Tag Archive | thiền

Nhận nhau, nuối tiếc


Bãi cỏ năm nào,
Nhặt chiếc lá xinh,
Kẹp vào trang sách,
Cũng là nhận nhau.

—-

Bãi cỏ năm này,
Lật trang sách cũ,
Chiếc lá hôm nao,
Chợt gió cuốn đi.

—-

Gửi đâu nuối tiếc…
Lá cũ nơi nào…

|- HOÀNG Hồng-Minh 1202 – |

Xả thiền

Nghĩ suy nhỏ hẹp, bỏ.

Việc nào, ra việc nào.

Tự do,
cho người khác.

Tự do,
cho chính mình.

|- HHM 1202-|

Vua sáng tôi hiền, được mùa bữa nay, nghĩ về những mùa tới

HOÀNG Hồng-Minh

Với sự dũng cảm và tận tụy, các “nhà báo tự do” đã dấn thân vào cuộc thực sự như những thám tử tư nhân, cả trên thực địa, giáp mặt với một trận đồ vừa không cân sức, vừa nguy hiểm, vừa bị bưng kịt và bóp méo thông tin qua vụ việc Đoàn Văn Vươn ở Tiên Lãng. Khó ai quên được nhà văn Nguyễn Quang Vinh. Đứng ngoài và ở xa, làm sao biết nổi cái gì thực sự xảy ra.

Với sự dũng cảm và tận tụy, bản thân những người dân ở Tiên Lãng đã tìm mọi cách đưa ra được sự thật cho các nguồn săn tin.

Blog Quechoa của nhà văn Nguyễn Quang Lập đã tự làm ngọn cờ đầu cho cuộc chiến khó khăn, mà lại rất phức tạp, để mong giành lại công lý cho Tiên Lãng.

Được tiếp sức kịp thời sau đó bởi các nhà báo và các tờ báo chuyên nghiệp chính thống.

Được phân tích sâu xa bởi các chuyên gia như Đặng Hùng Võ, Trần Đình Thu…

Được gây sức ép mạnh mẽ và dứt khoát bởi một số nhà lãnh đạo cao cấp lão thành, điển hình là nguyên chủ tịch nhà nước Lê Đức Anh, là tướng Nguyễn Quốc Thước.

Được thủ tướng chính phủ Nguyễn Tấn Dũng trực tiếp vào cuộc.

Được đa phần nhân dân mong chờ.

Và cuộc chiến giành công lý cho Tiên Lãng vừa xoay được thế cờ.

—-

Chiến thắng mới mẻ này là một sự kiện quan trọng của đời sống xã hội hôm nay. Tuy rằng còn bao nhiêu việc trước mặt phải tiếp tục.

Để kết tụ được tình thế « vua sáng tôi hiền » hôm nay, phải biết bao nhiêu sự gắng sức, và cả nhiều may mắn.

« Vua sáng tôi hiền » được mùa bữa nay.

—-

“Được mùa chớ phụ ngô khoai,

Đến khi thất bát, lấy ai bạn cùng?”

Chính bản thân cái kết quả tích cực này lại làm cho chúng ta thấy ra được vô cùng rõ ràng sự mỏng mảnh yếu kém của nền hạ tầng pháp quyền hiện trạng của đất nước.

Vua sáng tôi hiền” được mùa bữa nay, tựa như một ngày thật đẹp trời trong năm. Điều này vừa quí, vừa hiếm.

Cả một công việc lớn lao dài lâu trải ra trước mặt chúng ta : làm sao để thiết kế và vận hành được một nền pháp quyền hoàn chỉnh.

Để rồi khi các vụ việc sai phạm pháp luật xảy ra, thì từ người dân thường cho đến các tổ chức xã hội chỉ cần ấn nút “báo động”, và bộ máy pháp quyền sẽ vận hành theo cái cách cần phải có, để giải quyết được câu chuyện công lý.

Để không phải cứ mỗi khi có một vụ việc quan trọng, thì lại phải bắt đầu lại từ đầu một cuộc vận động thật vĩ đại, trong hy vọng mong manh lại huy động được tình thế “vua sáng tôi hiền” kết tụ.

./.

Trái Đất thuở xưa, Trái Đất sau này

Anh La mời trà Cụ Hinh.

-”Trái Đất này thuở xưa không có con người… Thì nó ra như thế nào nhỉ?”

Cụ Hinh ngắm Anh La, rồi ngắm tách trà.

-”Thì nó cũng gần giống như sau này, lúc con người thôi không ở được trên Trái Đất này nữa.”

-”Thế nếu được chúc cho lúc ấy, Cụ Hinh chúc gì?”

-”Thì ta cũng chỉ biết chúc cho Trái Đất ấy vui nhã mà thôi.”

./.

Khó là gì?

Buổi trưa Mỵ Châu dùng trà với bạn Cụ Hinh. Nắng hoe uể oải trên ngọn sấu trong vườn.

Bỗng Mỵ Châu bâng quơ hỏi.

-”Cụ Hinh à, khó là gì ạ?”

Cụ Hinh ngắm Mỵ Châu hồi lâu.

-” ‘Khó’, là thứ mà đem cộng với ‘muốn’, thì thành ‘dễ’.”

—-

Hôm sau Mỵ Châu gửi email cho Cụ Hinh.

-”Cụ Hinh ơi, hôm qua chúng mình nói chuyện gì ấy nhỉ? Lúc ấy cái nắng hoe buổi trưa làm em buồn ngủ quá, cứ lơ ma lơ mơ.

Em đang loay hoay lấy ‘dễ’ cộng với ‘lười’, mãi mà vẫn chưa biết là nó ra được cái gì. Chắc là ‘khó’.”

./.

Bee.net

Tết, Tết, Tết…

HOÀNG Hồng-Minh - Bản  nguyên

Từ cả tháng nay trời đã trở lạnh. Đêm đến cả nhà có cái thú do mẹ bày ra, đun siêu nước nóng, rồi pha thành nước ấm trong cái chậu đồng cũ kĩ, mấy anh chị em ngồi ngâm chân chuyện trò. Rồi thì lên giường đọc sách ôn bài đi ngủ. Mấy trang sách dạo này toàn những bài quay quanh cái chủ đề mùa đông, đọc được một tí thì quyển sách rơi bộp xuống giường, chỉ kịp với tay xếp lại nó lên cái bàn đầu giường rồi ngủ thiếp đi. Sáng ngày ra bị bố mẹ đánh thức dậy thật sớm để đi học, ôi khổ sở gì bằng thế cái việc phải chui ra khỏi chăn ấm để giáp mặt với cái ánh đèn điện vàng chói chang, cùng cái lạnh sởn da gà. Hôm nay còn là phiên trực nhật, phải đi sớm hơn nửa tiếng, cầm theo cả chổi đi cùng để quét lớp… Phố phường còn tịnh không một bóng người, đèn vàng leo lét. Có tiếng gà gáy xa xa mạn bờ đê…

—-

Nhưng những ngày khổ sở dậy sớm như thế đã qua rồi! Kì nghỉ Tết đã tới. Một đời sống tuyệt vời khác đã thức dậy.

Cái xã hội đơn giản thời ấy cũng lắm cái thật là vui vào lúc này.

Cả năm làm lụng sinh sống chật vật, nhưng nhà nào rồi cũng loay hoay có được một khoản để dành đó để đón Tết. No ba ngày Tết là lý tưởng đã chưng kết hóa của cả hàng ngàn năm của cả xã hội, chỉ còn phải làm bằng được nó mà thôi.

Và nền kinh tế chỉ huy thời đó cũng có cái thế để tạo ra cái lực đó : mấy tháng trước Tết là mấy tháng đại giáp hạt, nền kinh tế chỉ huy này chủ động găm hàng lại cho tiền và tem phiếu chạy rông. Và mãi đến lúc này thì hàng mới được xuất kho để săn lại tem phiếu và tiền, trả lại chút niềm vui Tết cho những con người thời khốn khó.

Mỗi ai mặt mũi sao tươi sáng lạ thường với túi hàng Tết! Cả năm trời họ mới được gặp lại những hộp “bánh mứt kẹo” sắc màu xanh đỏ, những miếng bóng vàng óng sấy khô… Và trên hết, những bánh pháo đỏ rực làm rộn lòng người…

Sức mạnh ấy… vẫn chưa đủ.

Tất cả các công sở đâu còn làm việc gì nữa! Mười lăm ngày trước Tết chỉ là « tất cả vì cái Tết thiêng liêng ». Mỗi nhà máy, mỗi công sở tự trở thành một cái binh đoàn hậu cần nhỏ chia nhau đi về các vùng quê để săn hàng ăn Tết : gạo nếp, đỗ xanh, lá dong, dây lạt, măng miến, nấm nhĩ… không quên củi than, và của hiếm ngày thường : thịt cá.

Trời ẩm dần, thỉnh thoảng mưa phùn.

Đào, thược dược, lay-ơn, quất cây… bắt đầu được dạt dần từ các làng hoa ngoại thành về mạn Hàng Lược, Đồng Xuân trên các xe thồ hay xích lô, làm tắc nghẽn cả những đoàn tàu điện quạch đỏ sốt ruột giật chuông leng keng hoài… Đất nhà quê tan chảy dưới mưa phùn ánh chút nắng mơ hồ, nhão nhoét  khắp mặt đường…

—-

Cứ vào mấy ngày này, người bận nhất nhà tôi là bà ngoại.

Cả phố này chỉ có bà tôi gói bánh chưng giỏi, không phải dùng khuôn mà bánh vuông thành chắc cạnh. Vì không dùng khuôn nên trẻ con các nhà rất mê với những chiếc bánh cuối cùng bao giờ cũng được riêng tư hóa, cứ to nhỏ xinh xinh dần theo mấy anh chị em trong nhà họ.

Bà tôi khỏe và vui thế. Hết ngày này sang ngày khác bà đi gói bánh chưng cho mọi nhà. Đây là lúc bà lên đỉnh vinh quang của cái công việc thiêng liêng.

Mỗi gia đình mời đón bà tôi trịnh trọng. Giữa nhà trải chiếu hoa, có cái gối nhỏ cho bà ngồi. Xung quanh thì mọi thứ đã sẵn sàng : gạo nếp cái đã vo ráo trắng bong, đỗ đã xay và đồ chín, lá dong đã rửa sạch và lau khô, lạt chẻ chờ sẵn, thịt lợn cắt miếng lớn… Bà diện áo gấm, quần lụa, tóc vấn, hàm răng đen của bà đều tắp và chắc khỏe. Bà từ tốn lấy lá trầu, têm vôi vào cau, gọt miếng vỏ chèm vào, rồi gói ghém lại, nhai bỏm bẻm… Khai cuộc.

Mọi người nín thở nghe rõ từng âm sắc thiêng liêng của khởi sự : bà cắn nhẹ gân lá dong phía nửa trên, bẻ tước gân lá nghe « soạt »… Hai tàu lá trải chồng vuông góc nhau nằm bên trên mấy dây lạt. Tay bà đong gạo, be bờ… Một lượt đỗ vàng… Mấy miếng thịt lớn được sắp xếp ngay ngắn ở chính giữa. Lại lượt đỗ, rồi lượt gạo. Cái lúc khó nhất là đây… có tiếng « suỵt » của người lớn với bọn trẻ con : bà gấp lá, dựng bánh gọn gàng, thít bánh, néo buộc lạt chắc đanh. Bọn trẻ reo ầm lên ! Một chiếc bánh chưng đã được sinh ra, đẹp óng nõn nà!

Từng đấy bao nhiêu năm trời, mà không ai trong phố có ý định học theo bà tôi gói bánh cả! Trong lòng người của cái phố đó của thời ngày đó, bà tôi là một nhân vật thiêng liêng cho cái công việc thiêng liêng này, và không ai có thể bắt chước mà được. Người ta còn hồn nhiên và ngây thơ đến như vậy mà. Tóc bà cứ đen nhánh mãi, dáng bà thanh, khuôn mặt sáng, mũi cao, mắt rộng và sâu, nói năng sắc sảo. Đám thanh niên trai gái thì chỉ mê được bà xem tướng và giải hạn cho các mối tình… tương lai đang rập rình ở đâu đó. Những câu chuyện này tôi vẫn còn ôn lại với bà mãi… Cho đến khi cái tuổi vượt qua phía bên kia của một trăm đã đòi lại mất sự sáng suốt của bà…

—-

Mẹ tôi thì có cái thú khác, thú nấu bánh chưng. Thường khai bếp vào sáng 30 Tết.

Ở góc bếp, mẹ tôi đã để dành mấy thanh củi rất lớn từ cả năm. Trẻ con nhìn những thanh củi này trong năm là đã nghĩ đến Tết rồi. Củi thời đó hiếm hoi.

Sáng sớm ngày ra mấy anh lớn được sai vần mấy hòn đá tảng trong góc bếp ra, đem kê chúng thành thế chân vạc, để rồi bắc lên đó cái thùng phi con. Thùng phi con để nấu bánh giờ đã lên ngôi thắng thế cái nồi ba mươi, vì hàng xóm còn gửi bánh để luộc cùng, và ở phía trên thùng phi thì có cái chậu nhôm để lấy nước nóng, vừa để thỉnh thoảng chế thêm nước nóng vào nồi bánh, vừa để cả nhà thay nhau mang đi tắm đón Tết.

Trẻ con thấy cái bếp khổng lồ mà lòng xôn xao.

Chiếu được rải ra trong bếp, để canh bếp, để sưởi ấm, để tán chuyện, để mấy anh chị em cùng bạn bè xóm giềng đánh bài. Coi bếp ngoài đẩy củi thì thỉnh thoảng phải chế thêm nước, rồi đảo bánh…

Ngồi lâu chơi chán nhà mình, mắt cay xè, thì lại chạy sang chơi nhà hàng xóm, xem bếp bên ấy  có trò gì khác. Phố phường hôm nay chợt vừa lặng lẽ, vừa gần gũi thân thương, như dòng sông mùa Tết chợt cạn khô, tha hồ mà tung tẩy chạy qua chạy lại đó như trong sân nhà mình.

Bố mẹ dọn quần áo « mới » ra, lũ trẻ con lần lượt đi tắm rửa hết cả, để còn kịp ăn bữa cơm hết năm. Bộ đồ Tết năm ngoái, Tết này mặc vào có vẻ đã hơi ngắn rồi, từ nay sẽ được diện nó thường xuyên thôi.

Nhà cửa như có phép thần, gọn gàng xinh xắn đến thế. Đấy là tài đem giấu đồ đi đâu của bố tôi. Sau Tết,  chúng sẽ lại bừa ra ngay cho mà xem.

Khoảnh khắc trọng điểm đã đến : vớt bánh. « Nào, tránh hết ra, không thì chết bỏng cả lũ bây giờ »… Mùi thơm bánh chưng ngào ngạt. Những chiếc bánh bé được chui ra đầu tiên giữa đám mây hơi nước! Nhưng mà những chiếc bánh trông xỉn màu hẳn đi, không được đẹp đẽ bằng lúc mới được gói xong nhỉ. Bọn bánh này bị ép ngay dưới tấm gỗ để cho ráo nước. Một chiếc lớn được đưa lên bóc ngay cho bữa cơm cuối năm. Trên nhà tràng pháo đã được đính lên đầu cái sào dài, treo chìa ra phía ngoài cửa sổ lớn dưới ban công.

Thế là cũng đủ hết sự bộ rồi còn gì, người lớn bảo cái sào treo bánh pháo coi như thay cho cây nêu.

—-

Loay hoay thế nào mà tôi ngủ thiếp đi trong bữa ăn.

Đang ngủ say như thế thì bị mấy anh chị lay người, giật chân, giục dậy bằng được, “giao thừa, giao thừa, nhanh, nhanh…”.

Dụi mắt, hoàn hồn được một tí thì pháo nhà ai đã nổ! Đây là giao thừa thứ mấy mà tôi đã biết thức đón nó nhỉ? Hơi lạnh từ cửa sổ làm tôi tỉnh ra, phấn chấn trở lại. Tôi đòi giục đốt pháo.

“Chưa được, còn kém 5 phút!”.

Tôi phấn chấn được cầm cùng các anh chị cái gậy tre nhỏ dài, đầu kia cuộn mẩu giấy.

“Kém một phút rồi, châm lửa đi!”

Cùng các anh chị, tôi đưa ngọn lửa đúng vào dưới tràng pháo.

“Đùng, đùng, đùng… Tết, Tết, Tết…”, cả thành phố rộn vang trong cái khói thơm nao nao thật Tết !

Cả nhà rục rịch uờ ra phố. Mẹ diện áo dài lụa đỏ sậm, choàng áo len đen, nom nổi bật hơn hẳn mấy bố con. Bà thì nhất định chỉ ở nhà khấn Phật. Đường phố vui sao ! Đây rồi vườn hoa Con Cóc, vườn hoa Chí Linh, Bờ Hồ lung linh…

./.

Tiền Phong

P.S. Bản nguyên, có chỉnh lại vài chữ.

Phương pháp “duy-lý tưởng” qua câu chuyện “trí thức là gì”

Bài viết trên Tia Sáng

Phương pháp và chân lý là hai phạm vi khác nhau.

Bằng phương pháp duy-lý tưởng, người ta vẫn có thể đạt được những chân lý vĩ đại có tính trực giác, phóng tưởng, những chân lý này thường phải chịu những thử thách khắc nghiệt tiếp sau đó của những kiểm định tỉ mỉ công phu.

Và cũng có những phương pháp khác khác, phi-duy-lý tưởng.

HOÀNG Hồng-Minh

Tượng “Thinker” (Người suy tưởng) của Rodin
Ảnh: AFP

 

Những ngày qua chúng ta đã được chứng kiến nhiều bài báo bàn về « trí thức là gì ». Nhiều bài trong số này rất tâm huyết và có chất lượng cao, mang tiếng gọi về trách nhiệm và sự đóng góp xã hội.

Không bàn về các nội dung của câu chuyện « trí thức là gì », ở đây tôi muốn nhận dạng về phương pháp, phương thức tiếp cận vấn đề.

Phương pháp duy-lý tưởng

Phương pháp duy-lý tưởng là một cách thức tư duy phổ biến từ ngàn xưa về nhận thức xã hội cùng con người. Đây là một lựa chọn. Và nó vẫn có giá trị trong những phóng tưởng trực giác, gợi mở.

Lưu ý là ở xứ Việt người ta cũng dùng cả chữ « phương pháp duy tâm » cho trường hợp này. Tôi muốn dùng chữ « phương pháp duy-lý tưởng » vì nó rõ nghĩa hơn, và tránh bị rơi vào cái bẫy việt vị của thói quen vội quy kết ý thức hệ.

Con người ai chả có lý tưởng. Người có học, càng có. Còn lý tưởng gì, thì lại là chuyện khác.

Nhưng lấy lý tưởng làm phương pháp, thì lại càng là một câu chuyện khác nữa.

Đặc trưng của phương pháp duy-lý tưởng là cách đặt vấn đề « xã hội, con người phải như thế nào ? ».

Lấy ví dụ ở phương Đông, « thánh nhân » là một lý tưởng. Sau khi mô tả lý tưởng này như một mô hình, người ta đem chiếu các nhân vật cuộc đời vào lý tưởng ấy, đó là cách thức tư duy « duy-lý tưởng ».

Và khi đó người ta bắt đầu nhận thấy những khó khăn mới. Đó là nếu « thánh nhân » bắt buộc phải là « mười phân vẹn mười », thì người trần « ai mà được cả mười phân». Từ đó tất thảy các nhân sĩ đều được đem ra thử lửa « thánh nhân », xem còn được bao nhiêu phần trăm. Chưa nói đến ai (được) làm người thử lửa, làm người phán xử xếp hạng thánh nhân ? Dân thường thì không cần đem thử làm gì, mất công, phí giờ. Theo tinh thần cao nhất, ở phương Đông có hai ông Nghiêu và Thuấn được coi như đạt đủ tiêu chuẩn « thánh nhân », cũng vì lý lịch của hai ông rất xa xưa này vô cùng mờ nhạt, và dù sao thì cũng phải có ai chứ… Tiếp đến thì Khổng tử và Lão tử (nhân vật Lão tử chưa chắc đã có thật) có thể được tạm xét là « phó-thánh nhân », tất nhiên hai dòng thuyết của hai ông này thì hạ bệ nhau chan chát, không kiêng nể gì nhau.

Phương pháp duy-lý tưởng này phổ biến trong khắp các tôn giáo, cũng như trong khắp các chế độ xã hội thần quyền thời xưa. Người ta đưa ra một cái tiêu chí duy-lý tưởng, và đem con người và xã hội ra so ép vào đó. Một khi nhất nhất phải làm bằng được như thế, nó đẻ ra phương cách mục đích luận.

Bản thân phương pháp duy-lý tưởng không quyết định vấn đề chân lý có đạt được, hay không đạt được. Đó là hai vấn đề khác nhau.

Với các động cơ rất tốt đẹp, các ông Marx và Engels thời trẻ cũng đã sử dụng chủ yếu phương pháp duy-lý tưởng. Các ông Marx và Engels đã bắt đầu các nghiên cứu riêng của mình về phân tích xã hội và con người, nhưng các nghiên cứu riêng thời trẻ đó của các ông chưa phải là các nghiên cứu thống kê so sánh tỉ mỉ có tính chất xã hội học. Tác phẩm « Tuyên ngôn của đảng cộng sản », được viết vào các năm 1847-1848 khi ông Marx 29-30 tuổi (sinh năm 1818), và ông Engles 27-28 tuổi (sinh năm 1820), là một dự phóng duy-lý tưởng : các ông đề xuất ra một mô hình xã hội của ngày mai dưới dạng một xã hội lý tưởng. Càng về cuối đời mình, các ông tỏ ra càng dè dặt hơn, và nghiêng dần về các biến đổi tiệm tiến với nhiều khả năng khác nhau.

Phương pháp «phi-duy-lý tưởng », hay « tích cực »

Tách ra khỏi xu hướng duy-lý tưởng, các nghiên cứu xã hội học ra đời, khoảng từ những năm 1830 ở châu Âu. Thay vì cố tranh biện đơn thuần về việc « xã hội, con người phải như thế nào ? », các nghiên cứu này lấy trọng tâm tìm hiểu  « xã hội, con người đang như thế nào ? ».

Sự ra đời của xã hội học là sự trưởng thành của xã hội hậu-thần quyền, của xã hội thế tục. Các xã hội ngày càng trở nên phức tạp hơn, phong phú hơn bội phần. Nhà nghiên cứu cũng trở nên bớt hùng biện, bớt suy diễn tư biện hơn. Thay vào đó là các nghiên cứu có tính tập thể hơn, liên ngành hơn, tỉ mẩn và dài lâu, với các công cụ phong phú hơn. Một xã hội, cũng như bất kì một thực thể nào, đều mang trong nó nhiều khả năng phát triển khác nhau – ở những thời điểm khác nhau và trong những môi trường khác nhau. Cách nhìn xã hội, con người chỉ đi theo một con đường sẵn có định mệnh đã tỏ ra thiếu thực tế, và thiếu sức sống. Hôm nay chúng ta thừa biết rằng trong khung cảnh toàn cầu hóa này, nếu một quốc gia nhỏ bé dốt nát phút chốc phát hiện ra cái kho dầu mỏ vĩ đại ở dưới nền nhà mình, thì nó sẽ đi một con đường mới tinh, bất chấp các nghị luận dự đoán trước đó về nó có chất đầy đến đâu trên giá sách.

Hơn thế nữa, con người và xã hội không phải là một thực thể « tự nhiên », nằm yên đấy để cho ta đi vòng quanh đó quan sát và nghiên cứu thỏa thích như thời trung cổ nữa. Cùng với sự hiểu biết thay đổi nâng lên, chính con người và xã hội cũng thay đổi cùng lên theo cấp số ! Chúng ta biết rằng ở nhiều nơi vào ngày bầu cử tự do người ta cấm các tổ chức điều tra thống kê dự báo về xu hướng và kết quả bầu cử được đưa ra thông tin, vì chính những thông tin tức thời này sẽ lại ảnh hưởng lập tức ngược trở lại luôn cuộc bầu cử, tạo nên một vòng xoáy điên đảo trong ngày !

Các thảo luận về « trí thức »…

Đa phần những thảo luận về « trí thức » gần đây trên các media trong nước thuộc về phương thức « duy-lý tưởng ». Các tác giả đưa ra những định nghĩa có tính lý tưởng khác nhau về « trí thức phải là… », sau đó xem ai đạt tiêu chuẩn của những định nghĩa này. Đó là một lựa chọn, lựa chọn duy-lý tưởng.

Chắc rằng rất nhiều người làm việc trí óc khi đọc những bài luận như thế khắc phải sờ lên gáy mình nghĩ, không biết mình có đạt các tiêu chuẩn duy-lý tưởng đó không. Trong trường hợp nếu các định nghĩa mà quá khắt khe, thì có cơ lại rơi vào trường hợp chỉ có ông Nghiêu và ông Thuấn đắc địa.

Cách tiếp cận này có cái thú vị của nó. Nhưng nếu nó tự cho mình là duy nhất, thì sẽ gạt bỏ chính tinh thần đa nguyên trong nhận thức.

Ngoài cách tiếp cận duy-lý tưởng, tất nhiên các nhà xã hội học vẫn cứ phải an tâm nghiên cứu tiếp, xem mấy triệu trí thức « phi-duy-lý tưởng » kia ở ta, họ làm việc mấy giờ một ngày, mấy ngày một tuần, họ thờ cúng mê tín ra sao, bao nhiêu phần trăm trong họ đã có lần lên tiếng cho công lý xã hội, bao nhiêu phần trăm trong họ trùm chăn ngủ kỹ mãi mãi, thu nhập trong bọn họ khác nhau ra sao, bằng cấp của họ có được bằng các cách thức gì, ngoại ngữ họ đọc được bao nhiêu phần trăm, họ hiểu được bao nhiêu phần trăm, vân vân và vân vân.

Cũng phải để ý rằng các nghiên cứu phi-duy-lý tưởng ở xứ ta thì đang rất yếu kém, cần được xây dựng và đẩy mạnh. Đơn giản nhất như vấn đề dân số, di dân và phố xá tắc nghẽn liên quan nhau như thế nào ? Giải pháp trước mắt và dài lâu ? Tại sao nước Đức có dân số và diện tích tương tự nước Việt mà họ ăn ở rộng rãi đàng hoàng được đến như thế ?./.

Mười phân vẹn mười

HOÀNG Hồng-Minh – Bản đầy đủ

Giống như mọi người, tôi vẫn nhớ mãi cái thuở mình còn rất trẻ. Khác nào như buổi sớm mùa xuân cựa mình ở vùng trung du, sương móc giăng yên ả trên những ngọn cỏ, và hơi nồng của đất quyện vương với mùi khói rơm tỏa từ bếp lửa sớm của nhà nào trong xóm.

Và rồi tôi bắt đầu tham dự buổi hội thảo đầu tiên của giới học thuật ! Chao, mình người lớn rồi nha, bàn toàn những vấn đề cực to.

Buổi sáng khai mạc hôm ấy có ba chuyến tham luận dài như những đoàn tàu hỏa sang sảng trôi qua. Giờ giải lao đến, anh Ba, người đàn anh mới của tôi, mời tôi ra quán nước trà kẹo lạc bên kia đường để « tĩnh tâm ».

-« Sao, nhà học giả trẻ Cụ Hinh, bạn thấy các tham luận ra sao ? »

-« Dạ, khó nói quá ạ… Chặt chẽ, kín bưng, hùng dũng… »

-« Cậu được đấy, thật thà… Nhưng mà, dát.

Tôi thấy thế này : họ tham luận cốt để khoe mẽ dọa người là một, để siêu tự vệ không một kẽ hở là hai, để lĩnh nhuận bút là ba. Còn lại chả có cái nội dung gì.

Họ có một bài thôi, hát ở khắp nơi, rằng đâu có họp là ta cứ đi.

Các loại bài này, không thể bị phê phán ở đoạn này hay đoạn kia được. Đâu cũng rào then ‘như dưới đây sẽ nói’, ‘như trên kia đã nói’, ‘xem toàn tập trang…’, bày binh bố trận tinh xảo, không biết đâu mà lần, đã rơi vào trong là không có lối ra. Chỉ có một cách, là cho toàn bộ những bài vở chết tiệt này vào sọt rác. »

Ông chủ quán hiền hậu đơm thêm lượt trà mới cho hai anh em, cười giòn «cứ chuyện đi, lượt trà này tôi biếu nhuận khẩu, không tính tiền! ».

—-

Vừa vặn lúc ấy bác Hai bước vào oang oang « mấy ông này lại rình nói xấu tôi hả ? Lạ gì ! Cho tôi nước nhá, ông chủ kính mến của tôi!».

Bác Hai chính là người đọc tham luận sang sảng lúc vừa rồi trên hội trường !

Ghế đẩu được kê thêm vào. Thêm người, cái quán đầu xuân vênh cửa này cũng đỡ lạnh hơn.

-« Mời bác Hai ! Đúng thế đấy, đang nói xấu người vắng mặt, như xưa nay thôi! Giới thiệu với bác Hai, một học giả trẻ của tương lai, mới tinh, bạn Cụ Hinh. Có người mới, nên có dịp nói lại chuyện cũ. »

Bác Hai trịnh trọng là thế trên diễn đàn lúc nãy, mà giờ này thì đã lại rất tinh anh dân dã.

-« Tôi biết thừa các ông nói gì về bọn tôi rồi ! Biết cả là các ông đang nói về chính tương lai của các ông mà các ông không biết đó thôi. »

Có sếp lớn, anh Ba gọi thêm đĩa kẹo lạc.

Bác Hai bảo.

-« Hôm nay có bánh kẹo, trà lá trên sảnh bên hội trường, chắc các anh chị em chúng nó tiết kiệm tiền không ra quán à ? Lỗ ông chủ nhé ! Ít người, nói chuyện kiểu ít người, cũng hay. »

Anh Ba bảo.

-« Xưa bác Hai cũng múa gươm chịu chơi lắm, dạo này bác nói tôi buồn ngủ quá ! »

-« Thế này nhé – Bác Hai hắng giọng.

Bây giờ người ta đến hội thảo để làm gì ? Như cậu vẫn thích nói đấy thôi, để khoe mẽ dọa người là một, để siêu tự vệ không một kẽ hở là hai, để lĩnh nhuận bút là ba.

Nói hay đến giời, có ai nghe ai đâu. Xã hội cổ truyền thì là vua với dân, cùng một ít quan. Nay là xã hội không vua, với vô vàn lớp quan trên dưới lạm phát nhằng nhịt. Hoặc giả có ai nghe ai một chút, thì rồi cũng bỏ đấy thôi, làm được gì ?

Thế nhưng nếu cậu nói hở một câu, mà chưa cần hở thật đâu – chỉ cần ‘có vẻ hở thôi’, thì hôm sau là câu ấy lên đến tận bàn tiệc của cấp trên cùng ! Không phải người ta mách để mà làm quà các mâm trên cao đâu. Mà để có cái làm chứng, để rồi quay về xơi tái cậu.

Tại sao anh Ba nhà ta đây còn nói hăng ? Vì anh Ba nhà ta chưa đạt đủ cân lạng để đáng bị xơi tái, thế thôi. »

Bác Hai thấy bạn Cụ Hinh nghe chăm chú quá, quay sang vỗ vai vui vẻ.

-« Cậu còn trẻ chán, vui tươi đi, bao giờ bằng anh Ba kia, thì chuyện của tôi nó mới ngấp nghé tới cậu.

Nói thêm với các ông thế này.

Xứ mình có nền bắt bẻ, không có nền nghị luận.

Từ vua đến dân, ai nói gì thì cứ lo rào dậu kín bưng, chữ vàng chữ bạc cả đấy. Ông nào cũng là nhà đại kiểm duyệt cả.

Người hay người tốt thì vẫn có, nhưng nền nghị luận hay và tốt, thì còn lâu.

Người ta không chỉ giỏi cái nền bắt bẻ, mà còn có bầu trời suy diễn siêu việt thêm nữa. »

Anh Ba quay sang « bạn Cụ Hinh đã thấy chàng trai anh Hai ngày nào chưa? »

-« Vâng, thưa bác Hai với anh Ba, tôi trẻ người, nhưng thấy người ta khi đọc khi nghe thì không hề cố tìm cách hiểu cái dòng chảy suy nghĩ của tác giả, tìm cách lật đi lật lại các vỏ từ của tác giả dùng để xem chúng chứa những nội dung gì mới của riêng tác giả đó. Người ta có vẻ chỉ lăm le lên đạn sẵn, chực xem người kia nói chỗ nào có vẻ chệch mình, là nổ súng liền ạ. »

Bác Hai cười sảng chí.

-« Chà, tay chịu chơi này cũng đáng hứa hẹn a ! Để tôi nói tiếp.

Nghị luận đối với người xứ Đông là võ công, là khẩu chiến, nôm na là võ miệng. Võ công thì trước hết phải thủ thế an toàn, mười phân vẹn mười, cốt sao cho không ai làm gì được mình đã. Chiến đấu mà lại sẵn sàng để cho người ta thắng mình, đấy là chuyện gì chứ không phải là võ công. Hơn nữa thì rồi lừa miếng, rồi chớp thời cơ, rồi quật ngã đối thủ mà giành chiến thắng.

Các biện sĩ thời xưa bắt đầu cuộc luận tranh nào cũng phải kín đáo, gói ghém chuyện từ « Tam hoàng, ngũ đế » đã, rồi khéo bày ra cái lưới lý luận kín bưng bâng quơ, để cuối cùng bất ngờ « ụp một cái » chụp ngay được đối thủ tranh luận vào trong chiếc vó luận của mình và khua trống đem trình bà con.

Đỉnh cao của công nghệ này là cuộc khẩu chiến giữa Gia Cát Lượng với Vương Lãng, các ông nhớ chứ. Ông Vương Lãng trổ tài mắng Gia Cát Lượng, đã tưởng trên tuyệt vời, đã cất vó được đối thủ. Thế mà khi bị Gia Cát Lượng mắng lại, ông Vương Lãng phải tức hộc máu lăn đùng xuống ngựa mà chết tại chỗ trong cái vó luận của Gia Cát Lượng. Thực ra thì hai ông này luận biện giống hệt nhau, khác nhau chỉ về kín hở, cùn sắc tí tẹo mà thôi. Mà rồi tôi nghĩ cuốn Tam Quốc cũng bịa vụ này nốt, cốt để khoe cái người kể chuyện thành ra là người trên tài cả Gia Cát Lượng ! Tranh biện ở xứ Đông cốt sao sướng được miệng mình, tàn hại được đối thủ, ở tầm cao nhất có thể !

Tôi nói chung vậy thôi, chứ riêng tôi rất quí các bạn đấy nhé, anh Ba biết tôi lâu rồi. Các bạn tranh biện in ít thôi, đủ về phong trào, cũng có thêm nhuận bút mà sống. Còn lại anh em cố gắng lẳng lặng mà nghiên cứu tìm tòi, làm được cái gì dài hơi, đừng phí ngày phí tháng. Tôi từ ngày làm quản lý cũng linh tinh quá, rồi đến lúc nào cũng phải dứt ra thôi.

Thôi ta vào đi, muộn rồi. Ông chủ ghi sổ tôi đi, mấy chục năm ghi sổ nhau rồi còn gì. Hôm nay tôi chiêu đãi anh em một phần nhuận bút. Nhanh nhanh, còn phải kịp lĩnh tiền rồi đi ăn trưa nữa chứ ! »./.

Tia Sáng

Tầm vóc một dân tộc

“Người ta có thể phán xử tầm vóc một dân tộc qua cách họ đối xử với các con vật.”

Gandhi

« Chủ nghĩa đanh đá »


Bạn Cụ Hinh từng được sống trong những làng Việt xưa.

Thời ấy người nổi tiếng nhất làng bao giờ cũng là người đàn bà chua ngoa đanh đá nhất. Từ các vị chức sắc trong làng, cho đến lũ trẻ con, ai có việc phải đi ngang qua nhà người đàn bà này đều bỗng nhiên ngoan ngoãn hẳn ra, bước đi khép nép, dẹp hẳn sang phía kia của đường làng. “Phía kia” cũng chỉ cách “phía này” được thêm mấy chục phân trên cái đường làng ngoằn ngoèo bé tí.

Đời sống nghèo khổ dốt nát, chỉ còn có cái đanh đá để mà tự vệ, để cho thiên hạ biết tay khi cần, và cả khi mình bỗng « điên lên »!

Đanh đá để tự vệ. Ảnh minh họa

Sự đanh đá của những người đàn bà trong làng đều được xếp hạng cả, gặp nhau là biết trên hạng dưới hạng của nhau rồi, để mà lảng hay lấn, trừ một số người ngang cân lạng nhau thì cứ gườm căng chỉ chực nổ cuộc thi đấu. Trong làng tìm được người đàn bà hoàn toàn hiền thục, khó. Sống ở đời, tương đối thôi, kẻo rồi ở không.

Cái “được” ở sự đanh đá của người đàn bà trong làng xưa, là nhìn chung họ chân thật, họ bày sự chua ngoa đanh đá ra đấy. Không mấy người trong họ được đi học. Họ không có chữ.

Đàn ông xưa ở quê thường hiền hơn, nhưng cục, ít thể hiện ra hơn sự chua ngoa đanh đá. Cái chua ngoa đanh đá nay đã được nén lại vào trong, trở thành cái « cục ». Họ có cái « cục » để tự vệ rồi. Đừng tưởng cứ lấn họ được mãi.

Rắc rối nhất là số ít đàn ông được học ít chữ, vẽ được chữ vuông.

Nhiều vị trong số này mực thước ôn tồn, lo dạy học, lo bắt thuốc giúp người, để mà kiếm sống.  Cái năng lượng vô tổ chức của « chua ngoa đanh đá » vốn có ở họ đã được cải hóa, thuần hóa, để thành công ra một năng lực mới.

Nhiều vị khác trong số này thì lý sự kinh thiên, động địa. Vừa khó hiểu, vừa loăng quăng. Lý luận ngút ngàn với nhau xem « trời có đầu không » chẳng hạn, dẫn cả « ngũ kinh » ra bày trận. Lời nói của họ phải được mài thật sắc, múa lên phải như gươm dao lướt dưới trăng, phải chém được đầu này, phải xé được trời kia… Hết mấy chén rượu và mấy đường thuốc lào, thì mình phải cưỡi được ngựa lên trời xanh, để lại đám thua cuộc hạ đẳng tội nghiệp ngơ ngác ở tít mãi dưới kia.

Sau này bạn Cụ Hinh hiểu ra, đó lại là cái cách để sự chua ngoa đanh đá giấu mặt ở bên trong đám đàn ông lý sự kinh thiên động địa đó có được cái cơ hội mà chui ra. Họ thực ra cũng vô tư thôi, đâu có để ý lẽ đó.

Trong muôn hình chuyển hóa và tiến hóa của cái năng lượng chua ngoa đanh đá ở trong ta, chỉ có cái vô tư cuối cùng này mới kết tinh lên được thứ tinh chất của chính nó. Gọi chữ cho oai hôm nay, đó là “chủ nghĩa đanh đá”.

./.

HOÀNG Hồng-Minh – bee.net

Chuyện với Thượng Đế về Badakethutanha và Ladaboda

Thượng Đế của bạn

Đa phần chúng ta thường cho rằng việc chuyện trò với Thượng Đế, cũng gọi là Trời, là rất khó khăn. Ví như thời xưa người ta phải xem ngày đặt tháng, dựng đàn tế lễ. Rồi dăm ngày trước khi tiến hành làm lễ tế thì phải ăn chay tắm gội, nhịn nín làm tình … Chủ lễ tế khi lên đàn cầu phù sẽ phải xõa tóc, phải chân đất, phải ngất ngây… Xem ra rất phức tạp. Vụ này phải rối tinh lên như một màn ảo thuật. Nếu không một ai hiểu gì nữa, kể cả chủ tế, thì cuộc chuyện trò này với Trời được coi như là thành công.

Rút cục sau đó, công việc không được kết thành, thì là do Trời chưa cho, được kết thành, thì là do Trời thuận giúp. Hồi đó khi được việc thì người ta chưa quen nhận tranh hết của Trời, rằng đó chỉ là do riêng cái thiên tài của mình thôi. Điều quan trọng nhất là việc này đã được giao tế với Trời rồi, thôi nhé, đừng ai dám bàn dám cãi gì thêm nữa về nó!

Nhưng thực ra mỗi chúng ta vẫn luôn luôn chuyện trò với Thượng Đế của mình! Khi suy nghĩ, bạn phải vật lộn giữa cái đã biết và cái chưa biết, tuy nhiên ta nên miễn trừ chuyện này cho các nhà tuyên huấn chuyên nghiệp. Với mỗi việc, ở mỗi thời điểm, một khi bạn đã nghĩ kĩ rồi, đã nghĩ hết rồi, không còn nghĩ thêm được gì nữa rồi, lúc đó là lúc bạn tạm bàn giao, ủy thác việc nghĩ đó cho Thượng Đế của bạn nghĩ tiếp hộ bạn. Về tài năng, cái bạn đã biết, là chính bạn, cái bạn chưa biết, ta kí hiệu đó là Thượng Đế của bạn.

Thượng Đế như vậy sẽ không trừu tượng, mà luôn luôn là Thượng Đế của một người xác định ở một thời điểm xác định. Chuyện trò với Thượng Đế, đơn giản chỉ là thế thôi, là chính quá trình suy nghĩ, đối mặt với làn ranh giữa sự hiểu biết và không hiểu biết của mình, để tìm cách vượt thêm lên. Nhờ chuyện trò siêng năng với Thượng Đế của mình, bạn đẩy thêm lên được các nấc tài năng của bạn.

Bây giờ ta hình dung cái thang đo tài năng về hiểu biết như một dãy số tự nhiên N {0, 1, 2,…n…}, và tài năng của một người ở trong một lĩnh vực ở một thời điểm là n, khi đó (tài năng của) Thượng Đế của người đó ở trong lĩnh vực đó ở thời điểm đó sẽ là n+1. Vậy bạn càng tài năng, Thượng Đế của bạn cũng lại càng tài năng hơn. Và như thế, xem tài năng của Thượng Đế của một người, tức là xem cái mà họ tôn sùng, cái lý tưởng đích thực của họ, thì ta cũng khắc hình dung ra được cái tài năng của chính người ấy. Mượn lại chữ nhà Phật hay dùng cho sinh động, ta gọi tài năng của bạn là « ngộ », ngay sau ngộ thì là Thượng Đế của bạn, ta gọi là « nghi ». Nghi lớn nhờ ngộ lớn, ngộ lớn thì nghi lớn. Ta có công thức sau (cho oai), nghi = ngộ + 1, hay nghi = siêu(ngộ), với siêu là một toán tử để chỉ nấc tài năng liền sau một nấc của tham số tài năng, ở đây là ngộ. ;-)

Về hình ảnh thống kê, ta có thể hình dung mỗi cộng đồng xã hội ở một lĩnh vực và trong một thời điểm cũng có được một cái nấc tài năng xác định và cái Thượng Đế kế đó của mình.

Badakethutanha tự nhiên

Vừa xoẳn trước khi có con người, HST («Hệ Sinh Thái») trên trái đất này thực sự đạt tới một chu trình sinh thái hoàn thiện. Trong HST, vật chất, vi khuẩn, thực vật, động vật … nằm trong một chu trình kín tổng thể tự cân bằng được, tự tái sinh được. Tất cả các chất thải hữu cơ đều tự phân giải tự nhiên được trong chu trình này, không có “ô nhiễm chất thải đời sống”, « rác rưởi đời sống » không tái sinh được tự nhiên trong HST.

Xem một bộ phim tài liệu về đời sống của HST ở Bắc cực, ở Nam cực, hay ở một khu rừng nguyên sinh bát ngát nào đó còn sót lại ở châu Phi hay ở Nam Mỹ, bạn sẽ thấy ngay rằng Thượng Đế thật là vĩ đại, vì bạn chả có thể chê trách được điều gì nữa. Bạn ngồi đó chiêm ngưỡng, và chấm hết. Chu trình này của HST được gọi tên là « Badakethutanha », có bắt đầu, và có kết thúc, và cái kết thúc ở đây cho phép khởi động trở lại cái bắt đầu, tạo nên chu trình sinh thái tự tái sinh hoàn chỉnh.

Ladaboda

Bây giờ bạn bật lại bộ phim đi, và ngắm thật kĩ thêm nhé. Hình như cũng có một chút vấn đề tiềm năng gì đó.

Mấy con sên tham ăn cái búp non cho kì cùng, có khi cả cái cây non chết nẫu.

Mấy con sư tử xẻ thịt được con hươu, ăn một phần, rồi bỏ vương bỏ vất đấy.

Mấy con khỉ rung cành rụng cả đống quả, ăn được vài quả, rồi bỏ đi.

Chúng hoạt động theo cái sở năng gì vậy ?

Cái sở năng này được gọi là “Ladaboda”, một sở năng tự nhiên, sở năng hoạt động bỏ lửng, theo nguyên tắc “tiết kiệm năng lượng” cho mỗi sinh thể. May thay, các hoạt động của các sinh thể này của HST có thể bị bỏ lửng mà không gây ra những nguy hại căn bản nào cho bản thân chu trình sinh thái tổng thể của HST.

Tại sao ? Bởi vì HST có công năng «Badakethutanha », chu trình kín tổng thể tự cân bằng, tự tái sinh được. Chính Badakethutanha đã giải quyết mọi hậu quả hộ các sinh thể trong HST một cách rất tự nhiên, mà chính các sinh thể kia không cần phải biết đến. Và do đó « Ladaboda » chưa trở thành một vấn đề thực sự của HST.

Homo sapiens sapiens, Badakethutanha và Ladaboda

HST tiếp tục quá trình tiến hóa của mình. Và rồi đến một ngày, HST sản sinh ra homo sapiens sapiens, “con người tinh khôn ”. Con người ra đời, có thể rằng đó là niềm tự hào lớn nhất của HST : sản sinh ra được một sinh thể có khả năng ý thức được về chính HST…

Buổi đầu, con người cộng sinh hiền lành trong HST, giống như mọi sinh thể khác, trong một chu trình kín tổng thể tự cân bằng được, tự tái sinh được. Nếu bạn cất công đi vào được những bản làng thật sâu thật xa ở Tây Nguyên chẳng hạn, bạn có lẽ vẫn còn thấy được sự cộng sinh hiền hòa này của đồng bào mình trong HST.

Điều bất ngờ cho HST là cái sở năng “Ladaboda” đã bộc lộ ra những hiệu ứng rất khác thường một khi con người phát triển đến đời sống công nghệ hiện đại.

Từ vài trăm năm trở lại gần đây, từ khi mà loài người trở nên « tinh vi công nghệ » và đông đúc hơn lên vượt bậc, cái sở năng “Ladaboda”, vốn chỉ như là một vấn đề tiềm tàng ở các sinh thể, đã bộc lộ ra cái sở đoản khủng khiếp của mình.

Vào đời sống công nghệ hiện đại của con người, « Ladaboda » được kích hoạt thành quy trình « hễ có cái gì được bày ra là không biết bao giờ mới thanh toán nổi chúng đi nữa ».

 

Xưa kia ông Héraclite từng nổi tiếng với câu nói “người ta không thể tắm được hai lần ở một dòng sông“. Tôi đã tưởng ông này đã đạt đến cái suy tư cùng cực cho bõ cái khổ công phải làm một nhà triết học.

Chỉ có hơn một chục năm trở lại đây thôi, vậy mà hầu hết các con sông ở xứ ta đã không thể xuống tắm được nữa rồi, thành ra hầu như “người ta không thể tắm nổi được một lần ở một dòng sông“ xứ ta! Tất nhiên bây giờ nếu ta bỏ ra một khoản tiền thưởng lớn bất ngờ ngất trời ngây đất cho những người tham dự, thì có khi ta vẫn có thể sẽ tổ chức được một hội thi toàn quốc bơi vượt sông Tô Lịch, để cho ông Héraclite thức dậy ngắm xem.

Tại sao vậy ? Bởi vì con người ở ta biết bày ra cái cống, cái vốn không tồn tại trong HST, một cái « bắt đầu », mà không đưa đến được một cái « kết thúc » để rồi « tái nhập » trở lại được vào HST. Họ đinh ninh rằng cái cống cũng đã là con sông. Cái này thì rõ ràng là ông Héraclite chưa biết nghĩ tới.

Con người phát minh ra cái cống, tức là họ đã đẻ ra một cái « bắt đầu », để chuyển tải đi cái nước sạch của HST đã bị sử dụng và bị làm bẩn độc về môi sinh, do sinh hoạt của đời sống công nghệ của mình. Với cái cơ chế hoạt động của cái sở năng « Ladaboda » trong mình, « hoạt động bỏ lửng, tiết kiệm năng lượng, kể cả tiết kiệm tư duy», con người đã tống thẳng cái nước thải ở cái cống đó vào con sông, từng bước biến con sông thành cái cống. Con sông Tô Lịch là đỉnh cao đã hoàn thành của quy trình cống hóa do sở năng « Ladaboda » được triển khai hoàn chỉnh ở con người công nghệ hóa dở dang.

Vậy thì con người phải vượt qua được cái hạn chế tự nhiên của cái sở năng  « Ladaboda » của mình, để cái nước thải ở cái cống phải được giải quyết đến cùng, để nước thải ở đó phải được xử lý lại, sao cho nó phải đạt được tiêu chuẩn sạch của nước sông, và chỉ đến lúc đó thôi, thì cái nước rời cống đó mới được nhập lại vào sông. Có như thế, chúng ta mới hoàn thành được cái công năng «Badakethutanha », chu trình bắt đầu – kết thúc – tái nhập vào HST. Nghĩa là mỗi điểm nối bất kì giữa cái cống và con sông phải là một cơ sở xử lý nước thải đạt chuẩn, trên toàn bộ lãnh thổ của HST mà con người tham dự vào.

Chỉ có hơn một chục năm trở lại đây thôi, các con đường ở các thành phố lớn xứ ta  hầu như không thể đi dạo nên thơ giữa ban ngày được nữa, như chú nai vàng trên nẻo đường rừng trong thiên nhiên! Tất nhiên nếu bạn có phổi nhân tạo, có tai đút nút bông gòn hoặc bộ headphone nghe máy nhạc, lại có mắt trùm kính bơi, thì ta cũng có thể gắng đi dạo được ở đó… nếu vỉa hè còn chỗ.

Câu chuyện này hôm nay thành quá khó rồi, vì sự siêu quá tải của quá trình đô thị hóa « bứt rào bung ra » mang qui mô ngút trời đã và đang được nổ tung ở xứ ta. Nhưng con đường rồi sẽ phải thôi là cái cống thải khói và thải tiếng ồn vĩ đại, cùng là nơi tưởng niệm đông đảo các liệt sĩ giao thông.

Vậy thì con người phải vượt qua được cái hạn chế tự nhiên của cái sở năng « Ladaboda » của mình, để rồi một ngày nào đó, trong điều kiện bình thường, một con đường chỉ được phép lưu thông nếu nó thỏa mãn các độ ô nhiễm, độ ồn, độ ách tắc dưới mức cho phép.

Hàng loạt các biện pháp phải được suy tính và tổ chức dựng xây. Từ chuyện rất to lớn và dài lâu, như quy hoạch dân số, quy hoạch các thành phố cùng các vệ tinh của nó, qui hoạch hệ thống các trục đường dọc-ngang-vành cùng các hệ thống bãi đỗ, quy hoạch công nghệ và phương thức sử dụng các loại phương tiện giao thông – với ưu tiên cho các phương tiện công cộng… thật muôn vàn việc… Và cho đến những chi tiết, như hệ thống máy đo ô nhiễm và đo tiếng ồn, hệ thống truyền tin trên đường biết hướng dẫn dòng xe, biết áp đặt việc giảm tốc độ xe để giảm độ ô nhiễm khi thời tiết nóng nực và thiếu gió ở các thành phố…

Không thể làm được như thế ? Thì miễn bày ra. Thì đi bộ, đi xe đạp không thôi.

Chỉ có hơn một chục năm trở lại đây thôi, người ta không thể ăn uống vô tư ở xứ ta  được nữa! Rau tẩm thuốc sâu, quả tẩm hóa chất, rượu pha lừa đảo, thuốc giả thuốc hỏng… chỉ có mỗi dạ dày, ruột gan và bệnh tật của chúng ta vẫn là thật. Nghĩa khí Cần Giuộc “liều mình như chẳng có” còn chịu đựng được bao lâu nữa các đồ ăn thức uống này ?

Vậy thì con người phải vượt qua được cái hạn chế tự nhiên của cái sở năng « Ladaboda » của mình, để rồi một ngày đến, ngay từ đầu mối hàng đưa vào cộng đồng, các thực phẩm đã phải bị kiểm tra chất lượng an toàn, thay vì mỗi người dân phải luyện ngắm từng miếng thịt, lật từng miếng rau, và mặc cả triền miên với Thượng Đế của mình suốt ngày này sang tháng khác xem có nên mua chúng không, có dám tiêu thụ chúng không.

Cầm một mớ thịt, một cây rau, ở bất kì một chợ nào, nhà chức trách phải đủ khả năng truy nguyên rất nhanh chóng, thậm chí tức thời, nhờ hệ thống công nghệ thông tin được thiết kế và vận hành hoàn chỉnh, xem mớ thịt đó, cây rau đó do ai lưu hành, do ai sản xuất, và truy tố được thật nhanh chóng chính xác kẻ ích kỉ hại người. Có như thế chúng ta mới hoàn thành được chu trình «Badakethutanha ». Công việc này không dễ, nhưng làm được, và nhiều xã hội khác đã thực hiện được từ khá lâu rồi.

Có cần thiết phải kể ra nốt các hiệu ứng “Ladaboda” trong thế giới tinh thần của con người không? Biết bao nhiêu các thuyết lý của nợ đã được bày ra, từ cổ chí kim, chưa thấy cái thuyết lý nào được dẹp đi cả. Cái rổ đựng các mê thuyết chỉ thấy lớn lên mãi. Bói bài ta chán, bói thêm bài Tàu, bói bài Tàu chán, bói nữa bài Tây. Phép bói phải được nhân lên mãi, mở ra mãi, sang bói tóc, bói Kiều, bói lá, bói hột thị…liệu còn chỗ nào để không áp dụng được các phép bói mê?

Badatethutanha của kỉ nguyên công nghệ

Tất cả  những thất bại trên đây là do cái sở năng « Ladaboda » sẵn có trong HST được kích hoạt mạnh mẽ ở con người, một khi con người bắt đầu bày ra sự phát triển nền công nghệ nửa chừng, và cái công năng tự nhiên « Badakethutanha » của HST thì bị bất lực trước cái sở năng « Ladaboda » này đã được kích hoạt ở con người thời công nghệ hóa.

Sự bất lực của HST về cái công năng tự nhiên « Badakethutanha » trong thế giới con người công nghệ hóa buộc chính con người phải đối mặt thảo luận nghiêm túc với Thượng Đế của mình, để tìm cách thiết kế và vận hành cho được cái « Badakethutanha » cho đời sống của mình, để hoàn thành cho được chu trình bắt đầu – kết thúc – tái nhập HST trong kỉ nguyên công nghệ hóa của đời sống con người.

Thiền án về « Ladaboda » và « Badakethutanha » không phải chỉ là những vấn đề to tát như dòng sông, con đường, thực phẩm công cộng, hay nạn thuyết mê… Nó nằm ở khắp mọi ngõ ngách của đời sống hôm nay. Thiền định về thiền án này cho phép chúng ta tiến hóa về một đời sống phát triển bền vững và thông minh. Giản dị như mở rộng việc sử dụng rộng rãi túi xách bằng giấy tái sinh được, có giải pháp trồng rừng đã sẵn sàng triển khai được trước khi tổ chức khai thác rừng, cho đến sự ra đời của các thế hệ đồ vật thông minh như nồi cơm điện tự tắt khi cơm chín, vòi nước và đèn tự tắt được ở nơi toilet công cộng sau sử dụng. Vân vân.

Phải đi đến xây dựng và thực hành được nguyên lý như sau cho đời sống, rằng một khi con người muốn bày ra điều gì, thì họ phải chịu trách nhiệm về hệ thống giải pháp để hoàn thành được chu trình bắt đầu – kết thúc – tái nhập vào hệ sinh thái.

Đấy là lời mời gọi mỗi chúng ta, và cả cộng đồng, hãy chuyện trò với Thượng Đế của mình về « Ladaboda » và « Badakethutanha ».

Để cùng góp phần hóa giải cái sở năng khuyết tật « Ladaboda ».

Để đẩy lên được cái nền thiết kế và vận hành cái công năng « Badakethutanha » trong các lĩnh vực của đời sống được công nghệ hóa hôm nay.

Về cách dịch nghĩa các khái niệm « Ladaboda » và « Badakethutanha », các bạn có kiến giải ra sao ?

Tôi tạm dịch nghĩa cùng các bạn như thế này nhé : « Ladaboda » là « Làm đâu bỏ đấy », và « Badakethutanha » là « chu trình bắt đầu – kết thúc – tái nhập hệ sinh thái»./.

HOÀNG Hồng-Minh – bee.net

Một mình, ngày trước nữa…

Bạn Kieu hỏi “bạn Cụ Hinh có tấm ảnh nào chụp một mình không?”

Đây, ngày trước nữa…

P.S.
Có điều rất đặc biệt là khi bạn mèo Abricot gặp bạn Nhima này trong vườn, chúng chơi rất hiền lành với nhau ngay lập tức!

Hay là Abricot đã nhận ra ngay bạn Cụ Hinh?

Phát triển, và thách thức tái cấu trúc hệ thống

HOÀNG Hồng-Minh – Bee.net

 

Có một giai đoạn vì cố chạy theo các bạn trẻ, bạn Cụ Hinh mang đàn ra luyện ra trò. Tiến bộ không rõ ràng lắm về nhạc âm, nhưng rõ ràng là tay trái bấm phím chắc lên, bớt phải mắm môi mắm lợi.

Thế rồi cái tay trái bấm đàn cứ bị đau tê dần theo thời gian, lúc lên, lúc giảm, nhìn toàn cục là lên.

Đến một lúc, suốt dọc từ cổ tay lên đến bả vai cứ thế là tê dại cả đi, như bị kẹp cùm vậy, ngày qua tháng lại không thôi. Khó chịu suốt ban ngày là một chuyện, nhưng đêm đến thế là hết cả ngủ, nửa người tê táy như bị kiến bò lổm ngổm vậy.

Bạn Cụ Hinh bất dắc dĩ đành qua gặp ông Tơ, bác sĩ mình quen đi khám, một người rất đáng mến, nhưng rõ ràng là không nên phải đi gặp ông ấy thường xuyên! Ngồi chờ đến lượt khám, nghĩ vẩn vơ thấy nhiều người xứ Đông dịch sách viết báo cụm chữ tiếng Tây viết tắt « bác sĩ của mình » thành là “bác sĩ riêng của mình” mà ngộ nghĩnh. Có dịp đi qua đó mới té ra rằng thế là dịch theo kiểu bám chữ, nghe oai, còn cụm chữ tiếng Tây này chỉ là để gọi vị bác sĩ mình hay đến xin được thăm khám ! Gọi là « vị bác sĩ theo dõi mình » cũng được, và người dân nào cũng có « bác sĩ của mình ». Phải là nhà siêu triệu phú trở lên, hoặc nhà siêu quyền lực trở lên… thì may ra mới có « bác sĩ riêng » nhé…

Ông Tơ vồn vã chào hỏi như thường lệ, còn Cụ Hinh thì tê tay nên không được tươi lắm, cùng vào phòng khám. Sau khi khám nghiệm, chất vấn, suy tư, ông Tơ nhìn vào mắt Cụ Hinh, giọng ôn tồn.

-”Gay đấy, Cụ Hinh có muốn bỏ tập đàn không?”

-”Dạ, không…”

-”Trong thời gian qua, có một cái phát triển rất tốt ở Cụ Hinh.”

-”Hay quá bác Tơ, gì vậy ạ?”

-”Cơ tay của Cụ Hinh phát triển lên.”

-”Tôi tự hào nha, chắc mình trẻ ra!”

-”Nhưng Cụ Hinh chắc không phải là người tập đàn nỗ lực và đều đặn từ nhỏ.”

-”Dạ, đáng tiếc thế đấy ạ. Không thì chắc tôi đã suýt thành sao sáng rồi.”

-”Vâng… cho nên những cơ ở cổ tay này của Cụ Hinh phát triển nóng, đột phát, trên một cái nền tảng cổ tay không có được sự phát triển tương xứng.”

-”Chết…”

-”Điều đó dẫn đến là các cơ mới đột phát này bóp nghẹt đôi chút các mạch máu ở cổ tay. Và từ đó cả cánh tay bị tê dại đi.”

-”Trời đất… có cách gì không ạ, thưa bác Tơ?”

-”Bây giờ kiểu gì thì cũng phải giảm tập đàn tập địch đi. Rất may là Cụ Hinh đâu còn quá trẻ để mơ thành sao này sao nọ.”

-”Vâng…”

-”Sau đó, nếu may mắn thì cứ cà tang như thế, cơ thể Cụ Hinh dần sẽ quen được một phần, tuy tay vẵn hơi đau đấy, nhưng vẫn tập chơi được đàn chút đỉnh. Chút đỉnh thôi.”

-”Dạ… Nhưng thế thì làm sao mà đuổi theo được các bạn trẻ đây…”

-”Còn nếu không, chắc sẽ phải phẫu thuật, mổ cổ tay để nới chỗ cho các mạch máu… Nhưng kết quả thì không dám chắc. Cũng có trường hợp tốt lên, cũng có trường hợp không ăn thua gì, thậm chí…”

-”Bác Tơ ạ, đến nước tái cấu trúc hệ thống này thì, thôi, tôi xin rút lui, hoạt động nhẹ nhàng thôi, và nhường đường cho những ai thuộc thế hệ trẻ khỏe, lại có đào luyện sớm sủa và bài bản ạ. Cảm ơn bác sĩ Tơ, tôi về nhé!”

Đoạn Cụ Hinh vội vã đứng lên xếp ghế để ra về.

-”Ấy Cụ Hinh, chưa được, đừng hoảng hốt, tôi còn phải viết cho Cụ Hinh cái đơn thuốc giảm đau để đi mua thuốc đã!”

./.

Chuyện với gió Xuân

Sáng ngày ra đang lơ đễnh tự hỏi “mùa Xuân chờ mình, hay mình chờ mùa Xuân” thì được bạn Minh-Phuong gửi cho ngọn gió Xuân đầy đức tin.

“Với ước mong, niềm tin và can đảm, chúng ta sẽ làm được, dù có thể sẽ lâu, nhưng sẽ làm và làm được.”

Cảm ơn ngọn gió Xuân này, và nhờ ngọn gió Xuân này cõng thêm vài san sẻ.

Là người ít khi được hưởng những hướng dẫn xác đáng sớm sủa đúng lúc (khỏi kể đi vô vàn những hướng dẫn ngu muội), hay muộn nhỡ tàu trong đời sống, lại thêm năng lực suy nghĩ chậm chạp, tôi đành nghiêng về nghĩ lại, và san sẻ những bất lợi mình đã gặp cho những ai còn thời gian để mà tránh. Ai còn thời gian hay không, mỗi người, mỗi cộng đồng phải tự quyết thôi.

Cuộc sống nhỏ bé và ngắn ngủi, mình cũng chỉ kịp để sống với có vài người trong đời. Nhưng lòng bao dung thì nên với rộng tới cả cỏ cây, đất trời.

Vui Tết,
HHM

Chạnh lòng

Qua thăm Tết nhà ông Tộ, trên ban thờ nhà này năm nay không thiếu thức gì, từ rượu khai vị, rồi các món cỗ cổ truyền, cho đến các loại chè và hoa quả tráng miệng.

Cụ Hinh cảm phục công sức của ông Tộ. Và trước hết là công lao của bà Tộ.

Nhưng cũng chạnh lòng vì cái nỗi lo đói lịch sử của xứ sở.

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 51 other followers