháo đài của chàng Robinson. Bạn sẽ có nền trải bằng loại tấm xốp mềm, nhỡ có ngã chúi đầu xuống cũng không sao. Các trò chơi thì khá đủ loại, nhưng bao giờ cũng phải có leo trèo cầu trượt, đi cầu treo đung đưa, rồi các khu nhà con con, rồi đánh đu, rồi bập bênh, rồi đào cát…

Cái đáng nói là các bố mẹ của lũ trẻ thường không vào chơi cùng, mà chỉ ngồi tán gẫu, quan sát chúng từ những chiếc ghế băng công cộng được dựng ở xa xa vòng quanh.

Thế các bạn đang leo trèo này là những ai? Tùy khu, theo lứa tuổi. Khu tôi hay ghé xem là khu dành cho các bạn ở tuổi nhà trẻ, mẫu giáo, có bạn đi hay chạy còn chưa thật vững.

Hầu như hoàn toàn không có sự can thiệp của người lớn. Các bạn bé tí này xếp hàng, leo lên cầu thang, chờ đến lượt, rồi trượt xuống.

Có những cậu bé, cô bé thật kháu khỉnh, cực kì nhanh nhẹn, và “liều mạng”, đã đành. Nhiều cô cậu khác thì còn vô cùng lơ đễnh, vụng về, kém cộng tác hơn.

Thế nhưng tất cả bọn chúng làm nên một cộng đồng kỉ luật, trật tự, sáng kiến, tự do. Anh chàng này tinh nghịch là thế, mà cứ kiên nhẫn chờ mãi cái anh chàng vụng về nọ loay hoay cho được cú trượt. Rồi thì cũng đến lượt mình, anh chàng tinh nghịch này nằm chúc đầu xuống, ưỡn cong mình, hai tay vểnh lên, lao xuống như một chiếc máy bay gặp hiểm. Tiếp đất, là cười khanh khách, để rồi lại vù ra  xếp hàng cho lượt sau, hoặc sang xếp hàng chơi trò khác. Cô bé kháu khỉnh tiếp sau đó cũng chả kém, cô chạy một phần đầu trên đoạn nghiêng của cầu trượt, rồi mới kềnh ngửa người để lao xuống tiếp đất…

Rồi mấy đứa trẻ chúng thảo luận với nhau, tìm ra các trò chơi mới phức tạp hơn, cộng tác hơn. Tỉ như đứa dưới nắm chân đứa trên, đứa úp đứa ngửa, cùng trượt xuống…

Hầu như không thấy lộn xộn, không thấy tranh giành, ẩu đả, phá bĩnh, ăn vạ, to tiếng gì cả. Có gặp khó khăn thì chúng cũng không ngoảnh cổ giương mắt cầu cứu cha mẹ, mà loay hoay tự giải với nhau.

Đám trẻ này đã được học rèn tất cả những nền tảng bản lĩnh này ở nhà trẻ, ở trường mẫu giáo của chúng rồi.

Và tất nhiên, đám các phụ huynh cũng sẵn sàng “không nghênh chiến” với nhau, “không nghênh chiến” với đám trẻ. Họ cũng đã học được sự cộng tác xã hội này.

—-

Thường khi đã xem chán bọn trẻ chơi nghịch ngộ nghĩnh xong, tôi thích ra bờ hồ ngắm thiên nga, ngắm cá. Trời đất cỏ cây thật hiền hòa. Và tôi rút cây đàn bé tí ra, nằm lên bãi cỏ dưới nắng mà chuyện trò dai dẳng chẳng đâu vào đâu với nó.

Và nay thì tôi biết mười mươi rằng, chỉ cần từ ba năm, rộng ra là đến năm năm, năm cái Tết thôi, là ta đã có thể có một thế hệ hoàn toàn mới!

Phần còn lại trong cuộc đời, là bảo dưỡng, là đừng để làm hỏng cái thành quả của năm năm, của năm cái Tết đã đạt được kia.

Đó là câu chuyện Tết năm nay mà tôi muốn san sẻ cùng với các bạn. Đấy, chưa kịp loay hoay gì, đã một giáp mười hai năm của thiên niên kỉ thứ hai trôi vèo qua cửa nhà chúng ta! Giá như chúng ta đã có được bảy tiểu thế hệ mới tốt nghiệp… nhà trẻ-mẫu giáo hệ năm năm, để rồi bảo dưỡng thành công họ trở thành những con người của những thế hệ mới mẻ văn minh, vui hạnh, thành đạt…

./.

Hôn em đi

Hôn em đi
Bên những ruộng lúa mạch rậm rạp mỗi tối
Bên những bờ cỏ xanh xanh tận chân trời

Mình nhảy múa đi
Anh mang đôi giày ấy, và em diện chiếc váy này.

Hôn em đi
Dưới ánh hoàng hôn mịn sữa
Dìu em đi
trên sàn này ngập tràn ánh trăng

Anh xòe nâng bàn tay lên nào
Kìa ban nhạc, nổi nhạc lên chứ
Cho bọn đom đóm tung tăng
Cho ánh trăng ánh bạc lấp lánh
Và hôn em đi

Hôn em đi
Nhớ nhé, hôn em đi
Cứ thế, hôn em đi
Cứ vậy, hôn em đi

|-Cranberries-|

$ HMH chuyển lời

Soulman

Tôi nào có được
Cái nhìn của Spike Lee
Thiên tài của Da Vinci
Sự kiên nhẫn của bà chủ ngân hàng.
Chân tôi không chạm tới đất
Tôi không có nổi những điều này.

Tôi nào có được
Sự hiền triết của Gandhi
Sự bảo đảm của Mohamed Ali
Linh hồn của một tay anh chị
Lòng tốt của Abbé Pierre
Hào quang của Guevara
Tôi chỉ là một tay nhạc soulman

Nàng này, nghe nhé,
Tôi không phải là siêu nhân
Chuyện đó, chuyện trời biển.
Mình tôi thôi, cùng sự háo hức
Chả còn gì khác để dâng tặng
Nhưng tôi cứ là thế đã.

Tôi không có được
Sự hấp dẫn cơ thể như thấy trên tạp chí
Sự hài hước của Charlie Chaplin
Sự đầy ắp tinh thần tư tưởng
Sự giỏi giang của Bocuse
Không, tôi không có nổi những điều này.

Tôi không có được
Cái may mắn của Neil Armstrong
Cái kích cỡ của King Kong
Sự nhiệt thành của Rosa Parks
Lòng can đảm của Mandela
Tôi chỉ là một tay nhạc soulman.

Nàng này, nghe nhé,
Tôi không phải là siêu nhân
Chuyện đó, chuyện trời biển.
Mình tôi thôi, cùng sự háo hức
Chả còn gì khác để dâng tặng
Nhưng tôi cứ là thế đã.

Tôi cũng mong thích tôi được như họ
Thật xuất chúng.
Tôi đã cố gắng,
Cố hết sức rồi
Nhưng dù cố gì đi nữa
Rồi rốt cuộc
Tôi là một tay nhạc soulman

Nàng này, nghe nhé,
Tôi không phải là siêu nhân
Chuyện đó, chuyện trời biển.
Mình tôi thôi, cùng sự háo hức
Chả còn gì khác để dâng tặng
Nhưng tôi cứ là thế đã.

- Ben L’Oncle Soul -

[CH chuyển lời]

Bạn bè


Bạn bè,
Những người này, muốn vượt khỏi chính mình.

Bạn bè,
Những người kia, gắng vượt lên chính mình.

Bạn bè,
Những người đó, chung dựng một lâu đài.

Dù chỉ bằng cát,
trên bãi cát,
khi triều xuống,
thênh thang.

|- HHM 1201 -|
|- Gõ phím đầu năm -|

Đón Tết 2012… Và đón Tết Vũ Trụ

Những khoảnh khắc cuối cùng của năm này, 2011, đang lặng lẽ trôi đi. Mấy lời tiễn năm này, kẻo 2011 lại thắc mắc, 2012 lại làm cao.

Dù khiêm tốn đến mấy, bạn cũng đã tham gia rất nhiều chuyện « quan trọng » trong trời đất một năm qua.

Một năm, bạn đã đi được một vòng xung quanh Mặt Trời, nhờ mình vẫn kí sinh trên con tàu Trái Đất.

Nói một năm, thực ra ta nói “một năm Trái Đất”, thời gian để Trái Đất chạy hết được đúng một vòng xung quanh Mặt Trời.

Trong một năm đó thì ánh sáng du ngoạn được khá xa, 9.46 trillion, hay triệu triệu, hay nghìn tỉ cây số (trong điều kiện chân không). Hình dung thế nào? Một giây ánh sáng đi được 299 792 cây số, nghĩa là chỉ mất 1,3 giây để tia sáng tỏa đi từ khuôn mặt chị Hằng (Mặt Trăng) đến mi mắt bạn! Nhưng buổi sáng ngày ra thì tia nắng Mặt Trời lề mề hơn nhiều, phải mất 8,3 phút nó mới đi xong quãng đường từ Mặt Trời đến để đến ra mắt bạn.

“Một năm Vũ Trụ” thì to chuyện. Đó là thời gian để (Hệ) Mặt Trời của chúng ta làm được một vòng quanh trung tâm của Thiên Hà của chúng ta (Milky Way Galaxy). Chúng ta cũng chả phải làm gì, nhưng phải sống đủ lâu để đi hết được một năm này. Năm này dài bằng… 22.5 triệu năm trái đất! Tóm lại là từ khi loài người sinh ra cho đến giờ chúng ta chưa đi được hết một vòng này, và chưa bao giờ được đón Tết Vũ Trụ.

Chuyện to hơn thế nữa… có chứ… nhưng thôi, thế đã, kẻo to quá mức.

—-

Cụ Hinh chúc ai đó trong chúng ta sẽ được đón Tết Vũ Trụ này, nhờ vào một phép may nào đó.
Ví dụ nhờ chịu khó luyện hóa kiếp bền bỉ liên tục chẳng hạn.

Say “why not?”, please!(*)

—-
(*) Cứ nói là có thể lắm đi, đã chết ai?

Chuyện gọi đúng tên

Bản nguyên – HOÀNG Hồng-Minh

Nhiều người hôm nay chán ngán với tình trạng rối loạn về các tên gọi bát nháo ở khắp nơi. Sự rối loạn về tên gọi trong xã hội tất nhiên rất cần được cảnh báo. Ai cũng mong có được các tên gọi giản dị, chính xác nhất trong phạm vi có thể. Ví dụ, nếu một sự cố rất nghiêm trọng xảy ra trong xã hội, mà rồi cuối cùng chỉ có tình trạng « kiểm điểm rút kinh nghiệm của tập thể », thì tình trạng đó cần được gọi là tình trạng « không thể truy cứu được trách nhiệm ». Như thế tình trạng này hẳn sẽ rõ ràng hơn ra, và buộc chúng ta phải tìm cách tháo giải nó.

Câu chuyện mong mỏi hãy cố gắng « gọi đúng tên » sự vật, bất cứ ai cũng có nhu cầu này.

Nói chuyện này, một số người có thói quen hay nối cái nhu cầu « gọi đúng tên » giản dị với một vấn đề lịch sử nổi tiếng hơn nhiều, « thuyết chính danh của Khổng Tử ».

Như thế, chuyện bé bị xé nghe kêu thật to đã đành, mà bản thân câu chuyện lại bị kê lệch đi.

Bản thân ông Khổng Tử quan tâm chính yếu đến chuyện chính trị, đức trị, và đặc biệt là lễ trị, sao cho các xã hội nhiễu nhương thời ông đang sống sẽ trở về lại được khuôn phép như thời nhà Chu lý tưởng của ông. Thời Khổng Tử sống là thời loạn lạc, việc tôi giết vua, con giết cha thường thấy xảy ra.

Nên chuyện « chính danh » của Khổng Tử liên quan chính yếu đến « danh phận » trong xã hội, và ông Khổng Tử nổi tiếng được cũng nhờ ở chỗ đó. Câu nói nổi tiếng của ông về chính danh là lời kêu gọi « quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử », « vua cho ra vua, tôi cho ra tôi, bố cho ra bố, con cho ra con ». Ông hy vọng một khi đã định lại được danh phận đâu ra đấy, lễ nhà Chu sẽ thực hành lại được, và xã hội sẽ vào lại khuôn phép trật tự như xưa.

Về sau này các triều chính Đông Á lại hóa ra mê Khổng giáo, vì « quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử » thì cũng rất có lợi cho tôn ti trật tự một chiều để củng cố các triều chính. Tất thảy được đẩy lên tới cực đoan : “vua xử bề tôi chết, bề tôi không chịu chết là đồ bất trung; bố xử con chết, bề con không chịu chết là đồ bất hiếu”. Không còn bóng dáng của lý tưởng tự do, của quyền làm người, của bay bổng học thuật, văn hóa, nghệ thuật, khoa học.

Nếu ta dùng chữ « chính danh » theo nghĩa đời thường là « gọi đúng tên », thì không việc gì phải phiền huy động cả Khổng Tử tham gia vào đây, vì ai cũng thấy cái nhu cầu thiết thực hàng ngày này rồi. Nhưng không nên và không cần nhầm cái nhu cầu phổ biến này với cái « thuyết chính danh » lịch sử nọ của Khổng Tử.

—-

Còn làm sao « gọi đúng tên» được các sự vật, thì lại là mênh mông.

Tên gọi là một phép gán của một từ vào một đối tượng, và nếu những từ đã tồn tại từ lâu đời thì phép gán này có tính quy ước lịch sử của nó. Tỉ như chúng ta gọi cái thể chế công quyền là « nhà nước », chữ « nhà » trong đây có vấn đề của lịch sử. Các biểu đạt cũng thế, mang nhiều tính quy ước văn hóa lịch sử. Nói « ba cây chụm lại nên hòn núi cao », chữ « cây » ở đây là nghĩa gì vậy ?

Như vậy công việc quan trọng hơn, là trong một lĩnh vực đã xác định, cần xây dựng các khái niệm được định nghĩa rõ ràng về các đối tượng, sao cho các khái niệm này chứa đựng các tri thức mang độ chính xác cao về các đối tượng, rồi xây dựng các lý thuyết hoàn chỉnh từ các khái niệm đó. Để rồi chúng ta có thể làm việc hiệu quả với các khái niệm của các lý thuyết này, mà thước đo tính hữu hiệu của các lý thuyết này là khả năng can thiệp vào thế giới các đối tượng một cách chính xác, hiệu quả, đem lại nhiều ích lợi bền vững cho đời sống.

Một lĩnh vực cọ sát sàn sạt đời sống xã hội của mỗi chúng ta là vấn đề luật pháp. Các khái niệm của luật pháp thì không thể lơ mơ giải nghĩa tùy theo tâm trạng của quan tòa được.

Và câu chuyện « gọi đúng tên » rộng ra cần được hiểu như một quá trình cố gắng tiến lên về năng lực hiểu biết chính xác, phong phú về thế giới tự nhiên, thế giới con người, cùng với việc mở mang những năng lực để quản trị, để sáng tạo đời sống của chúng ta nhiều vui hạnh./.

Tia Sáng

Mùa màng xã hội


Tuổi trẻ cuối tuần – HOÀNG Hồng-Minh

Thời cả xã hội là xã hội nhà nông đã qua đi, ít ra là ở các thành phố hôm nay.

Tranh minh họa do Vũ Đình Giang
#Tranh minh họa do Vũ Đình Giang

Xã hội nhà nông xưa nhiều nghèo khổ và bấp bênh, nhiều bệnh tật và đói nghèo, nhiều dốt nát và áp bức… nhưng tất nhiên không chỉ có thế.

Một trong những cái hay và đẹp nhất của xã hội nhà nông ngày xưa là con người sống với nhịp điệu. Nhịp điệu của thời gian, của thời tiết, của mùa màng, của lễ hội.

“Tháng Giêng là tháng ăn chơi,
Tháng Hai trồng đậu, tháng Ba trồng Cà,
Tháng Tư cày vỡ ruộng ra . . .”

Nhớ tới thuở nào đi điền dã ở Tây Nguyên, mùa mưa rầu rĩ dai dẳng ở đó được người dân gọi là “mùa quên”. Uống rượu và nhảy múa, còn làm gì được hơn? Và cầu khấn thành lòng để cho kho lương thực đừng có mà hết sớm.

Mọi vận động, dù nhanh, dù chậm, chỉ có thể bền bỉ được nếu nó tôn trọng nhịp điệu. Con báo đuổi mồi, hay con rùa cần mẫn, cũng đều tuân thủ nhịp điệu. Mọi vận động bề nổi, phong trào, không hiểu biết và không tôn trọng nhịp điệu, sẽ chỉ đi đến rối loạn, hỏng hóc, kiệt quị.

—-

Nếu hôm nay bạn muốn tổ chức một lễ hội mấy trăm năm có lẻ gì đó của Sàigòn, và bạn muốn rằng khách bốn phương sẽ hạ cánh đông đảo ở phi trường Tânsơnnhất, bạn hẳn sẽ có nhiều việc phải làm.

Nhưng hãy chú ý, đừng tổ chức vào cái tháng Mười chẳng hạn.

Tại sao?

Bởi vì người dân của nhiều xã hội đã phát triển đã tổ chức lại đời sống… theo nhịp điệu mùa màng. Mùa màng xã hội.

Tháng Mười là tháng học hành. Trẻ em đi học chính qui, ngoại khóa.

Người lớn đi làm, mà cũng đi học ngoại khóa về thể thao, về văn hóa nghệ thuật, hoặc cả về chính quy. Bạn sẽ chỉ đón được những du khách là người về hưu thôi, với ngoại lệ nhỏ những người khác chưa về hưu, tỉ như những người trúng sổ xố, những người mà con cái họ đã trưởng thành…

Bạn nhất định đi công cán làm ăn ở xứ đã phát triển vào mùa hè? Thì cứ đi đi, nhưng hãy chuẩn bị thêm tiền để mà không gặp ai thì ra bãi biển nằm phơi nắng nghe sóng vỗ, hay lên núi du ngoạn chơi thả hồn cùng mây trời.

Không ai tiếp bạn đâu, dù là mấy ông chủ hãng tư nhân hay các ông quan chức nhà nước nghiêm trọng. Nếu bạn để dành được tiền thì việc du lịch các thành phố lớn ở châu Âu vào mùa hè là điều đáng làm, vì các thành phố đó bỗng dưng vắng tanh hẳn lại, ngủ gật trong nắng hè.

Sau những hối hả của cái thuở ban đầu “mải miết làm ăn quên cả mệt”, đến một lúc nào đó xã hội cũng phải nghĩ lại câu hỏi về tính hướng đích của các hoạt động làm nên đời sống của mình.

—-

Các thành phố của chúng ta hôm này bộn chộn quá. Xã hội của các thành phố chúng ta vừa chui ra khỏi nửa chừng cái nền văn minh mùa màng nông nghiệp, đã lại quên sạch cái nhịp điệu mùa màng này.

Cuộc sống luôn là một tổng thể. Không thể chỉ có mải miết sản xuất và buôn bán. Làm việc suốt quanh năm ngày tháng, bạn đủ tiền để mua một chục cái đàn, nhưng bạn sẽ không đủ thời gian để tập chơi một bài đàn cho ra đầu ra đũa. Đầu bù tóc rối làm ăn, rồi một hôm ngẩng lên chê vợ chê chồng mình sao già nhanh thế.

Phải xem xét lại việc tổ chức đời sống, học hành.

Phải nâng số ngày nghỉ phép bắt buộc dành cho người lao động lên, bất kể họ ở khu vực nào, nhà nước, hay tư nhân. Mười ngày một năm? Không đủ. Phải tiến tới 20 ngày, rồi sau này 30 ngày phép một năm. Đưa số ngày nghỉ phép bắt buộc đó vào trong luật lao động!

Hãy nhớ rằng việc tổ chức lao động xã hội cho giỏi còn quan trọng hơn bản thân sự lao động.

Phải xem xét lại việc tổ chức rộng khắp, phong phú, khoa học cái đời sống văn hóa tinh thần, thể thao, với đủ các loại khóa học hành, tập luyện, thi đấu, biểu diễn, trao đổi.

Hãy trả lại cho con người chúng ta nhịp điệu mùa màng.

Trả lại mùa màng xã hội./.

—-
P.S. Nói ví dụ ở nước Pháp, cuối tháng Mười cũng có kì nghỉ ngắn mươi ngày cuối tháng cho học sinh phổ thông, nhưng là quá ngắn để viễn du, chưa kể bài tập kì học còn đầy đó. Tháng Mười Một thì hoàn toàn không có kì nghỉ…

Nói chuyện tháng Mười, vì người ta đã từng nhất nhất làm một đại lễ vào tháng Mười, mà lại mong đón khách trời Tây thật đông đảo.

Tiến tăm


Bài trên Tia Sáng – HOÀNG Hồng Minh

Sáng thứ bảy vẫn còn đang ngái ngủ sau một tuần bộn rộn thì anh bạn đã réo điện thoại « dậy chưa, đi ăn sáng ở sơn trại đi “, vừa tức ông này, vừa thấy cũng hay hay… “Mấy ông doanh nhân này lấy đâu ra mà lắm năng lượng thế! Chơi với các vị này vui có vui, mà cũng có mệt!”.

Lại thấy chuông réo tiếp “tôi ở dưới cổng nhà rồi nhé”, kèm theo tiếng cười khúc khích. Anh chàng muốn bất ngờ đây mà!

—-

“Chào cậu. Tuần vừa rồi tớ lắm việc quá, tưởng sáng nay sẽ sẽ ngủ bù được, vậy mà không! Lôi ông dậy sớm ra ngoại ô cho thanh cảnh”. Anh bạn thắt dây lưng, vào số xe, lên đường.

Gió sông Hồng ẩm mát phần phật qua cầu Thăng Long. Nhớ ngày nào bê xe đạp xuống con đò Chèm nhỏ bé chòng chành để mà vượt sóng sông Hồng mênh mông, nhìn sang bờ bên kia như một miền đất hứa xa xăm nào khác…

Đây rồi hàng quán sơn trại mới sáng ra, tịnh không một bóng người, lặng lẽ. Cỏ còn đầm ướt hơi thở sương mai. Mùi đất dạt dào quê hương. Cả hàng quán có mỗi một cô bé cần mẫn coi nhà bếp. Nhờ được cô bé làm cho đĩa nhắm, cùng tí chút rượu quê để nhấm nháp.

Căn nhà sàn đơn côi. Có hạt mưa nào đọng lại tí tách ngoài khung cửa.

Nhấm nháp giản dị, chuyện trò đơn sơ. Trong yên lặng, cả hai chúng tôi đều thả mình tận hưởng cái cảm giác về miền quê đồi núi thanh tịnh đơn sơ như tự thuở nào. Có con mọt nào đang gặm xà gỗ trên cao, và cô gà mẹ nào bắt đầu dẫn lũ con đi đào bới. Mấy con dế hát ậm ẹ, không biết là cố tình hay vô thức vậy…

Chuyện trò câu được câu chăng, cũng chẳng đâu vào đâu. Chuyện cũ nhiều hơn chuyện mới.

Khi sự mộc mạc trụ trì, chân lý trở nên vô duyên, không ai muốn mời chúng dự cuộc.

Thấm thoắt, mà rồi cũng đã quá giữa buổi sáng rồi. Tại sao thời gian trong vui tịnh thì lại ngắn? Cuộc đời nhiều niềm vui thì chả nhẽ sẽ ngắn hơn?

Chúng tôi xuống nhà chào cô bé nhà bếp, gửi tiền. Đang dở tay mổ gà, cô liền chùi hai tay vào sau vạt áo mình, lục trong túi áo một hồi, rồi rút ra chiếc tăm. Hai bàn tay cô cầm hai đầu chiếc tăm, đưa lên, rất cẩn thận mời tôi. Rồi lại mời anh bạn. Chúng tôi vui vẻ cầm vào phần giữa của chiếc tăm, nhận lấy nó, và cảm ơn cô.

Ra đến xe anh bạn bảo « người ta lòng thành, nhưng hai đầu tăm bị bẩn đấy nhé, anh bẻ đôi cái tăm ra, phần giữa coi như là sạch».

—-

Thế nhưng cái tăm này lại là một món quà đặc biệt. Nó chứa đựng nhiều điều thú vị.

Nó chứa đựng rất nhiều tình cảm và sự lễ phép ở trong đó.

Cô bé đang bận mổ gà là như thế, mà nhất định không quên chuyện phải có chiếc tăm cho chúng tôi sau bữa ăn.

Mấy chiếc tăm bé tí tẹo, cô đã cố công lục chúng trong túi áo. Cô nhất định tìm bằng được ra chúng.

Cô lại dùng cả hai bàn tay để nâng được hai đầu chiếc tăm bé xíu lên, để « tiến tăm » cho chúng tôi. Ngày hôm nay, khó mà tìm lại được cái tinh thần đó ở giữa chốn phố phường.

Hiệu quả của việc tiến tăm, thì lại là cả một câu chuyện khác.

Hai đầu tăm vẫn còn mùi thịt gà tươi sống…

—-

Anh bạn lái xe một hồi, rồi quay sang «cậu làm gì mà có vẻ suy tư vậy».”

-” Tôi lại vừa được trải nghiệm kĩ thêm một điều đã cảm nghiệm từ lâu nay. »

-« Điều gì vậy ? »

-« Chuyện tiến tăm… ».

-”Chữ nghĩa khó thế!”.

-« Cô bé lúc nãy đã học thành lòng, học kĩ lưỡng sự chu đáo, sự tử tế, sự cố tâm để làm vui lòng người khách.
Cô là cô bé học trò thật ngoan ngoãn và thành tâm trong sự việc này.

Nhưng cô bé không đi được đến cái bến cuối của sự học.

Cái bến cuối đó là : học một việc gì, thì cũng để rồi mình không còn là đứa học trò bé bỏng mãi mãi của cái việc đó nữa. »

-« Ừ, những chuyện như thế thì còn nhiều nữa lắm nhé… ».

-« Ở đây tôi chỉ nghĩ đến những công việc tử tế và những con người tử tế.

Trong rất nhiều việc này, việc nhỏ, việc to, và cả việc rất to, tôi vẫn nhận thấy cái tinh thần chí nguyện làm một đứa học trò bé bỏng mãi mãi của những người người trong cuộc.

Có cái gì đó trong cái nôi văn hóa đã ru họ thế chăng?»./.

Quảng bá-tuyên truyền và thông tin


Bài trên Tia Sáng – HOÀNG Hồng-Minh

Cửa vào nhà hàng siêu thị thường làm lóa mắt công chúng bằng cả một dãy các đồ dùng điện tử mỗi ngày một mới mẻ và hấp dẫn.

Một cụ già tần ngần đứng đó hồi lâu, rồi chợt vớ được một cô bán hàng trẻ trung hiện đại.

-”Chào cô, tôi muốn hỏi cô về cái máy tính tí chút ạ.”

-”Chào bác, em đang bận quá… Bác cứ xem máy đi đã nhé. Ôi máy tính bây giờ thì đơn giản lắm, như cái tivi thôi, bác cứ tha hồ chọn rồi mua về, bật lên là dùng được ngay ạ.” Cô gái vội vã bước đi với tờ hóa đơn của ai đó trong tay.

—-

Cụ già gãi đầu… May quá, lại có một anh nhân viên của cửa hàng đi qua.

-”Chào anh, tôi muốn hỏi anh về cái máy tính tí chút ạ.”

-”Chào bác, hết sức ngắn gọn nhé.”

-”Vâng, tuần trước tôi có mua ở đây một cái máy tính, về bật lên, nó chạy ngay. Nhưng từ mấy hôm nay nó cứ đứng trơ ra đó, không nhúc nhắc gì nữa…”

-”Khổ lắm, máy tính chứ có phải tivi đâu! Bác chờ cho tí nhé, tôi đang bận với ông khách hàng này.”

Đoạn anh nhân viên quay sang nói với ông khách hàng đang dở việc cùng mình “lại mấy bác cao tuổi, cứ mải mê ngắm mấy cô bé tươi rói của tổ bán hàng, rồi loay hoay thế nào cũng mua chơi mấy cái đồ máy tính này, cuối cùng là chết đám hậu sự chúng tôi!”

—-

Các chiến dịch quảng bá-tuyên truyền thương mại đứng đắn đều cố gắng làm cái công việc như sau : từ những sự thật về những ưu điểm của các hàng hóa của mình, họ tạo dựng nên các làn sóng truyền thông mạnh mẽ trên media, các phương tiện truyền thông đại chúng hiện đại. Để mê hoặc đám khách hàng phi truyền thống vốn ít cảm tình, nhằm củng cố niềm tin cho các khách hàng vốn có thiện cảm, và cố châm lửa vào bầu nhiệt huyết tiêu dùng của những khủng khách của mình.

Các chiến dịch đứng đắn này không nói dối, như thế thì tầm thường và gian lận quá, khỏi bàn ở đây.

Các chiến dịch đứng đắn này chỉ nói thật, bằng cách xoáy chí mạnh mẽ vào kho xúc cảm của các khách hàng, sao cho có lợi cho mình.

Sự thật không đầy đủ, sự thật được tuyển chọn vì mục tiêu sẵn có, sự thật không nhằm thúc đẩy sự phân tích so sánh về lý trí, sự thật không nhằm hướng tới sự thật hoàn chỉnh hơn, đó là sự thật chưa ra khỏi miền đất của quảng bá-tuyên truyền.

—-

Quảng bá-tuyên truyền là một hoạt động phổ biến trong nhiều lĩnh vực của đời sống hàng ngày.

Thương mại đã đành, nhưng cũng có y tế, có an toàn giao thông, có hoạt động văn hóa, có sự kiện thể thao, có du lịch hội hè, có vận động bầu cử, v.v.

Vậy thì cái gì làm ranh giới giữa quảng bá-tuyên truyền với thông tin?

Thông tin nhằm đưa lại các sự thật phi hướng đích vụ lợi, tự cảnh báo phần thiếu sót về thông tin của chính bản thân lĩnh vực đang được đề cập đến, thúc đẩy tinh thần phân tích so sánh về lý trí, mở đường cho sự tìm hiểu và thảo luận cân nhắc, hướng tới sự thật toàn diện hơn.

Quảng bá-tuyên truyền đứng đắn nhắm sự thật không đầy đủ, sự thật được tuyển chọn vì mục tiêu sẵn có, sự thật nhằm khai thác cảm xúc của đối tượng, hạn chế sự so sánh phân tích, gắng sức để đối tượng có quyết định nhanh nhất có thể theo hướng đích quảng bá-tuyên truyền của mình.

—-

Cần làm gì với quảng bá-tuyên truyền và thông tin?

Xây dựng một xã hội văn minh là xây dựng một tinh thần sòng phẳng, tôn trọng mọi người trong đời sống.

Trên tivi, báo chí… bạn có mục quảng bá-tuyên truyền: bạn có thể áp dụng mọi chiến thuật quảng bá-tuyên truyền với những sự thật có lợi cho việc bán sản phẩm, nhưng bản thân chúng được giới hạn trong trang mục này, và được ghi rõ là “quảng bá-tuyên truyền”. Điều đó cho phép cảnh tỉnh người tiêu dùng.

Các cuộc vận động y tế, an toàn giao thông, biểu diễn nghệ thuật, thi đấu thể thao… cũng vậy, bạn có thể áp dụng mọi chiến thuật quảng bá-tuyên truyền với những sự thật có lợi cho công việc, nhưng cần được ghi rõ ở đó rằng « đây là vận động quảng bá-tuyên truyền ».

Trong một chiến dịch bầu cử tại một cơ sở doanh nghiệp, một tổ chức xã hội, các ứng cử viên có thể áp dụng mọi chiến thuật quảng bá-tuyên truyền với những sự thật có lợi cho việc để họ được bầu. Nhưng phải ghi rõ ở đó rằng rõ rằng « đây là vận động quảng bá-tuyên truyền » trong phạm vi chiến dịch bầu cử.

—-

Trong mọi trường hợp, không được đưa quảng bá-tuyên truyền nằm dưới dạng đưa thông tin đơn thuần.

Một bộ luật kĩ lưỡng về hoạt động quảng bá-tuyên truyền và thông tin sẽ là điều mà một xã hội văn minh đòi hỏi./.

Ảnh hưởng của Kinh Dịch đối với văn hóa Trung Quốc

Dương Chấn Ninh – bài trên Tia Sáng

Cụ Hinh quan tâm đến phần ông Dương Chấn Ninh bàn về việc tại sao cái tiếng Hán loay hoay thế nào mà bị biến thành độc âm. Một số vị ngôn ngữ học xứ Việt thì lại hăng hái luận rằng độc âm là bản chất độc đáo tự có từ thuở hồng hoang của tiếng Việt.

Dương Chấn Ninh hiện là GS ĐH Thanh Hoa Bắc Kinh và ĐH Hồng Công

Trong bài phát biểu ngày 3/9/2004 tại Diễn đàn đỉnh cao văn hóa 2004 tại Bắc Kinh, GS Dương Chấn Ninh (Nobel Vật lý năm 1957), cho rằng Kinh Dịch ảnh hưởng sâu sắc đến cách tư duy trong văn hóa Trung Quốc và đây là một trong các nguyên nhân quan trọng làm cho khoa học cận đại không nảy sinh tại Trung Quốc.

—-

Đề tài bài nói của tôi là Ảnh hưởng của Kinh Dịch đối với văn hóa truyền thống Trung Quốc; trong mấy chục phút sau đây tôi sẽ bàn về nhiều quan niệm: tinh giản, tỉ loại [1], thiên nhân hợp nhất, liên tưởng, thủ tượng, sự hình thành Hán ngữ và Hán tự, quy nạp. Trong một thời gian ngắn không thể nói rõ nhiều quan niệm như vậy, nên xin chỉ tập trung bàn 3 vấn đề sau: [Hình 1]

Tinh thần của Kinh Dịch là gì: cô đọng hóa, phân loại hóa, trừu tượng hóa, tinh giản hóa, ký hiệu [phù hiệu] hóa … là tinh thần của Kinh Dịch. Tôi cho rằng tinh thần ấy xuyên suốt đến từng xó xỉnh trong nền văn hóa truyền thống Trung Quốc mấy nghìn năm.
1) Kinh Dịch ảnh hưởng tới phương thức tư duy của văn hóa truyền thống Trung Quốc; ảnh hưởng đó là một trong các nguyên nhân quan trọng khiến cho khoa học cận đại không thể nảy sinh tại Trung Quốc.

2) Kinh Dịch là một trong các nguyên nhân làm cho Hán ngữ trở thành ngôn ngữ đơn âm.

3) Kinh Dịch ảnh hưởng tới quan niệm thẩm mỹ của văn hóa Trung Quốc.

Hình 1. Chữ ở chính tâm vòng tròn: “Dịch”
Các chữ ở trên vòng tròn, theo chiều kim đồng hồ, từ vị trí chính giữa trên: “Tinh giản”, “Thiên nhân hợp nhất”, “Liên tưởng”, “Hán ngữ”, “Hán tự”, “Quy nạp”, “Thủ tượng”, “Tỉ loại”

Tôi làm công tác nghiên cứu vật lý, chưa từng nghiên cứu sử học, khảo cổ học, ngôn ngữ học, mỹ học, triết học; nhưng gần đây tôi bắt đầu quan tâm tới nguồn gốc hình thành văn hóa Trung Quốc. Bởi vậy, nhân dịp này tôi xin mạnh dạn trình bày một số suy nghĩ của mình.

Mọi người đều biết Kinh Dịch là một văn bản rất cổ của Trung Quốc, nghe nói từ triều đại nhà Hạ đã có bản Kinh Dịch sớm nhất, gọi là Liên Sơn. Đời nhà Thương có sưu tập bảo quản nhưng đều thất truyền. Kinh Dịch mà chúng ta hiện nay được thấy là Chu Dịch thời Tây Chu. Cho nên thời gian thai nghén Kinh Dịch ít nhất trải qua hơn 1000 năm. Tôi nghĩ mọi người có thể đồng ý với kết luận đó.

64 quẻ của Kinh Dịch bắt đầu bằng quẻ Càn và quẻ Khôn. Nếu hỏi Kinh Dịch hình thành như thế nào, tôi cho rằng mọi người có thể chấp nhận cách nói như sau: Trung Quốc phát triển bói toán sớm nhất, vì muốn hiểu bói toàn một cách có hệ thống nên đã phát triển quái phù [ký hiệu của quẻ]. Tất cả 64 quẻ đều có quái phù. Càn là 6 vạch nét liền. Khôn là 6 vạch nét đứt. Sau khi có quái phù còn phải có tên gọi [quái danh] và chữ [tự] cho mỗi quẻ. Tên quẻ có âm [âm thanh]; có âm vẫn chưa đủ, bèn có một chữ [tự]. Có lẽ thứ tự trước sau quá trình phát triển này là như vậy. Vì tôi không nghiên cứu khảo cổ học nên tôi nghĩ rằng rất có thể cái thứ tự ấy ít nhiều có phần đúng.

Chúng ta biết rằng niên đại thai nghén Kinh Dịch cũng là niên đại Hán ngữ, Hán tự bắt đầu hình thành, là niên đại thai nghén nền văn hóa Trung Hoa. Những quẻ này là “Tượng”; trong Chu Dịch có nói như thế. “Tượng” là quan niệm đã cô đọng, là cái “Tượng” dùng quái phù, tên quẻ để phân loại sự biến thiên của trời, đất, người.

Có thể nói đoạn trình bày ở trên dùng ngôn ngữ ngày nay để thuật lại chuyện rốt cuộc tinh thần của Kinh Dịch là gì: cô đọng hóa, phân loại hóa, trừu tượng hóa, tinh giản hóa, ký hiệu [phù hiệu] hóa … là tinh thần của Kinh Dịch. Tôi cho rằng tinh thần ấy xuyên suốt đến từng xó xỉnh trong nền văn hóa truyền thống Trung Quốc mấy nghìn năm.

Chẳng hạn có cực nhiều thí dụ về tinh giản phân loại. Ngày nay ta đều biết trong lý luận Trung Y có một điểm quan trọng là chia bệnh tật và y dược thành các loại âm dương, nóng lạnh, trong ngoài; dùng quan niệm phân loại này làm tiền đề lớn để phát triển lý luận Trung Y. Đó là thứ truyền lại từ truyền thống của Kinh Dịch. Ta có thể nêu ra rất nhiều thí dụ như vậy.

Nguyên nhân làm cho khoa học cận đại không nảy sinh ở Trung Quốc

Vì sao khoa học cận đại không nảy sinh tại Trung Quốc ? Vấn đề này đã có rất nhiều người bàn thảo. Quy nạp lại, đại để có 5 lẽ sau.

Thứ nhất, truyền thống của Trung Quốc là nhập thế chứ không phải xuất thế. Nói cách khác là tương đối chú trọng thực tế, không chú trọng lý luận trừu tượng.

Thứ hai, [Trung Quốc áp dụng] chế độ khoa cử.

Thứ ba, [văn hóa truyền thống Trung Quốc] có quan niệm cho rằng kỹ thuật không quan trọng, cho rằng đó chỉ là “Kỳ kỹ dâm sảo” [sản phẩm kỳ dị mà tinh xảo].

Thứ tư, [văn hóa] truyền thống Trung Quốc không có phương pháp tư duy kiểu suy diễn.

Thứ năm, có quan niệm Thiên nhân hợp nhất.

Tôi cho rằng điểm thứ 4 và 5 có quan hệ khăng khít với Kinh Dịch.

Trước hết nói về điểm thứ tư.

Nội hàm của Thiên nhân hợp nhất quyết không phải chỉ là “nội ngoại nhất lý” mà còn có “Thiên nhân hài hòa” quan trọng hơn. Thiên nhân hài hòa có ảnh hưởng cực lớn tới truyền thống Trung Quốc.
Phương pháp tư duy của khoa học cận đại có đồ thị như sau về hai loại phương pháp tư duy kiểu suy diễn và kiểu quy nạp. [Hình 2]

Quy nạp và suy diễn [tiếng Anh là Inductive method và Deductive method] đều là phương pháp tư duy không thể thiếu trong khoa học cận đại. Để trình bày rõ điểm này, ta hãy xem xét lịch sử xây dựng phương trình Maxwell do Maxwell (1831-1879) sáng lập.

Hình 2. Hình bên trái, từ trên xuống: “Quy luật tự nhiên”; chữ trong khung: “Quy nạp”
Hình bên phải, từ trên xuống: “Quy luật tự nhiên”; chữ trong khung: “Suy diễn”
Dòng chữ ở dưới: Hai phương pháp tìm kiếm quy luật tự nhiên của khoa học cận đại. Phương pháp quy nạp được biểu diễn bằng đường nét đứt thể hiện sự khó khăn của phương pháp này. Phương pháp suy diễn được biểu diễn bằng nét liền, thể hiện sự dễ dàng của phương pháp này.

Maxwell là nhà vật lý vĩ đại nhất thế kỷ XIX. Vào giữa thế kỷ ấy, ông viết ba bài báo đặt nền móng kết cấu chính xác cho sóng điện từ, qua đó làm thay đổi lịch sử nhân loại. Các phát minh sau này được phát triển trong thế kỷ XX như vô tuyến điện, truyền hình, thông tin mạng v.v… tất cả đều dựa trên cơ sở phương trình Maxwell. Vậy ông làm như thế nào để có được kết quả có tính chất đánh dấu thời đại như thế?

Trong bài báo thứ nhất, Maxwell đã sử dụng phép quy nạp; trong đó có một đoạn như sau :

“Chúng ta cần nhận thức được việc các nhánh của vật lý học rất giống nhau; tức là nói trong vật lý học có các nhánh khác nhau nhưng kết cấu của chúng lại có thể chứng minh lẫn cho nhau.”

Ông dùng quan niệm đó để nghiên cứu ra cách viết phương trình điện từ học, lấy một số phương trình cơ học chất lỏng làm bản gốc. Phương pháp nghiên cứu này tuân theo tinh thần của phép quy nạp.

Mấy năm sau, trong bài báo thứ ba, ông vận dụng phương pháp suy diễn vào phương trình điện từ (được lập nên bằng phương pháp quy nạp), đi tới kết luận : các phương trình đó thể hiện điện từ có thể truyền đi dưới hình thức sóng với tốc độ sóng phù hợp tốc độ ánh sáng lúc ấy đã biết, cho nên “ánh sáng tức là sóng điện từ”. Đây là một suy luận đánh dấu thời đại, nó đã thúc đẩy sự phát triển KHKT thế kỷ XX và phương thức sinh hoạt của loài người ngày nay.

Câu chuyện trên thể hiện rõ phương pháp quy nạp và suy diễn đồng thời là phương pháp tư duy cơ bản của khoa học cận đại.

Một đặc sắc lớn của văn hóa truyền thống Trung Hoa là có phương pháp quy nạp nhưng không có phương pháp suy diễn. Trong đó đâu là nguồn gốc của phương pháp quy nạp ?
“Dịch giả tượng dã”, “Thánh nhân lập tượng dĩ tận ý”, “Thủ tượng bỉ loại”, “Quan vật thủ tượng”.

Những câu này đều quán xuyến tinh thần của Kinh Dịch, đều là phép quy nạp, là phương pháp hướng lên trên tìm cái “Tượng” toàn bộ.

Thế nhưng văn hóa Trung Hoa không phát triển ra phép suy diễn. Làm sao ta có thể chứng minh khiếm khuyết ấy ? Mời quý vị xem một số câu nói của Từ Quang Khải (1562-1633), một vị đại thần cuối thời nhà Minh, cũng là một đại học giả. Mọi người đều biết ông là người đầu tiên hợp tác với Matteo Ricci [2] phiên dịch bản gốc tác phẩm hình học của Euclide; hai người đã dịch được 6 chương đầu tiên. Hiện nay trong nước còn giữ được mấy bản dịch gốc của họ. Tôi có lần đến Thư viện Bắc Kinh mượn đọc bản gốc đó.

Hình học Euclide là một cống hiến lớn trong lịch sử loài người, đầu tiên quy luật hóa phép suy diễn, có ảnh hưởng rất lớn, không thể tính toán được. Sau này Newton viết Principia Mathematica [Nguyên lý toán học của khoa học tự nhiên]. Nếu đọc cuốn sách ấy thì bạn sẽ thấy phương pháp viết của Newton hoàn toàn theo phương pháp trong bản gốc Hình học Euclide, tức là từ các tiên đề, định lý đi tới chứng minh v.v…Cuốn sách ấy sao chép hình thức phép suy diễn của Euclide. Điều không may là Từ Quang Khải dịch sách hình học Euclide tuy sớm (hồi đó Newton chưa ra đời) nhưng trong gần 300 năm sau khi dịch, sách này chưa gây được ảnh hưởng nên có tại Trung Quốc.

Sau khi dịch sách nói trên, Từ Quang Khải hiểu được một đặc điểm của phép suy diễn là “Dục tiền hậu cánh trí bất khả đắc [Không được thay đổi thứ tự trước sau].”

Tức là không được đảo lộn thứ tự các suy luận. Điều này khác với truyền thống của Trung Quốc. Truyền thống Trung Quốc không chú ý logic, không chú ý thứ tự thuyết lý, đòi hỏi người đọc tự mình hiểu ra kết luận cuối cùng. Từ Quang Khải còn có mấy câu rất nổi tiếng như sau:

Tự chí hối, thực chí minh [có vẻ tối tăm, thực ra là sáng sủa],

Tự chí phồn, thực chí giản [có vẻ phức tạp, thực ra đơn giản],

Tự chí nan, thực chí dịch [có vẻ khó, thực ra dễ].

Đây cũng là đặc điểm của phương pháp suy diễn. Sau khi hiểu được tinh thần của phương pháp suy diễn thì sẽ hiểu được suy diễn thực ra dễ hơn quy nạp. Xin xem hình vẽ 2.

Dưới đây xin nói về điểm thứ 5, tức quan niệm “Thiên nhân hợp nhất”

“Thiên nhân nhất vật”, “Lý nhất phân thù”, “Nội ngoại nhất lý” bắt nguồn từ chỗ mỗi một quẻ trong Kinh Dịch đều bao hàm đạo trời, đạo đất, và đạo người (nhân đạo), quy luật của trời và quy luật của người là một.

Chúng ta đều biết Vương Dương Minh khi tìm hiểu cây tre [nguyên văn : cách trúc tử ?] muốn dùng cái “Lý” [lý lẽ] trong đời người để tìm kiếm cái “Lý” trong giới tự nhiên. Dĩ nhiên làm như thế không thể nào sáng tạo được khoa học cận đại. Một đặc điểm của khoa học cận đại là phải thoát ra khỏi quan niệm Thiên nhân hợp nhất, phải thừa nhận đời người có quy luật của đời người, có các hiện tượng phức tạp của đời người; thiên nhiên có quy luật của thiên nhiên, có các hiện tượng phức tạp của thiên nhiên. Trời và người là hai chuyện khác nhau, không thể hợp làm một.

Tất nhiên tôi nói như thế sẽ làm cho rất nhiều người, nhất là những người nghiên cứu triết học Trung Quốc, cảm thấy tôi công kích triết học truyền thống Trung Quốc ghê gớm quá. Tôi hoàn toàn không có ý công kích. Nội hàm của Thiên nhân hợp nhất quyết không phải chỉ là “nội ngoại nhất lý” mà còn có “Thiên nhân hài hòa” quan trọng hơn. Thiên nhân hài hòa có ảnh hưởng cực lớn tới truyền thống Trung Quốc. Vả lại khi nói về hiện trạng thế giới ngày nay, chúng ta có thể hỏi, vứt bỏ Thiên nhân hợp nhất mà hoàn toàn dùng các biện pháp của phương Tây để phát triển thế giới phải chăng sẽ có hiện tượng Thiên nhân đối lập? Đây là một đề tài vô cùng quan trọng, nhưng nó không nằm trong phạm vi tôi có thể thảo luận hôm nay.

Nguồn gốc của Hán ngữ, Hán tự

Các ngôn ngữ nguyên thủy và ngôn ngữ chín muồi trên thế giới đều là ngôn ngữ đa âm [nguyên văn: phức âm]; rất hiếm có ngôn ngữ đơn âm. Tôi không nắm được bất kỳ một ngôn ngữ chín muồi nào khác là ngôn ngữ đơn âm như Hán ngữ. Gần đây các nhà khảo cổ phát hiện 16 nghìn năm trước, người dân Giang Tây đã thu thập lúa dại để làm lương thực chính. Cho nên hơn 10 nghìn năm trước đã hình thành văn hóa Trung Hoa. Ta có thể tin rằng hồi ấy họ đã có ngôn ngữ. Ta cũng có lý do có thể giả thiết những ngôn ngữ mà tổ tiên ta sử dụng hồi ấy là ngôn ngữ đa âm. Thế thì vì sao sau này lại biến ra thành Hán ngữ đơn âm?

Từ Hán ngữ đa âm biến thành Hán ngữ đơn âm nhất định phải trải qua một quá trình rất dài, hơn nữa nhất định phải có lý lẽ của nó, vì đây là một chuyện rất độc đáo.
Tôi cho rằng thời đại hình thành văn hóa Trung Hoa, thời đại hình thành Hán ngữ đã chịu ảnh hưởng từ tên gọi các quẻ trong Kinh Dịch, từ Kinh Dịch phát triển ra quan niệm ở tầng sâu cho rằng tinh giản là đẹp, cô đọng là đẹp
Tôi có một giả thiết mạnh dạn như sau : sự biến đổi đó chịu ảnh hưởng của Kinh Dịch. Tên quẻ [quái danh] là đơn âm. Càn, Khôn, …. đều đơn âm cả. Đó là những từ tầng lớp thống trị sử dụng, có tính chất thần bí, có ảnh hưởng lớn, đọc lên có sức mạnh. Lâu ngày nó sẽ hình thành một giá trị quan coi trọng ký hiệu [phù hiệu] đơn âm, về sau ảnh hưởng tới toàn bộ sự phát triển Hán ngữ.

Hôm nay tại đây có sự hiện diện của các chuyên gia ngôn ngữ; ý kiến của tôi là rất mạnh dạn, hy vọng sẽ không bị các nhà ngôn ngữ học đập cho tơi bời. Chúng ta xem : Nguyên, Hưởng, Lợi, Trinh, Cát, Hung, Âm, Dương, Nhật, Nguyệt, Thiên, Địa – những chữ đơn âm này có thanh có sắc, có sức nặng, nói ra có tác động, dĩ nhiên có ảnh hưởng quan trọng đối với sự phát triển của toàn bộ ngôn ngữ văn tự. Cho nên vừa rồi tôi nói tôi đoán là Hán ngữ, Hán tự sở dĩ biến thành ngôn ngữ văn tự đơn âm là có quan hệ khăng khít với Kinh Dịch.

Quan niệm thẩm mỹ của văn hóa Trung Hoa

Tinh thần cô đọng hóa, phân loại hóa, trừu tượng hóa, tinh giản hóa, ký hiệu hóa của Kinh Dịch có ảnh hưởng cực kỳ sâu rộng đối với văn hóa Trung Hoa. Dưới đây tôi xin bàn qua về ảnh hưởng của Kinh Dịch đối với Hán ngữ, văn phạm Hán ngữ, văn học, nghệ thuật, thư pháp.

Từ Word trong tiếng Anh thường được dịch là “chữ” (tự). Dịch như thế không thỏa đáng. Nên dịch là “từ”, cấu tạo bởi một hoặc vài chữ. Thí dụ “hiện đại”, “sở dĩ” đều là từ có 2 chữ. Từ có thể cấu tạo bởi một, hai hoặc nhiều chữ, nhưng tuyệt đại đa số là 1 hoặc 2 chữ, ít từ có 3 chữ trở lên. Phần lớn từ có 3 chữ hoặc trên 3 chữ là phức từ, hoặc là từ dịch âm. Thí dụ “ngoại tổ phụ [ông ngoại]”, “Động Đình hồ” là phức từ; “Thành Cát Tư Hãn” là từ dịch âm.
Thế kỷ XIX Trung Quốc bắt đầu phiên dịch tên các nguyên tố, khi ấy cũng chỉ dùng một chữ, như “Dưỡng [oxygen]”, “Lưu [sulphur]”, “Lôi [radium]”; những từ này trong tiếng Anh đều là từ đa âm, khi người Trung Quốc dịch đều biến thành một từ đơn âm.

Vì sao lại hà tiện [từ ngữ] thế? Tôi cho rằng thời đại hình thành văn hóa Trung Hoa, thời đại hình thành Hán ngữ đã chịu ảnh hưởng từ tên gọi các quẻ trong Kinh Dịch, từ Kinh Dịch phát triển ra quan niệm ở tầng sâu cho rằng tinh giản là đẹp, cô đọng là đẹp. Quan niệm thẩm mỹ đó đã ảnh hưởng tới sự hình thành từ.

Tất cả các ngôn ngữ trên thế giới đều có văn phạm [văn pháp] tầng sâu như nhau, sau đấy các ngữ hệ khác nhau tự phát triển trên cơ sở văn phạm tầng sâu đó. Đây là một phát hiện lớn của Chomsky. So sánh các ngôn ngữ khác nhau sẽ thấy mỗi loại ngôn ngữ đều có danh từ, động từ, tính từ [adjjective], giới từ [adverb] v.v…Nhưng Hán ngữ có một đặc điểm lớn là rất ít dùng giới từ. Thí dụ không nói “Bố của tôi” mà nói “Bố tôi”; không nói “chạy một cách chầm chậm” mà nói “chạy chậm”, bỏ bớt giới từ. Cho nên người phương Tây nói Trung văn là văn tự kiểu điện báo telex, nhất là cổ văn. Những áng cổ văn hay đúng là văn học cực đẹp. Một trong các nguyên nhân đẹp là cổ văn không tuân theo phương thức phát triển văn phạm thông thường và cố gắng dùng ít từ nhất để diễn đạt nhiều ý nhất. Quan niệm thẩm mỹ này là sự tiếp nối của tinh thần cô đọng hóa, tinh giản hóa trong Kinh Dịch.

Hình 3. Chữ trong vòng trên : « Phong »’ chữ trong vòng dưới: bên trái là “Phong”, bên phải là “Vân”

Trong bất cứ nền văn học nào trên thế giới, liên tưởng đều có vai trò quan trọng, mà trong văn học Hán văn thì nó có vị trí đặc biệt quan trọng, bởi lẽ các từ trong Hán văn thường thường cấu tạo bởi một số chữ đơn âm, thường hay được hình thành căn cứ theo liên tưởng. Thí dụ từ “phong khí”, “phong vân”, “phong lưu”, “phong cảnh”, “phong quan”, “phong vũ” đều là các từ hình thành từ sự liên tưởng. Có thể dùng hình vẽ sau để biểu thị từ “phong vân” (Hình 3)
Kết cấu của từ này càng tiến một bước thúc đẩy văn học Hán văn diễn biến trở thành văn học liên tưởng, “Vân tưởng y thường hoa tưởng dung” [3], “Tần thời minh nguyệt Hán thời quan” [4] đều là sự liên tưởng đã thăng hoa.

Ý cảnh được hội họa truyền thống Trung Hoa theo đuổi thì hoàn toàn khác với hội họa truyền thống phương Tây, là hình vẽ “quan vật thủ tượng [xem vật lấy hình]” chứ không phải hình vẽ chụp hình; là hình vẽ tinh thần chứ không phải hình vẽ giống nhau; là hình vẽ thiên nhân hợp nhất chứ không phải hình vẽ ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên. Tôi cho rằng tinh thần tư duy ấy bắt nguồn từ Kinh Dịch.
Còn nói về ảnh hưởng của Kinh Dịch đối với thư pháp [thư họa] thì càng rõ hơn. Thư pháp có vai trò cực kỳ quan trọng trong văn hóa Trung Hoa truyền thống, các nền văn hóa khác không có thư pháp.

Nhưng rõ ràng thư pháp có mối quan hệ trực tiếp với tinh thần cô đọng hóa, ký hiệu hóa, trừu tượng hóa của Kinh Dịch. Ông Hùng Bỉnh Minh bạn tôi, một nhà thư pháp, nhà điêu khắc, nhà văn, nhà bình luận văn học có viết trong sách “Hệ thống lý luận thư pháp Trung Quốc” rằng cốt lõi của văn hóa Trung Quốc là triết học, cốt lõi của cốt lõi văn hóa Trung Quốc là thư pháp. Sở dĩ tôi hoàn toàn đồng ý câu ấy của ông là do thư pháp đã cụ thể hóa, hiện thực hóa tinh thần của Kinh Dịch.

Nguyễn Hải Hoành lược dịch

Ghi chú của người dịch:

[1] Gọi đầy đủ là “Thủ tượng tỉ loại”: một phương pháp tư duy vận dụng các khái niệm trực quan có cảm tính, hình tượng và ký hiệu để diễn tả ý nghĩa trừu tượng của thế giới được nghiên cứu, thông qua phương thức loại suy, tượng trưng. Còn gọi là phương pháp tư duy “ý tượng”. Có lẽ chỉ có ở TQ.
[2] Matteo Ricci (1552-1610), người Ý, nhà truyền đạo Thiên Chúa; 1582 đến TQ, quen nhiều học giả TQ; có công giới thiệu khoa học tự nhiên phương Tây cho TQ.
[3] Là câu đầu tiên trong bài thơ 4 câu Thanh Bình Điệu của Lý Bạch, nhằm tả vẻ đẹp của Dương Quý Phi, ý nói: Nhìn mây mà nghĩ tới xiêm y của Dương; nhìn hoa mà nghĩ tới dung mạo của Dương. Trần Trọng San dịch là : Mặt tưởng là hoa, áo ngỡ mây.
[4] Là câu đầu tiên trong 4 câu bài thơ thất ngôn tuyệt cú Xuất Tái (chu sai) của nhà thơ Vương Xương Linh đời Đường, ý nói : Nhìn trăng sáng mà nghĩ tới nơi biên ải (Vẫn là trăng sáng thời nhà Tần, vẫn là biên ải thời nhà Hán, nhưng quan san đã thay đổi, thời Tần Hán đã qua rồi. Câu tiếp sau là: tướng sĩ viễn chinh tới nay vẫn chưa trở về. Bài thơ nói lên sự tàn khốc của chiến tranh và ước vọng hòa bình).

Nguồn: 杨振宁:《易经》对中华文化的影响

Học suy nghĩ giản dị


Tuổi trẻ cuối tuần – HOÀNG Hồng-Minh

Một học giả Trung Hoa đã từng nhận xét, rằng một người nông dân Trung Hoa chất phác, sơ sài là thế, nhưng khi được hỏi về gia cảnh của mình, thì liền cất tiếng lên không khác gì nhân vật Gia Cát Khổng Minh trong một vở tuồng. Từ ngữ của anh ta thật là to tát, lời lẽ sao mà hùng vĩ, và câu chuyện của anh ta về nhà mình cứ như để khắc vào bia đá lịch sử…

Trong một dịp làm việc tương đối lâu ở một doanh nghiệp tại nước Pháp, tôi có biết một bà giúp việc lau dọn văn phòng, đơn giản vì hàng ngày bà ghé vào lau dọn đồ đạc cho mình. Bà thật giản dị, chu đáo, tôi hay nhắc bà đi găng tay vào để bảo vệ bàn tay khi dọn dẹp, bà chỉ cười mõm mẽm “vướng lắm ạ”. Có lần rỗi rãi, tôi hỏi bà quê ở đâu, bà bảo “ở giữa châu Phi”. “Thế lâu nay bà có về thăm quê không?”. “Dạ, nóng lắm, hơn 40°C, cũng chả có gì mà về.” “Thế bà theo tôn giáo gì?”

… Thật bất ngờ, bà xắn tay áo lên, giảng cho tôi liền mươi mười lăm phút về Chúa, về tu hành… bà tỏ ý sẵn sàng hướng dẫn tôi như đứa trẻ lạc vào vườn trẻ thánh địa của bà…

Mãi đến lúc bà mệt mệt nguôi nguôi, tôi hỏi “bà theo tôn giáo đó từ bao giờ?”. “Từ khi bé lớn lên ở quê nhà, mọi người đều theo thì mình cũng theo, ông hỏi buồn cười quá”. “Thế nếu bà được sinh ra ở một nơi khác, nơi đó người ta theo tôn giáo khác, thì bà có theo cái tôn giáo khác đó không?”. “Tôi không nói chuyện với ông nữa đâu, ông nom thế mà không phải là người đĩnh đạc như tôi tưởng. Cái tôn giáo tôi đang theo, tôi đã theo nó ngay từ lúc tôi còn chưa được sinh ra”.

Tôi cảm ơn bà về lời giãi bày và về công việc dọn dẹp mà bà đã hoàn thành. Và để tránh chuyện nọ thành chuyện kia, tôi bảo “thôi, chúng ta khép lại câu chuyện vừa rồi nhé. Tôi chỉ là một chuyên gia được hãng này tạm thuê về để làm việc, và bà là người trông nom dọn dẹp. Tôi kính trọng bà, và chúng ta dừng lại ở đó.”

—-

Vậy chúng ta thấy gì qua mấy câu chuyện này?

Một khi chúng ta không thực sự hiểu biết, không làm chủ thực sự được một lĩnh vực gì, khi đó lời lẽ của chúng ta thường bị trương phềnh lên, rất đao to búa lớn.

Một khi chúng ta thực sự hiểu biết, làm chủ được một lĩnh vực gì, lời lẽ của chúng ta thường rất giản dị, vào việc.

Trình bày gia cảnh mình là một công việc.
Dọn dẹp văn phòng là một công việc.
Thực hành tôn giáo là một công việc.

Phát triển dự án là một công việc.
Điều hành doanh nghiệp là một công việc.
Điều hành toàn bộ đời sống xã hội là một công việc.

Mỗi con người trong mỗi lĩnh vực, hãy dọn dẹp những lời lẽ đao to búa lớn.

Những lời lẽ đao to búa lớn thực chất chỉ là sự bất lực của hiểu biết, sự chay tịnh của kinh nghiệm, sự thất bại của dẫn dắt điều hành công việc.

Phát triển sự chuyên nghiệp của mình, những lĩnh vực dù thuộc đời sống hàng ngày, hay dù có ở tầm công việc công cộng rộng lớn như lập pháp, hành pháp, tư pháp, tất cả đều phải đi đến sự giản dị, rõ ràng, thế tục, thực hiện được, kiểm tra được, quy trách nhiệm được, xử phạt được.

Con người của xã hội hôm nay đã quá bị nhàm chán với những thứ ngôn ngữ to rỗng, vờ vịt, chết cứng, vô vị, vô ích.

Con người của xã hội hôm nay cần được tiếp một sinh khí mới trong lành, rõ ràng, vào việc, để mà ngày một cải thiện được đời sống một cách vững bền.

Con người của xã hội hôm nay phải học suy nghĩ giản dị./.

Tự do, bám vào đâu – III

Chàng trai cũng nhổm dậy tiếp.

-”Thế ở xứ Đông có tượng Nữ thần Tự do không ạ?”

Cụ Hinh vui vẻ.

-”Ở xứ Đông, ra đến đường, mỗi người là một pho tượng sống của tự do.

Còn các xe pháo thì bám vào các pho tượng sống.”

Tự do, bám vào đâu – II

Đến thăm Nữ thần Tự do, ngắm vẻ tự tại mênh mông trời biển của nàng, Cụ Hinh kịp nhớ đến cái câu chuyện nọ với cụ Ty.

Lúc ngả ngốn trên bãi cỏ, Cụ Hinh hỏi vui một đôi bạn trẻ đang sóng soài bên cạnh mình.

-”Nữ thần Tự do, nàng bám vào đâu trong cuộc đời này các bạn nhỉ?”

Đôi bạn hết quay sang ngắm Cụ Hinh, lại quay về ngắm Nữ thần Tự do…

Chàng trai cười hiền hậu, lắc đầu…

Cô gái chợt nhổm dậy, toách ngón tay về phía Cụ Hinh, nụ cười chúm chím.

-”Nữ thần Tự do bám vào sự vươn tới tự do, trong mỗi chúng ta.”

Tự do, bám vào đâu?

Cụ Ty mời trà Cụ Hinh.

-”Những người yêu tự do, họ bám vào đâu trong cuộc đời này nhỉ?”

Cụ Hinh từ tốn nhấp ngụm trà.

-”Đó chính là câu hỏi thường hằng của họ.

Nhưng không phải để sợ hãi níu kéo, mà để họ ngày càng có tự do thêm hơn.”

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 51 other followers