Dòng thông tin RSS

Lưu trữ theo thẻ: tia sáng

Bốn nguyên tắc của Hiến pháp Cộng hòa Pháp

Cộng hòa Pháp là một quốc gia có truyền thống dân chủ lâu đời ở châu Âu. Nhằm xây dựng “nhà nước của dân, do dân và vì dân”, Hiến pháp Pháp dựa trên bốn nguyên tắc cơ bản sau:
Một là, Hiến pháp bảo vệ quyền con ngườiNguyên tắc cơ bản đầu tiên đó là quyền cơ bản nhất của chon người được bảo vệ. Trong khi các quốc gia có xu hướng liệt kê các quyền con người được bảo vệ, thì Lời mở đầu của Hiến pháp Pháp năm 1958 đã viện dẫn 2 văn bản quan trọng về quyền con người: “Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền năm 1789” và “Lời mở đầu của Hiến pháp năm 1946”. 

Tuy nhiên, quyền sống, tự do và bình đẳng được xem là thiêng liêng, là nguyên tắc của phẩm hạnh con người, và được củng cố bằng các quyền kinh tế v�Theo Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền, các quyền tự do cá nhân là vĩnh viễn và chưa đầy đủ. Vĩnh viễn theo nghĩa các quyền sẽ tồn tại, gắn với mỗi con người, mà không bị tước đoạt. Chưa đầy đủ nghĩa là việc liệt kê các quyền con người chỉ mang tính tương đối, chưa có một thước đo hoàn chỉnh nào có thể liệt kê được tất cả các quyền con ngườitham gia vào đời sống xã hội dưới hình thức tập thể và cá nhân riêng lẻ. 

Ngoài ra, Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền năm 1789 và Hiến pháp Pháp năm 1946 đã đưa ra các quy định khá cụ thể để bảo vệ các quyền con người, cũng như các quy định vừa mở để phù hợp với sự phát triển của nhận thức, công nghệ…, chẳng hạn như quyền tự do ngôn luận chưa được đề cập trong Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền, nhưng nhờ những quy định mở, mà quyền này cũng được xem là bất khả xâm phạm.

Để bảo vệ các quyền con người, Hội đồng Hiến pháp có nhiệm vụ đảm bảo tất cả các luật được thông qua bởi Nghị viện phải phù hợp với Hiến pháp và các văn bản mà Hiến pháp viện dẫn.

Hội đồng Hiến pháp có chín thành viên. Tổng thống bổ nhiệm ba, Chủ tịch Quốc hội bổ nhiệm ba và Chủ tịch Thượng viện bổ nhiệm ba. Ngoài vai trò bảo vệ Hiến pháp, Hội đồng Hiến pháp còn có chức năng bảo đảm các cuộc bầu cử Tổng thống, bầu cử Nghị viện và Trưng cầu dân ý được thực thi đúng pháp luật.

Nhiệm kỳ của các thành viên Hội đồng Hiến pháp là chín năm (không bị bãi nhiệm và không được bổ nhiệm lại khi hết nhiệm kỳ). Điều này đảm bảo các thành viên độc lập, không bị chi phối bởi những người đã bổ nhiệm trong các tranh chấp chính trị và tư pháp.

Hai là, Hiến pháp phân quyền

Theo quy định của Điều 16 của Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền 1789, Hiến pháp, theo tinh thần Học thuyết Montesquieu, phân chia quyền lực. Quyền lập pháp được trao cho Nghị viện, quyền hành pháp trao cho Tổng thống và Thủ tướng, quyền tư pháp trao cho Tòa án. 

Nhánh lập pháp: bao gồm Quốc hội (the National Assembly) và Thượng viện (the Senate)
Quốc hội được bầu thông qua phổ thông trực tiếp, dựa trên nguyên tắc đa số. Mỗi dân biểu được lựa chọn từ một khu vực cử tri, hay nói cách khác, một khu vực nhất định chỉ có một dân biểu đại diện. Điều này tránh được tình trạng “cha chung không ai khóc”. Nếu một vài dân biểu đại diện cho một khu vực, rất khó để xác định trách nhiệm của các dân biểu. 

Trong khi dân biểu của Quốc hội đại diện cho người dân thì các Thượng nghị sỹ đại diện cho các quyền lực địa phương (bao gồm chính quốc Pháp và cả người có quốc tịch Pháp sinh sống ở nước ngoài). Thượng nghị sỹ được bầu thông qua phổ thông gián tiếp, bởi các dân biểu địa phương. Thượng nghị sỹ có nhiệm kỳ 9 năm, và cứ 1/3 trong tổng số 321 Thượng nghị sỹ sẽ được bầu lại 3 năm/lần.

Nhánh hành pháp: Quyền hành pháp được trao cho Tổng thống và Thủ tướng.

Tổng thống là người đứng đầu Nhà nước, đại diện cho quốc gia. Các quyền quan trọng của Tổng thống bao gồm: Bổ nhiệm Thủ tướng, và các thành viên của Chính phủ theo đề xuất của Thủ tướng. Ngoài ra, Tổng thống có quyền kêu gọi trưng cầu dân ý, giải tán Quốc hội (tuy nhiên, không có quyền giải tán Thượng viện), đàm phán và thông qua các hiệp ước quốc tế, hay đề xuất sửa đổi Hiến pháp, vạch ra các chính sách quan trọng cho Chính phủ. 

Tuy nhiên, quyền lực quan trọng nhất của Tổng thống bắt nguồn từ nhân dân thông qua bỏ phiếu phổ thông trực tiếp. Nếu ứng viên dành được đa số tuyệt đối (quá bán/tổng phiếu), thì ngay lập tức trở thành Tổng thống. 

Trong trường hợp không có ứng viên nào dành được đa số tuyệt đối, thì 2 ứng cử viên dẫn đầu sẽ tham gia vòng thứ hai. Trong lần bầu thứ hanày, người nào dành được đa số tuyệt đối sẽ chiến thắng, trở thành Tổng thống. 

Thủ tướng do Tổng thống bổ nhiệm. Thủ tướng điều hành công việc hàng ngày của chính phủ, chịu trách nhiệm giải trình trước Quốc hội. 

Nhánh Tư pháp: 

Nghĩa vụ của Thẩm phán Pháp bao gồm: giải thích và áp dụng pháp luật. Hiến pháp bảo đảm các Thẩm phán độc lập và có một địa vị đặc biệt.

Pháp có hệ thống tư pháp kép, song song nhưng hệ thống cấp bậc riêng biệt: Các Tòa Dân sự và các Tòa Hình sự (cao nhất là Tòa Phá án (Court of Cassation); và các Tòa Hành chính, xét xử các tranh chấp giữa các cơ quan công quyền và cá nhân (đứng đầu bởi Conseil d’Etat). Ngoài ra, còn có Tòa Kiểm toán (Audit Court) với các trách nhiệm trong lĩnh vực ngân sách và tài chính.

Ba là, chế độ Đại nghị duy lý

Chế độ Đại nghị duy lý được hiểu là trong mối quan hệ giữa Chính phủ và Nghị viện thì Chính phủ có nhiều cách để thúc ép Nghị viện thông qua chính sách.

Chính phủ không e ngại khi đối diện với Nghị viện bởi các thành viên của Nghị viện chịu sức ép từ Chính phủ (cùng Đảng). Tuy nhiên, trong một số trường hợp, các thành viên này có thể lựa chọn khác, khi lợi ích của Đảng xung đột lợi ích nhân dân. 

Chế độ này bảo đảm sự ổn định và quyền lực của số đông (power of the majority block). 

Cuối cùng, Hiến pháp bảo đảm mối quan hệ trách nhiệm của nhà cầm quyền đối với người dân 

Người dân (người bị trị) chọn nhà cầm quyền thông qua bầu cử.  Nhà cầm quyền đưa ra chính sách để điều hành.  Nhà cầm quyền chịu trách nhiệm giải trình trước dân (nếu nhà cầm quyền không thực hiện được như nguyện vọng của dân, thì họ sẽ không dành được phiếu trong cuộc bầu cử sau).

Lời kết

Rõ ràng, với những nguyên tắc: Bảo vệ quyền con người, Phân quyền, Chế độ Đại nghị duy lý, Bảo đảm trách nhiệm của nhà cầm quyền đối với người dân, Hiến pháp Pháp thực sự là khế ước xã hội bảo vệ các quyền lợi của các thành viên trong xã hội, cũng như đã xây dựng được một mô hình phân quyền hợp lý giữa các nhánh quyền lực. Có như vậy, người trao quyền (nhân dân) mới thực sự làm chủ, không bị mất quyền sau khi trao quyền. Những nguyên tắc này, về cơ bản, cũng là xu hướng chung trong Hiến pháp của nhiều nước dân chủ trên thế giới như Đức, Thụy Điển, Bồ Đào Nha…

Tết cũ Hànội, còn gì hôm nay?

HOÀNG Hồng-Minh

== Bản đầy đủ ==

Con người, cảm xúc, hiện thực. Chúng lúi húi với nhau, tin tưởng vào nhau, nghi ngờ lẫn nhau. Cái Tết của mới mấy chục năm về trước, vừa mới hôm qua đây, đã như vô cùng xa lạ với cái Tết hôm nay… Con người mình đã đổi thay ? Cảm xúc của mình đã đổi thay ? Bản thân cái Tết đã đổi thay ? Hay là tất cả mấy cái đó ?

Con người

Con người, là một người, là mọi người, và do đó cũng là cả xã hội. Con người đổi thay. Mỗi thế hệ đều trải nghiệm những cái Tết riêng tư của riêng mình, ở mỗi vùng miền khác nhau. « Tết cũ Hànội », cũng chỉ là tôi nói đến những cái Tết của thời lứa của tôi mà thôi.

Cái đặc biệt, là con người nước Việt hôm nay đã và đang đổi thay với một tốc độ rất nhanh, và ngày càng nhanh lên vô cùng, đặc biệt là ở các thành phố lớn.

Cái Tết ngày trước đại khái vốn là những gì ?

« Thịt mỡ, dưa hành » ? Các bạn trẻ hôm nay chắc khó mà hiểu được rằng ngày trước nhiều khi mỡ quí hơn thịt nạc ! Mỡ rán lên, cất vào liễn mỡ ở trong chạn, dẫu có thường bị kiến bò vào thì rồi mới có đủ các loại món rang, món xào, món canh « toàn quốc » rạng ngời váng mỡ.

« Câu đối đỏ» cũng là chuyện cũ, nay chán rồi. Đường phố hôm nay ngập tràn các loại  quảng cáo, từ « khoan cắt bê tông » đến « cắt tóc gợi tình», cùng với đủ loại khẩu hiệu chói chang say nắng say mưa quanh năm. Trẻ mới học chữ cùng người già hôm nay ra đường đánh vần suốt ngày không hết chữ.

« Tràng pháo » bây giờ nằm kín ở trong dàn âm thanh hifi không khói không mùi.

« Bánh chưng xanh» nay bày bán ở chợ mọi lúc, thỉnh thoảng lại được các bà nội trợ rước về cho cả nhà ăn quà sáng. Hết thiêng!

Nhưng Tết dẫu sao thì cũng không chỉ là chuyện « no ba ngày Tết ». Còn là, và trước hết lại là muôn chuyện có vẻ như đâu đâu.

—-

Ngày trước dù sống ở giữa phố phường Hànội, nhiều người cả năm hiếm khi có lấy bức ảnh chụp. Chỉ ngày Tết đến, cả gia đình mới diện cho nhau bộ quần áo đẹp nhất, hơi ngượng một tí vì chợt quá diện hơn hẳn ngày thường, trịnh trọng bách bộ ra phố hướng đến hiệu ảnh ở phố Tràng Tiền, hay ở phố Hàng Khay, để chụp lấy mấy kiểu ảnh gia đình, mấy kiểu chân dung. Một khoản ngân sách đáng kể. Phố phường yên vắng, lặng thinh, nghe thấy rõ cả tiếng của xích xe đã rã đang cà vào cái líp xe đã cùn, « kịch-cà-rà-kịch », mỗi khi có bác xích-lô đạp xe ngang qua. Mở cuốn album, duy nhất, của một gia đình ngày ấy ra, mỗi trang là một bộ ảnh của ngày Tết của mỗi năm. Trừ phi có thêm sự kiện gì đặc biệt lắm, thì mới thấy có thêm vài chiếc ảnh khác. Ảnh đen trắng, hoặc nâu trắng, giấy bóng, giấy lụa, đôi khi có chiếc được tô tí màu bằng bút lông. Chúng được cắt riềm dentelle như những chiếc bánh biscuit, và có khi bị gián mối nhấm mất toi một góc. Hôm nay các bạn tuổi teen ngồi rảnh rỗi năm phút là đã giơ điện thoại ra chụp cho mình lấy vài chục kiểu ảnh, rồi lập tức tống chúng lên Facebook, và chém gió bình loạn nhau hả hê được liền…

Con người, đời sống đổi thay đến như thế. Tết không thay đổi được chăng ?

Cảm xúc

Vật chất, là « cái bên này » của hiện thực. Cảm xúc của con người, là « phía bên kia » của nó. Sau này khi mình ra đi, ai thì rồi cũng sẽ ra đi cả thôi, mình sẽ không quên mang cái « hiện thực bên kia » đi cùng, và sẽ chỉ còn lại cái « hiện thực bên này ».

Con người mới mấy chục năm trước đây còn rất đơn giản, nói ngây ngô cũng được. Sự đơn giản ấy đặc biệt ở chỗ nó vốn ở sẵn trong họ từ hàng ngàn năm rồi, hầu như không bị biến động nhiều. Thoắt một cái, hôm nay sự đơn giản ấy đã thành ra chuyện cổ tích cho giới trẻ.

Thời Hànội còn trong chiến tranh, các trường học phải tản cư ra khỏi thành phố, thường về các tỉnh. Trường nhạc họa của thành phố được ưu tiên tản cư ra ở… ngay Quảng Bá, bên Hồ Tây! Hà nội cỏn con, hết đường Cổ Ngư đã là hết nội thành, đường xe điện cũng kết thúc ở đó, bến Yên Phụ. Ăn ở tại trường, chiều thứ bảy bọn trẻ trường này được về nhà trong phố, nếu bố mẹ không dặn đón thì chúng tự cuốc bộ với nhau ra đến tận Yên Phụ để lấy tàu điện chạy về Cửa Nam, về Bờ Hồ… Trường đặt ở chỗ « dốc phi lao » của đường đê, cái dốc duy nhất có hàng cây phi lao của Quảng Bá, và trong những cây phi lao ấy có loài châu chấu voi đặc biệt, to bằng bàn tay trẻ con, rất đáng kính nể. Nay thì con dốc này đã thành ra một con phố nội đô, giá mà nó được đặt tên thật giản dị, ví dụ như lấy tên đường làng cũ của nơi đó, hoặc là « Dốc phi lao », thì sẽ gợi cảm, gợi nhớ biết bao nhiêu. Sao người ta cứ mải mê dán hết tên người này với tên người nọ vào những chỗ như thế, để mà làm gì, để làm hỏng hết các kỉ niệm của đời sống? Đường đi trên đê trước khi xuống con dốc ấy rậm rịt những ổi là ổi, ngút ngát, thơm tho, thời đó chưa có đường đê ngoài như bây giờ. Những làng quanh đó thì tuyệt đẹp, các ao ngòi, vườn hoa, vườn quả thông nối sang nhau, tha hồ lang thang. Muốn mua hoa quả, khách mua nhiều khi phải đánh thức chủ nhà đang ngủ trưa thức dậy, để họ mang sào ra vặn trẩy quả. Đi quá Quảng Bá thì đã là những cánh đồng làng quê Nhật Tân, Phú Thượng, Chèm Vẽ đìu hiu yên ả. Trường văn hóa thể thao của thành phố thì ở chỗ Quần Ngựa, cuối đường Đội Cấn, đã là đủ tiêu chuẩn tản cư. Dọc đường Đội Cấn đi từ trung tâm thành phố đến Quần Ngựa, chỉ thấy các làng, hồ nước, ruộng rau, và các đầm sen thơm ngát. Nay thì cả vùng này đã lọt thỏm trong « trung tâm nội đô mới » của Hànội.

Phố phường Hànội còn rất vắng dân cư, còn chưa chuyển sang « làm việc thông tầm ». Buổi trưa tan tầm người đi làm còn kịp đạp xe về nhà, đắp lò mùn cưa, dóm lửa bếp củi, vo gạo thổi cơm, dọn mâm ăn uống, cả ngủ trưa chớp nhoáng nữa, để rồi mới lại đạp xe đi làm buổi chiều. Trẻ con thường mê đắp lò mùn cưa cho bố mẹ : đặt cái chai thủy tinh vào giữa cái lò tôn sắt, như một cái xô nhỏ, nhồi lèn mùn cưa xung quanh cái lọ, trích mở lấy bớt mùn cưa qua « cửa lò» ở phía dưới cho thông khí vào tới tận cái thân chai, rồi nhẹ rút cái chai ra. Cả một tác phẩm nghệ thuật !

Thời đó cả Hànội, mà cũng là cả phía Bắc, chỉ có đúng ba tờ báo hàng ngày, mỗi tờ bốn trang, các trang nhất giống hệt nhau, các nửa trên của trang thứ tư « Tin thế giới » cũng giống hệt nhau luôn, nhiều chỗ ở trên các trang hai, trang ba là những đoạn đăng « tiếp theo… » của các bài của trang nhất và trang bốn… Nội dung bản sắc của mỗi tờ báo chỉ còn đặt cược được ở những chỗ trống còn lại. Tờ báo tuy giá 5 xu, một đồng là mười hào, là một trăm xu, nhưng người nghèo muốn đọc báo không mất tiền thì… đạp xe hay cuốc bộ ra chỗ tòa báo !

Các ngày thứ hai liền sau ngày chủ nhật có trận bóng đá, dân nghèo nghiện bóng chen nhau ở trước cửa của tòa báo thành phố để đọc trang cuối của tờ báo thành phố, dán ở trong cái hộp gỗ có mái che, phía trước có cửa bọc lưới sắt mắt cáo, toét cả mắt để đọc xuyên thủng qua được cái lưới này. Hồi đầu cửa hộp gỗ này lắp kính, nhưng hay bị vỡ, nên rồi mới chuyển sang lưới mắt cáo thông minh. Số báo ngày thứ hai này sẽ có mẩu bài, may mắn thêm nữa thì có tấm ảnh, tường thuật lại trận bóng đá buổi chiều chủ nhật trước đó, từng lời lẽ rất căn đo để lường trước các cơn ganh tị của các fan của hai đội tham đấu. Sáng ngày chủ nhật nếu bạn rỗi rãi thì có gì thả bộ ghé vào sân Câu lạc bộ ở ven Bờ Hồ cạnh nhà hàng Phú Gia, ngồi ở các bậc khán giả ngoài sân có có cây cao tỏa bóng mát, dự trận đấu giải cờ tướng. « Bên trắng, tốt ba tiến một », tiếng loa phát ra, người phụ trách bàn cờ lớn loay hoay dịch con « Tốt » vĩ đại trên cái bảng cờ treo chỗ sân khấu. Một ván cờ đi luôn cả một buổi sáng trong cơn thảo luận mưu tướng mẹo sĩ say sưa của khán giả, chả ai thấy sốt ruột.

Hôm nay, còn tìm ra được ai có cái tinh thần « không chống cự lại thời gian » như thế ở Hànội được nữa không ? Không thể còn được.

Cảm xúc con người đã đổi thay, vũ bão. Tết không thay đổi được chăng ?

Cuốn phim Tết xưa

Hồi nhỏ mỗi khi đi đâu, dẫu chỉ trong vài ngày, rồi trở về Hànội qua cây cầu Long Biên lượn khúc thanh thoát trên những con sóng sông Hồng ngậm đỏ phù sa đang nghì ngoạp mãi sâu tít dưới kia, lòng tôi thoắt se lại, thiêng liêng, tự nhủ mình rằng, không bao giờ, không bao giờ tôi sẽ xa được Hànội. Nơi yêu thương này, có xóm giềng, có bè bạn, từ thuở lọt lòng. Vẫn chuyện năm nọ cái trường tản cư ở Quảng Bá rồi bị ngập mưa lớn kéo dài, mà đã sang nửa sau của năm học, tình thế Hànội thì đã yên ổn hết lo đạn bom, trường này thế nào được đặc cách về giảng dạy học tập tạm ngay tại… bên trong khu Văn Miếu ! Dãy nhà này, tổ violon, tổ violoncelle, dãy nhà kia, tổ sáo, tổ nhị, dãy nhà nữa, tổ hội họa, tổ piano… Ngẫu nhiên vô cùng được làm « những học sinh cuối cùng của Văn Miếu », trong nửa năm trời! Lúc này các trường học bình thường khác vẫn chưa được mở trở lại ở Hànội. Thật là một Hànội vô cùng « của ta ».

Hànội trở về thanh bình, sau nhiều năm thời chiến trống vắng. Trong éo le thời cuộc cũng có cả may mắn, suốt mấy chục năm trời thành phố này hầu như không có chút thay đổi gì về kiến trúc nhà cửa, phố xá, chúng chỉ bị cũ kĩ đi, cổ kính thêm đi, và cư dân thì « ở đâu ở đó », không được xáo trộn. Tất cả điều này cho những người trong cuộc có một không gian-thời gian vô cùng đặc biệt, đầy định hình, định sắc, định tâm của một thành phố rất « của mình ».

Nhiều buổi trưa tan học về, bạn bè mấy đứa kéo nhau ra thuê thuyền đôi ở Hồ Gươm, chèo bơi say nắng, leo cả lên đảo Tháp Rùa cho thỏa lòng hiếu kì. Hànội bé bỏng, con đường mình đi học không bao giờ cần phải có mũ nón áo mưa, nhờ những mái hiên rộng rãi tuyệt vời chạy suốt từ Khách sạn Métropole, rồi dọc Tràng Tiền, rồi lượn sang Hàng Bài cho đến ngay gần cổng trường. Mấy tấm pano vẽ quảng cáo phim ở ba cái rạp chiếu phim trên đoạn đường này luôn thời sự hóa cho mình tình hình phim ảnh, mê phim gì quá thì khi tan học ghé qua mua vé luôn. Mấy tiệm sách « Quốc Văn », « Ngoại Văn » trên đoạn đường này cho mình rành rọt các đầu sách vở mới, cứ như thành trí thức đến nơi. Hànội quen chân, cảm như thuộc từng viên gạch lát ở các vỉa hè, từng cây sấu mùa về quả chín vàng đỏ trên các con phố. Hànội quen tai, từng âm thanh bánh xe điện rít lên những cung điệu rất riêng biệt ở mỗi cung đường, ngồi trên xe điện nhắm mắt lơ mơ mà mình cũng đã biết rõ ràng là mình đang phố nào, chỗ nào…

Thế mà rồi cũng như bao nhiêu người, tôi phải đi xa khỏi Hànội… Để cho lòng mình càng ắp đầy thương nhớ.

Nói nhớ Tết, ngẫm nghĩ kĩ hơn, thực ra nay đã là nhớ những cái Tết ở trong kỉ niệm. Chúng là những thước phim tư liệu tỉ mỉ, rung cảm, lắng sâu, niêm phong kĩ càng ở những tầng vỉa đâu đó sâu bên trong tâm hồn, trong ấy có hình ảnh xưa, có con người xưa, có xúc cảm xưa, có những cái Tết xưa thật là nguyên vẹn, đến mức như chúng chỉ chờ mình có thời dịp để tháo rỡ chúng ra, nhớ phải thật nắn nót kẻo mà hỏng vỡ, và đem chiếu chúng lên, cho mình, cho mọi người cùng chia sẻ.

Có lẽ cũng vì thế, nhiều khi lại sợ những thước phim kỉ niệm nọ bị hỏng mất, bị lẫn lộn mất, bị nhạt nhòa mất, khi mà mình mãi vẫn bận rộn, chưa có dịp nào để kịp khảo hồi chúng chu đáo, để đặt lại được nguyên vẹn chúng vào các chất liệu bền vững của « hiện thực bên này ». Bây giờ nếu Tết về gặp lại người xưa từng ở trong Tết xưa, mà họ đã quá khác với xưa ? Bây giờ nếu Tết về gặp lại người xưa từng ở trong Tết xưa, nhỡ họ lại cảm xúc xa lạ với cái cách mà họ vẫn cảm xúc khi xưa ? Bây giờ nếu Tết về gặp lại bức tranh phố phường ngày Tết đà quá khác khi xưa ?

Mà chính tôi đây, có gì để bảo đảm được đâu rằng tôi vẫn như xưa, vẫn xúc cảm như xưa khi Tết Hànội về ?

Nên vấn vương vừa nãy là thực tế hơn hết, trước khi thành quá muộn.

 Khi mà mình vẫn mãi bận rộn, chưa có dịp nào để kịp đặt lại được nguyên vẹn chúng vào các chất liệu bền vững của « hiện thực bên này »…

Tia Sáng

Câu chuyện “ý chí”

HOÀNG Hồng-Minh

Tia Sáng

Câu chuyện nào thì cũng là vô tận. Nữa là câu chuyện về « ý chí ». Lúc rảnh rang ngày Tết là lúc mà cuộc chuyện trò rình rang về câu chuyện rắc rối này được thuận buồm hơn cả.

Về đại thể, có thể xem ý chí như một chủ ý dẫn dắt một quá trình hành động, bắt đầu từ quan niệm  về hành động (« hiểu biết », có thể còn rất mơ hồ), đến hình dung trước về kết quả hành động (« chủ đích », có thể rồi cũng hóa ra thật mơ hồ), rồi quyết định hành động (« quyết đoán », về bản chất là « tự quyết », liên quan đến « tự do »), và nhận lĩnh trách nhiệm về hành động (« đạo hạnh »).  Ý chí là kẻ chủ trì toàn bộ quá trình này.

Ý chí xúc cảm

Câu chuyện ngày xưa ông Ngu rời núi, thật là chuyện vĩ đại, ở cái thời chỉ có xẻng cùn, sọt nát, cùng người nhà thưa thớt của ông. Nhưng ông Ngu đã « thấy » cả một tương lai bất tận, nơi đó con mình, cháu mình, chắt mình, chút mình, chít mình… rồi sẽ nối việc… Và ông Ngu cứ việc hành chí rời núi.

Ý chí này, ý chí xúc cảm. Một mục tiêu được đặt ra, mọi giá cả, không thành vấn đề nữa, mọi khó khăn, không thành vấn đề nữa, mọi ngặt nghèo về không gian, không thành vấn đề nữa, mọi rắc rối về thời gian, không thành vấn đề nữa, làm sao để nghiệm thu, không thành vấn đề nữa… Tinh thần của ý chí xúc cảm có thể chốt lại như thế này : « tất-cả-để ».

Trong đời sống, của mỗi cá nhân, hay của mỗi cộng đồng, ở những thời điểm thử thách sống còn, ý chí xúc cảm là điều vĩ đại. Nó giúp mỗi người hay mỗi cộng đồng đủ sức để có thể vượt lên được từ nghịch cảnh vô cùng khắc nghiệt, không có nó, người ta chỉ còn biết nhắm mắt xuôi tay. Một người tay không bị trôi lênh đênh nhiều ngày đêm giữa biển cả, một vùng quê nước lụt trắng tràn, một thành phố chợt hóa thành bãi rác-nghĩa địa khổng lồ sau một cơn địa chấn-sóng thần kinh hồn, một tộc người phút chốc rơi vào sự cướp bóc của một đạo quân man rợ, một nhà tranh đấu cho sự ngẩng đầu của người da đen nằm gần suốt một đời mình trong tù ngục… Tất cả những nghịch cảnh khủng khiếp ấy chỉ còn biết cậy trông vào một thứ thôi : một ý chí xúc cảm mãnh liệt.

Ý chí trí tuệ

May mắn thay, thế giới con người ngày càng văn minh hơn, xét về tổng thể cho đến nay. Những đại họa do chính con người gây hấn vẫn rập rình đó đây, nhưng không còn là những biểu đạt chính yếu nhất của đời sống hôm nay trên toàn cầu. Giòng chảy của kiến thiết nay đã thành ra trọng yếu hơn giòng chảy của bạo hoại. Tất nhiên làm người, hãy luôn luôn cảnh tỉnh.

Trên cái nền tảng của giòng chảy kiến thiết, con thuyền loài người ngày càng cần đến hơn một ý chí khác. Một « ý chí trí tuệ », cái ít được biểu đạt trong ý niệm truyền thống về ý chí, đặc biệt là ở phương Đông xưa kia.

Một con báo đang đuổi bắt kì cùng một con nai trên một miền đồng cỏ mênh mang, cả thân hình nó là một biểu đạt trọn vẹn của cả một ý chí lớn lao, ý chí xúc cảm, được gây dựng trên bản năng.

Khác với ý chí xúc cảm, thứ ý chí « tất-cả-để » dựa trên biển cảm xúc đầy bản năng, ý chí trí tuệ hoạt động trên vòng vận động của quan sát, học hỏi, phân tích, đánh giá, lựa chọn, quyết định, tổng hợp, thiết kế lộ trình, điều hành, kiểm tra, điều chỉnh, nghiệm kết… Ý chí này là của lý trí, là của tự do, là của lý trí của tự do, là của tự do của lý trí, là cái chỉ có thể có ở con người.

Ý chí xúc cảm hoạt động « bằng mọi giá », dựa trên tờ thanh toán đã được kí khống. Ý chí trí tuệ hoạt động bằng hiệu năng, với « cái giá thấp nhất có thể », dựa trên sự kiểm tra, đo đạc, xét đoán về môi trường.

Ý chí xúc cảm cố gắng tổng huy động các cơn bão xúc cảm. Ý chí trí tuệ nhắm lấy sự tỉnh táo làm cột buồm thống lĩnh.

Ý chí xúc cảm gắng chiếm mọi không gian hành động, vận dụng « chủ nghĩa đại trà ». Ý chí trí tuệ khoanh định không gian kiểm soát được của mỗi hoạt động.

Ý chí xúc cảm gắng chiếm mọi thời gian cho hành động, với tinh thần « một lần, và cho mãi mãi ». Ý chí trí tuệ là ý chí lộ trình, chia định thời gian hoạt động thành những thời hạn, để sau mỗi thời hạn đó có thể quyết định được là sẽ tiếp tục hoạt động này, hay cải cách hoạt động này, hoặc từ bỏ nó, hoặc chuyển đổi sang hoạt động khác ; ý chí trí tuệ phải phối hợp được các hoạt động của hệ thống tổng thể đa tiết điệu trong thời gian.

Ý chí xúc cảm gắng nhắm tập trung hết vào « một  », một hoạt động tâm điểm, duy nhất. Ý chí trí tuệ nhắm đặt ưu tiên hệ thống tổng thể lên trên mỗi hoạt động riêng của nó, dẫu như có một hoạt động riêng nhất định nào đó được ưu tiên chính yếu trong một thời điểm.

Ý chí xúc cảm gắng chủ trương « cứ thế mà làm », « chống nghĩ lại ». Ý chí trí tuệ phân tách bản thân hoạt động « hiện thực » ra khỏi lãnh vực suy nghiệm, để hướng tới khả năng kiểm tra trở lại được, không chỉ hoạt động « hiện thực » ấy, mà cả chính chủ trương tinh thần đang dẫn dắt nó.

Ý chí xúc cảm đề cao tận dụng mọi tập tục để cuốn hút được mọi sức mạnh của xúc cảm. Ý chí trí tuệ khai phóng các phương thức mới, và lựa chọn lại, làm mới lại, thích ứng lại các yếu tố cổ truyền hữu dụng trước khi cho phép chúng được gia nhập, được tích hợp trở lại vào các chương trình kiến thiết mới.

Ý chí xúc cảm hướng tới linh thiêng hóa, trường cửu hóa các quyết định. Ý chí trí tuệ hướng tới giải thiêng, thế tục hóa, kiểm kê, kiểm tra, phán xét, phê phán trở lại các quyết định.

Ý chí xúc cảm hướng đến say số lượng, mê ôm đồm, gộp gạp mọi yếu tố « có ích » dù nhỏ bé hay nhất thời, bất kể mâu thuẫn hỗn tạp mà chúng có thể đang và sẽ gây nên. Ý chí trí tuệ hướng tới tính hợp lý, chắt lọc, hòa hợp, ăn ý.

Ý chí xúc cảm tuy có thể bền bỉ, nhưng mục tiêu lại thường hướng tới tính cấp cứu, kết quả tức thì, đặc tính cổ võ. Ý chí trí tuệ hướng tới tính kiến thiết, tính trừu tượng, tính nền tảng, tính dài lâu.

Ý chí xúc cảm có thể lấy mục tiêu hoạt động « đi đến tự do », nhưng cách thức hoạt động không được tham vấn bởi tự do, rốt cuộc mục tiêu hoạt động « đi đến tự do » thường không đạt đến. Ý chí trí tuệ lấy tự do làm bản thể cho chính ngay sự tồn tại và vận hành của nó.

Ý chí xúc cảm không có ý niệm về quyền-hạn, quyền lực chế ngự được.  Ý chí trí tuệ lấy quyền-hạn, quyền lực chế ngự được, làm điều kiện cho sự chính đáng của sự tồn tại của nó.

Ý chí xúc cảm không cần có quy chế tài phán độc lập.  Ý chí trí tuệ coi qui chế tài phán độc lập là cái đảm bảo cho tính điều tiết được của sự tồn tại của nó.

Ý chí xúc cảm một khi được kéo dài thường trở thành xu hướng độc đoán, cấm đoán các xu hướng khác, để giành ưu tiên tối đa cho hoạt động được nó bảo lãnh. Ý chí xúc cảm có xu thế bảo vệ quá mức hoạt động được bảo chế của mình.  Ý chí trí tuệ coi việc hài hòa các xu hướng của toàn bộ hệ thống của các hoạt động là bắt buộc cho sự bền vững của hệ thống.

Ý chí xúc cảm khi bị kích thích quá lên dễ dàng trở nên « ý chí luận », bất chấp trí tuệ. Ý chí trí tuệ tự cảnh giác cao nhất với « ý chí luận », nhắm tới sự cộng năng của « tự do » cùng « trách nhiệm », tới sự mở rộng thông liên ra môi trường bên ngoài của hệ thống hành động, nhằm có được sự ổn định và phát triển năng động.

Ý chí tổng thể, hay « ý chí »

Tuy  nhiên trong nhiều trường hợp ranh giới của ý chí xúc cảm và ý chí trí tuệ không hẳn đã là dễ dàng rạch ròi được. Nhiều hiện thực bản năng sinh học, xã hội, văn hóa luôn luôn kích hoạt một cách vô thức vào ý chí, chi phối sự lựa chọn của con người, mà con người vẫn tưởng như ý chí của mình đã được ý thức hóa hoàn toàn. Khi một dũng tướng ngày xưa cầu xin « nếu bệ hạ muốn hàng, xin bệ hạ hãy chém đầu tôi đi đã », phần đông mọi người đều xem như cái khí của vị tướng ấy đã là toàn dũng, đã là ý chí trí tuệ hoàn toàn. Nhưng thực ra cái ý chí của vị tướng ấy đã bị trói kĩ trong cái bản năng tập tục của xã hội trung cổ, xã hội « trung quân, ái quốc » thời đó, cái bản năng đòi hỏi bề tôi phải trung với vua trước hết đã, rồi hẵng nói đến việc yêu nước được. Giả như vị tướng nọ đã phải tự nguyện nộp đầu trước rồi, làm sao vị ấy còn làm tiếp được việc yêu nước.

Xúc cảm và lý trí là hai lĩnh vực luôn giằng xé nhau. Cuối cùng thì chúng ta sẽ có một thứ ý chí tổng thể, ý chí này phải tìm cách đứng chân như thế nào trên cùng cả hai miền đất đang luôn luôn trôi dịch này.

Cách thức mà ý chí tổng thể xử lý mối tương quan giữa xúc cảm và trí tuệ sẽ làm nên câu chuyện đạo hạnh. Một ý chí « dở hại » ở một thời điểm còn thiếu sự hiểu biết trí tuệ cần thiết chung trên mức độ toàn xã hội, được coi là ngây thơ, là tha thứ được, là vô tội. Ví dụ như sự tảo hôn do cha mẹ áp đặt ở thời xưa. Một ý chí « dở hại » bày ra ở một thời đoạn kéo dài, khi mà sự hiểu biết trí tuệ cần phải có đã được phổ cập trên mức độ toàn xã hội, sẽ được xem là một sự cố chấp, một tội lỗi về đạo hạnh. Ví dụ như sự cưỡng ép hôn nhân ở thời nay.

Dẫu hàm lượng trí tuệ đã và sẽ ngày càng lớn mạnh lên trong ý chí, ý chí vẫn luôn luôn phải trả lời cho xúc cảm. Trước các nỗi khổ đau của con người, cá nhân và cộng đồng, ý chí không thể chỉ dừng ở phân tích các nỗi khổ đau ấy, mà phải « chịu trách nhiệm » về chúng, mà kẻ đứng ra đòi hỏi điều đó chính là « đạo hạnh ». Sự thờ ơ có thể là sự lạc đường, sự mất phương hướng, sự dỗi dàng lâm thời của ý chí, nhưng không phải là người bạn đường dài của ý chí. Nhiều thành phần của đạo hạnh có thể sẽ và phải được cộng đồng tham chiếu, chuyển dần thành « pháp quyền », qua một quá trình xây dựng lâu dài, bền bỉ, cập nhật, rà soát đi rà soát lại, thành tính bắt buộc (« pháp »), nhưng vì sự tự do và ích lợi của mỗi người và của cộng đồng trên tổng thể (« quyền »). Ví dụ như « trong giao thông mỗi ai thấy người gặp nạn một mình, thì phải tham gia cứu trợ » vốn từ một yêu cầu đạo hạnh đã trở thành một điều luật giao thông ở nhiều nước.

Các phép cai trị chỉ từ « bề trên » áp đặt xuống cộng đồng, chúng thường không có được tính năng « pháp quyền », chúng chỉ là những bộ roi vọt « pháp trị » đặc dụng để « bề trên » trói buộc « bề dưới », để bảo vệ « bề trên », chúng thành ra ngầm khuyến dụ sự tranh giành vị thế quyền lực xã hội không ngừng nghỉ để những người trong cuộc giành cho được lợi thế đối với hệ công cụ « pháp trị » ấy, chúng phản tác dụng tích cực cho sự ổn định và phát triển hài hòa hệ thống cộng đồng trong toàn bộ.

Nhưng dù vấn víu phức tạp đến như thế nào, ý chí chỉ là ý chí trọn vẹn một khi nó được nảy nở trên nền của tự do. « Ý chí » mà không nảy phát từ tự do, cái đó phải được gọi là một cái gì khác, cái đó không phải là ý chí. Tự do, là tự do lựa chọn : ngay cả khi trước mặt tự do chỉ có một thứ để lựa chọn, nó cũng bảo dưỡng quyền chấp nhận điều đó, hay khước từ điều đó. Tuy nhiên ý chí tự do phải lo trả món nợ với pháp quyền, mang tính bắt buộc, cùng đức hạnh, mang tính khuyến nghị.

Ý chí cộng đồng

Ý chí cộng đồng hình thành từ các ý chí xúc cảm, trí tuệ, tự do, đạo hạnh (bao gồm pháp quyền) của công dân, từ « ý chí công dân », chứ không phải từ « lòng dạ thần dân ».

Ý chí cộng đồng phải thể hiện được lợi ích của cộng đồng và những thành viên của nó.

Ông Rousseau thật vô cùng xuất chúng, khi làm sáng tỏ ra được rằng lợi ích của cộng đồng không phải là lợi ích của số đông trong cộng đồng. Đúng thế.

Bởi nếu lợi ích của nhóm đa số quyết định lợi ích của cộng đồng, thì nhóm đa số có cùng lợi ích sẽ độc tài chuyên chế trên các nhóm khác, hay trên các cá thể khác. Chưa hết. Và các công cuộc liên kết các nhóm để có nhóm đa số tạm thời nhằm trấn áp thiểu số còn lại trong mọi lĩnh vực xã hội sẽ làm nên những cuộc bạo động nhốn nháo không ngừng không nghỉ trong xã hội.

Và tất nhiên, lợi ích của cộng đồng càng không phải là lợi ích của số ít trong cộng đồng.

Lợi ích của cộng đồng là tổng thể của những lợi ích khác nhau, những lợi ích xung khắc nhau, của các cá nhân, của các nhóm cộng đồng. Và chính do đó mà phải xây dựng kĩ lưỡng từ đó lên được một hợp đồng xã hội thỏa đáng, một cách năng động và linh hoạt theo thời gian, để một cộng đồng có thể sống ổn thỏa và hạnh phúc với nhau dài lâu.

Ý chí cộng đồng ấy thông qua nền thương nghị cộng đồng được hóa thân dần vào nền pháp quyền, mang tính bắt buộc, cùng nền đức hạnh mang tính khuyến nghị.

Ví dụ giản dị, mỗi nhóm người dân tộc trên đất nước Việt đều phải thể hiện được lợi ích của mình về mọi mặt, văn hóa, xã hội, kinh tế, chính trị, trong hợp đồng xã hội, dẫu rằng người Kinh (Việt) là nhóm người đa số.

Ví dụ giản dị, mỗi con người trên đất nước Việt đều phải thể hiện được lợi ích của mình về mọi mặt, văn hóa, xã hội, kinh tế, chính trị, trong hợp đồng xã hội, dẫu như « những người khác là đa số ». Trừu tượng ư ? Không. Chẳng hạn những người bẩm sinh đồng tính phải được tôn trọng và lợi ích của họ phải được tính đến trong hợp đồng xã hội. Cũng như vậy với những người thuận tay trái, những người tàn tật, những người suy nghĩ không giống số đông, vân vân.

Ví dụ giản dị, nếu tất cả các nghị sĩ đều ủng hộ một điều luật, trừ một vị nghị sĩ. Ý kiến của vị nghị sĩ « lạc lõng » đó phải được tôn trọng, phải được lưu bút. Và bản thân con người nghị sĩ đó, phải được tôn trọng.

—-

Và một ví dụ giản dị sau cùng.

Rằng nếu Tết này có một ai đó mong mỏi được đốt một bánh pháo vào Giao Thừa, thì ý kiến của họ cần được xã hội ghi nhận, không mặc cảm. Để rồi một ngày kia, biết đâu ý chí của xã hội sẽ tìm ra được một giải pháp thỏa mãn được mong mỏi này ?

Có thể bắt đầu phác thảo ý chí đó bằng việc hướng đến xây dựng được một nền giáo dục, trong nhà, ngoài phố, và ở trường học, trong đó mỗi con người không còn chí chết chạy đuổi theo « chủ nghĩa lạm dụng », để tự mình khỏi trở thành « những người hùng của chủ nghĩa lạm dụng», để rồi họ lớn lên vui vẻ tự do, và sẽ chỉ tự do lập chí đốt cho mình đúng một bánh pháo vào thời khắc Giao Thừa?

Ngày Tết, gói quà

HOÀNG Hồng-Minh

Lâu rồi, trong một dịp sang một nước bạn, bây giờ nước nào chả là nước bạn, tôi rơi tõm đúng vào thời khắc của giáp Tết Noel.

Anh Tất, người bạn quen, thấy tôi bơ vơ, ngơ ngác, lại không phải là nai vàng… Anh rủ tôi đến dự Tết Noel ở một gia đình người thân quen. Ngại, và lo đủ đường. Mình vừa ngơ, vừa nghèo… Nhưng được mời nhiệt tình quá. Chưa kể cái văn hóa người Việt trong tôi, nói “không”, hay nói “có”, làm gì có được cái nghĩa 100% bao giờ đâu. “Không”, hay “có” của  người Việt trong tôi là để hoãn binh, để rồi loay hoay tiếp…

Cuối cùng tôi lại nhận được cả điện thoại trực tiếp của chủ nhà nọ, qua máy nói của anh Tất. Tôi hiểu lõm bõm, đại để “đến đi, vui lắm, thật lòng”. Giọng nói của anh chủ nhà rõ ràng là nói ra được nhiều hơn bản thân lời nói. Chúng tôi chuẩn bị đôi chút, rồi sớm hôm sau lên đường.

Con tàu chạy một mạch, êm ắng, lừ đừ, trong đất trời trắng tuyết. Cốc nước trên bàn trước mặt tôi thỉnh thoảng sủi lên tí chút bong bóng, nhưng không sóng sánh. Nhìn xuống đường cao tốc phía dưới kia, hội xe pháo đang đua nhau, thế mà kì, tàu của mình vượt họ cứ như không, như mình đang ở trong một thế giới khác. Anh Tất đoán ra câu hỏi trong đầu tôi, bảo “nom thế thôi, tàu mình đang chạy ít ra cũng phải trên hai trăm rưởi cây số một giờ”. Không gian tuyết xốp xáp ngoài kia là cả một cái phòng cách âm khổng lồ, tôi đã cảm nhận ra sự êm đềm cổ tích đó hồi sáng sớm nay khi đi bộ đến nhà ga, một thực tế khoa học, chứ không phải là tưởng tượng.

Đúng giờ, chi li tới phút, anh bạn giục tôi ra cửa, phải sẵn sàng ngay như lính biệt kích nhảy  dù. Thế thật. Vừa đặt chân xuống được bờ ke nhà ga xong, con tàu đã rời bánh. Sự chi li tốc độ này rõ ràng hạn chế cái cơ hội rình mò đùa cợt mọi lúc của con người Việt trong tôi. Chưa kịp định thần, thì một nụ cười nhẹ nhàng, một vòng tay ấm áp đã chào đón chúng tôi. “Jean, hân hạnh!”. Vừa chào hỏi, chúng tôi vừa ra lấy xe của Jean. Băng qua khu rừng nhỏ, về đến cửa nhà, chị vợ Christelle, cô bé Sophie, cậu bé Thomas diện ngất trời nồng nhiệt chào đón chúng tôi, sự nồng nhiệt làm tan giá ngay mọi e ngại “gây phí thì giờ”, để kéo xộc chúng tôi vào ngay cuộc lễ Tết bề bộn của gia đình.

Giờ thì tôi mới tỉnh ra, ngôi nhà của Christelle và Jean là một nhà bảo tàng văn hóa thế giới! Các đồ dùng, tranh, tượng, kỉ vật phần lớn được mua chở về từ những chuyến ở, chuyến đi từ bao nhiêu miền đất xứ sở khác nhau. Ngay cả chiếc bàn nặng chịch ở phòng khách này cũng đã chu du từ miền đảo viễn đông về! Nhiều kỉ vật, cùng những kỉ niệm của đời sống xứ Việt hóa ra chẳng xa lạ với gia đình này. Nhưng đấy là cả nhiều pho truyện dài, thật dài khác…

—-

Chiều về, sau khi đã dã ngoại thưởng thức đôi chút khí lạnh nhưng ngọt ngào tinh khiết, chúng tôi vào bữa ăn tối Noel thiêng liêng, chuyện trò, đùa bợt. Bọn trẻ thì cứ chốc chốc lại liếc mắt hoài đến gốc cành thông lớn dựng ở cạnh lò sưởi đang đỏ củi. Số lượng các gói quà to nhỏ lóng lánh ở chỗ đấy vừa gây phấn khích, vừa thỉnh thoảng làm tôi thoáng chút lo âu.

Rồi cũng đến lúc bọn trẻ chợt reo ầm lên. Bố mẹ chúng đã đồng ý, rằng phút mở quà đã đến!

Hóa ra có hai loại quà. Loại “riêng tư”, và loại “công cộng”.

Loại “riêng tư” được đi trước.

Tôi thì mải lo nghĩ về giá trị của các món quà, nhất là trong một gia đình khá giả như thế này, còn câu chuyện thì lại đang được triển khai theo một hướng khác hẳn.

Quà cáp được chuẩn bị nhiều nhất, kĩ nhất, cho nhiều người nhất, hóa ra là quà cáp của hai cô cậu bé! Của cô Sophie, và của cậu Thomas.

Jean loay hoay mở gói quà to tướng của Thomas. Năm lần mở, mỗi hộp carton lại chứa một hộp carton nhỏ hơn nữa ở bên trong… Cuối cùng… chỉ là một tờ giấy con, ghi những chỉ dẫn nơi giấu quà trong nhà, nhưng bằng phép đố toán học. Jean gãi đầu, đếm ngón tay, đo bước chân… đi lùng khắp nhà, mãi không thấy ra.

Christelle mở bảy hộp quà lớn. Rốt cục năm hộp nọ, mỗi hộp chứa một cái chén con. Hộp thứ sáu là cái ấm trà. Hộp thứ bảy là cái khay nhỏ cho bộ ấm chén… Christelle nghiện trà xanh ! Món quà trà Việt của anh Tất sau đó vừa khéo gặp gỡ bộ ấm trà của lũ nhỏ, được chị nhiệt thành tán thưởng !

Tôi được tặng mấy món quà vui vẻ xinh xắn… Và một món quà đặc biệt trong một cái hộp to đùng : trong đấy có mỗi một mẩu giấy viết về “cái lợi của việc hút thuốc lá”, với chữ kí của cả nhà ! Chà, mọi người đã kịp điều tra ra cả cái thói hút thuốc lá của tôi rồi! Sau này tôi bỏ được thuốc lá, không biết có hiệu ứng của mẩu giấy này không ?

Ngôi nhà rộn rã tiếng cười, tiếng xé giấy quà. Chú chó « Tôt » quá hưng phấn, lăn lộn khắp nơi, cuối cùng nằm im gặm món quà cái xương nhựa. Cô mèo « Tard » cũng mon men lăn vần đồ khắp chốn, cuối cùng yên tâm nằm ườn ra divan lim dim ngủ với món quà cái nơ đỏ xíu được đính vòng quanh cổ.

Về phần mình, tôi đã yểm sẵn mấy cái phong bì con con đựng ít tiền, để cộm ở trong túi, khéo tính toán mãi, sao cho đừng đắt quá, mà cũng đừng keo kiệt bủn xỉn quá, một bài toán thật hiểm hóc. Lúc này tôi bỗng chợt thấy mình đã nghèo, lại còn loay hoay xôi thịt. Tôi khéo léo ra góc nhà rút chúng ra, cất tống hết vào ba lô.

Tôi tặng chung cả nhà một cái tranh thêu cảnh đất nước mình, mọi người vui vẻ thích thú ngắm nghía. Nhưng tôi cũng chợt hiểu ra rằng món quà của tôi nó chung chung quá, nó thiếu sự tìm tòi quan tâm đến từng con người cụ thể tinh tế, rõ ràng là tôi không có ý tứ tìm hiểu gì về mỗi người trong nhà trước đó. Tôi tự thấy tôi mòn vẹt, sáo rỗng, thay vì cứ tưởng mình những là minh triết phương Đông của khỉ. Món quà của tôi kể ra chỉ chấp nhận được, thông cảm được, một khi tôi đã ở tầm lãnh tụ của một xứ sở nào đó, của một siêu cường chẳng hạn, đang dở bận trăm công nghìn việc gì đấy…

Nửa tiếng đồng hồ tặng quà nhau, mà vẫn chưa xong! Jean cuối cùng cũng đã tái xuất, mạng nhện dính đầy đầu. Jean tìm ra cái bức tranh anh vẽ Thomas từ ngày cậu còn bé tí, bức vẽ dở dang, ở trong hầm nhà, bức tranh mà anh đã từng kể mãi với Thomas mà không còn biết nó nằm ở đâu, còn Thomas thì mãi không biết đó là câu chuyện thật, hay câu chuyện hư. Jean ôm dừ Thomas vào lòng trong cái nhìn ướt mắt của cả nhà.

Cả nhà mở rượu Champagne, và chuyển sang trò chơi “quà công cộng”. Quà công cộng là đủ các thứ linh tinh ngộ nghĩnh, phần lớn là những thứ đồ ẩm ương trong nhà chui lẩn ở đâu, nay được gói ghém tinh tươm lại, buộc nơ ở trên. Mỗi người được phát một cần câu, và câu quà theo lượt, trúng gì được nấy, trong tiếng cười ngất ngây.

Quà cáp, hóa ra trước hết, và trên hết, không phải là nợ tiền nhau, là cúng tiền nhau, là dạy nhau năng lực hối lộ sau này. Mà là sáng kiến, là tìm tòi, là sự quan tâm chi tiết đến những rung cảm nhỏ bé, kín đáo, riêng tư của mỗi con người cụ thể xung quanh mình. Là gây dựng niềm vui cùng nhau, cho nhau.

Và với cây đàn guitar, suốt đêm chúng tôi lục lọi từ trí nhớ ra đủ các loại bài hát đông tây kim cổ, hát hò với nhau giục anh Mặt Trời thức dậy.

—-

Sau bữa ăn trưa hôm sau, anh Tất và tôi bịn rịn hôn chào Sophie, Thomas, chị Christelle, cả chú chó Tôt, và cô mèo Tard, để ra về. Chia sẻ với nhau mấy chục tiếng đồng hồ, mà lòng cảm thông nay đã đọng lại thành vô biên.

Ra đến bờ ke nhà ga, Jean dặn chúng tôi phải đứng đúng vạch sơn đã vẽ cửa lên xuống cho số của toa tàu đã in trên vé của chúng tôi. “Đây là bến phụ, tàu chỉ dừng đúng một phút thôi”. Con tàu cao tốc vào ke, đây rồi, cửa tàu soạt nhẹ mở. Đúng là chính xác tới phút giây và tới centimètre! Chúng tôi ôm hôn Jean thật nhanh, trèo vụt lên tàu, và hình bóng Jean thân thương đã từ từ ngược toa tàu trôi về phía xa…

Tia Sáng

Hiện thực, đơn thể, đa thể, phức thể

 

HOÀNG Hồng-Minh – Tia Sáng

 

Sau buổi thăm thú nhà bảo tàng nọ ở thành phố Montréal sao mà dễ bén duyên, chúng tôi đói mệt lả hết cả rồi. Lúc đói mệt lả, hóa ra là lúc chúng ta dễ trở nên hào phóng nhất – đối với bản thân… Chúng tôi ghé vào một cửa hàng ăn ngay cạnh đó.

 

# Hình vẽ trên tường nhà bảo tàng khoa học ở Montréal này cho thấy một dạng văn hóa nhìn nhận về cơ thể con người rất an nhiên. Photo HOÀNG Hồng-Minh.

Chọn được bàn ăn rộng rãi, thả lỏng được các cơ khớp mỏi dừ, vừa hay cô phục vụ dịu dàng ghé lại. Cô hỏi thăm chúng tôi bằng cả hai thứ tiếng, tiếng Pháp, tiếng Anh, lưu loát như nhau, tự nhiên như nhau, như thể chính cô cũng chẳng để ý rằng mình đang nói thứ tiếng gì. Ý cô hỏi rằng chúng tôi thích thưởng thức “văn hóa bếp núc gì nào”, không phải là “này, thôi nọ”, mà “này, với nọ”. Cô liếc mắt một vòng. Tôi hơi ngượng nghịu liếc xuống bộ đồ lôm côm của mình, đã tưởng rằng cô đang soi chấm điểm xếp hạng mình. Sau mới nhận ra, ồ không, không phải cô liếc tôi, mà là cô liếc cho tôi. Tôi liếc theo cô… Vòng quanh mình, cơ man nào là các loại bếp, bếp Pháp, bếp Hoa, bếp Italia, bếp Mexico, bếp Thái…, cả bếp Việt nữa… đang nổi lửa ! Cả nhóm chúng tôi xôn sang hẳn lên, các cơ khớp quên cả mỏi mệt để cùng vào một cuộc vận động mới. Kết cục chúng tôi ngồi ăn uống bên nhau, mỗi người tự chạy được những món bếp thiêng liêng hoặc liều mò của mình từ những chân trời văn hóa khác nhau, rồi mời mọc lẫn nhau cùng nhấm nháp chia sẻ những lựa chọn thử nghiệm của mình để mà quảng bá các loại văn hóa bếp núc.

Văn hóa, cái mà mình vẫn kiêu kì tự hào, vẫn tưởng như là cái vốn tự có từ khi được đẻ ra của mình, khỏi phải học ở đâu, lại hóa ra « chào nhé, còn lâu » ! Thành phố Montréal đa văn hóa tựa như một không gian phủ nhiều lớp gương, nhiều loại gương, nó tạo cơ hội cho mình vượt ra khỏi chính mình, tự thấy ra được « cái chính mình » từ bao nhiêu những góc cạnh khác nhau, từ bé nhỏ đến lớn lao. Một không gian với tinh thần cởi mở từ chiều sâu của đa văn hóa, làm hiện ra những sáng kiến tự nhiên đến bất ngờ đang cười nghệch vào cái thói thủ cựu « vốn tự có » nơi mình.

—-

Trong khi vừa thưởng thức vừa chuyện trò về các món bếp núc đa văn hóa, hình ảnh cô phục vụ dịu dàng nói năng uyển chuyển cứ như không cả tiếng Pháp lẫn tiếng Anh làm tôi lan man nghĩ ngợi về các ngôn ngữ.

Tôi vốn là người dốt, và sợ, và… thinh thích, về ngoại ngữ – người ta viết những gì trong những quyển sách ngoại ngữ kì bí kia nhỉ? Nhìn những quyển từ điển dày cộp, tôi từng nghĩ bụng rằng tại sao con người ta lại phải chịu phí phạm thời gian đến như thế, để mà phải học một thứ ngôn ngữ khác, mà rốt cục thì cũng chỉ là để diễn tả « cùng một hiện thực » mà thôi.

Nhưng rồi cái « cùng một hiện thực » hóa ra không giản đơn như tôi tưởng.  Cứ cho là « giản » đi nữa, nhưng chưa chắc gì đã « đơn ».

Chỉ một chuyện cái tên gọi  thôi.  Người Việt nói « tôi tên là », liệu còn gì rõ hơn thế ? Người Nga thì nói « người ta gọi tôi là », xem ra có vẻ đúng là như thế hơn, ở trong cuộc đời ! Người Pháp lại nói « tôi tự gọi mình là », ồ mà thật thế, chính mình có cái quyền tối hậu về cái tên gọi của mình chứ, trừ phi mình tự nhiên đi từ chối cái quyền đó ! Nhiều bạn Pháp hứng chí là đi làm thủ tục đổi cả tên mình… Hóa ra cái « tên tôi là » ấy, cái ấy mới chỉ là « một trong những hiện thực ».

Khi chúng ta học sử dụng được một ngôn ngữ khác, ít nhất cứ là « một khác » cái đã, ấy là lúc lần đầu tiên chúng ta có được cái cơ hội để soi gương trở lại được cái « ngôn ngữ tự nhiên » của mình ! Điều đó cho phép chúng ta lần đầu tiên có cơ hội hiểu ra được ngôn ngữ của mình « từ bên ngoài, từ bên trên », một cách duy lí hóa. Tương tự như con cá chép lần đầu tiên nhảy bừng lên ra khỏi mặt nước, cảm giác được cái không phải là nước, và rồi cảm giác trở lại đầy đủ hơn nữa về nước khi từ ngoài không trung rơi trở lại vào mặt nước. Nhờ vậy, nó chớm hóa rồng ? Tương tự như khi mình bắt đầu có suy nghĩ về chính những suy nghĩ của mình, sự phản tư, mầm mống của triết học, và chỉ đến đó thì một chu trình của suy nghĩ mới thực sự là đã được thực hiện, thay vì chỉ những phản ứng tâm lý tức thời bị bắn thẳng vào hư vô.

Hình ảnh về âm nhạc chợt ám ảnh tôi. Một người chơi nhạc trên sân khấu, với thời gian, người ấy hiểu dần ra rằng cái « hiện thực âm nhạc » đang xảy ra thực chất là những hiện thực âm nhạc khác nhau đang xảy cho mỗi nhạc công đang ở những vị trí không gian khác nhau để đón nhận âm thanh. Âm thanh này đã được bố cục lại do kĩ sư âm thanh cùng với những ảnh hưởng của không gian vật lý trong rạp, mà không gian vật lý trong rạp sẽ bị ảnh hưởng bởi chính số lượng khán thính giả có mặt vào thời điểm chơi nhạc… Rồi ngay cả sự di chuyển của người chơi nhạc trong không gian sân khấu cũng làm cho anh ta gặp gỡ những « hiện thực âm nhạc » rất khác nhau nữa. Đó là chưa kể đến trạng thái cảm xúc, tri giác thẩm mỹ, cùng hành động âm nhạc đang được thực hiện bởi mỗi nhạc công. Rồi âm nhạc đến với các khán giả trước mặt lại là những hiện thực khác nữa cho họ, những con người khác nhau, với những cung bậc đời sống tinh thần khác nhau, với những nhạc cảm khác nhau, và đang ở những vị trí vật lý khác nhau trong rạp. Người chơi nhạc phải hiểu cái hiện thực của mình, phải cảm nhận hình dung được các hiện thực của các bạn nhạc, của khán thính giả, của cả các chuyên gia ánh sáng, các chuyên gia âm thanh đang cộng tác cùng kia… Có như thế sự thực hiện và chuyển tải âm nhạc mới mong đến được thêm hiệu quả cho mọi người cùng tham dự.

—-

Bữa ăn kết thúc thì trời lại hửng nắng vàng. Chúng tôi rủ nhau bách phố. Khu Latin quả thật là Paris thu nhỏ. Những xe đẩy « xe bus bé em » trên phố đầy sáng kiến ngộ nghĩnh, mỗi xe được hai cô giáo xinh đẹp chăm lo cho các bé thăm phố. Còn khu phố chợ châu Á thì thật là tấp nập.

Chợt thấy nhà hàng « Café wifi », tôi rủ mọi người vào thưởng thức café, và tranh thủ giải quyết cái nhu cầu điện toán email chat chit không đâu thời nay. Các bạn trẻ OK thắng thế ngay.

Thực bụng tôi muốn vào đây là để cắm cổ viết ra cho xong mấy cái suy tư này, như thế chắc đầu óc mình mới thoát hẳn được khỏi sự vẩn vơ mãi. Thời đại bây giờ thật tiện lợi, viết cái gì nửa chừng, cứ tống vào Email, rồi lúc khác lại lôi nó ra chỉnh sửa, rồi lại cất vào… khỏi phải nào những ổ lưu trữ ! Các bạn theo tiếp nốt mấy dòng suy tư này nhé.

Cho đến hôm nay, chúng ta đã  thấy được rõ ràng, rằng các cấu trúc của hiện thực đời sống con người, vật chất và tinh thần, đi từ đơn thể đến đa thể, rồi đến phức thể. Mãi sau này thì vũ trụ đời sống sẽ ra sao, có đi ngược lại như thế không, cái ấy tôi để dành cho các anh chị em chiêm tinh học chuyên về các sao lùn cùng các lỗ đen giải sầu hộ nhé.

Đang giở câu chuyện về tiếng nhạc. Đứng về cao độ, một giọng hát là một dãy nốt, nốt này sau nốt kia. Một cây sáo cũng tìm cách làm một tồn tại khác của giọng hát, một dãy nốt, nốt này sau nốt kia. Cây đàn bầu một dây cũng vậy, một dãy nốt, nốt này sau nốt kia. Tất cả diễn ra trong thời gian, cái này đáng nói kĩ thêm sau.

Một tập thể hát cùng một giai điệu, một dàn sáo thổi cùng một giai điệu, một quần thể đàn bầu chơi cùng một giai điệu, đấy là sự « kết (thành) đoàn ». Cái « đông », thay cho cái « đơn », thành ra một « cái đơn to ». Kết đoàn là một tập hợp thô sơ. Nó đã phức tạp hơn cái đơn thể ở sự tham gia của một yếu tố khác, yếu tố đồng nhịp điệu về thời gian. « Cái đông » này (đã có tính tổ chức) là « đỉnh cao » của « cái đơn », là sự lặp lại đến (cận) vô cùng của cái đơn với sự khép mình vào yếu tố đồng nhịp điệu.

Con người bắt đầu hoạt động bằng sự chế tác các hoạt động đơn thể. Dễ tri nhận, dễ tạo dựng, dễ điều khiển. Các xã hội xưa được cai trị cũng theo cái cách như vậy. Ước mơ ngàn đời của Á Đông là cả cái xã hội quay được về cái thời Nghiêu Thuấn, hoạt động của cả xã hội chỉ là sự lặp lại đến (cận) vô cùng cái đơn thể học của một gia đình, nhưng là một  gia đình to xác. Bố làm vua, mẹ làm hậu, con lớn làm quan, còn lại các con nhỏ cháu chắt nhỏ đông đúc thì được chăn dắt như trâu bò gà vịt, sao cho thanh bình. Mang vẻ triết lý hơn như Lão giáo, thì việc trị nước được coi như kho nồi cá gồm những con cá bé tí : hãy mặc kệ chúng, đừng động đũa vào, thế thì không nát, khỏi phải làm gì, lại được món ngon. Có mỗi thế thôi, mà mấy cái thuyết thô giản này đã làm mù mịt được biết bao nhiêu thế hệ người ta trong hàng ngàn năm. Tất cả các chủ nghĩa cực đoan, từ chủ nghĩa khủng bố ở núi sâu đảo xa, cho đến cả các đảng phái thực hành các chủ nghĩa cực đoan đang tồn tại ở ngay trong những nước phát triển nhất trên thế giới ngày hôm nay, tất cả bọn họ đều thi đua đồng ca các bài ca tuyên truyền tôn sùng sự cực giản cực đơn, để mong thu hút được các loại đám đông lười nhác về suy nghĩ, tham lam về « ăn liền ».

Cái ngày mà cây đàn có hai dây trở lên muốn/phải chơi hai nốt nhạc khác nhau trở lên cùng một lúc, cái ngày mà hai giọng hát muốn/phải hát lên hai dòng giai điệu khác nhau … cả một thế giới mới phải được kiến thiết, một thế giới mà những ai vốn chỉ ở trong cái thế giới đơn thể đơn nguyên xưa một nốt một giọng không thể nào hình dung ra nổi ! Một loạt các vấn đề của hòa thanh được đặt ra, để làm sao để cho hai thế giới nguyên đơn của thanh nhạc sống được với nhau, một cách không tiêu diệt lẫn nhau. Hơn thế nữa, chúng phải cộng hưởng được nhau trong một đời sống mới vô cùng phong phú hơn, với những khả năng mở ra vô hạn từ đây. Thế rồi để hai thế giới đơn thể về âm thanh tồn tại được với nhau trong thời gian, một thế giới khác nữa, thế giới nhịp điệu phải được ý thức hóa, khẳng định hóa mãnh liệt, chính xác và phong phú, để giúp làm gắn kết được cuộc sống của hai thế giới đơn thể về âm thanh kia. Thế giới đa thể mở ra như sự tích hợp của nhiều thế giới đơn thể. Số lượng của các thế giới thanh âm không dừng ở hai, và số lượng của thế giới nhịp điệu cũng không dừng ở một ! Thế giới phức thể được kiến thành từ các thế giới đơn thể và đa thể, thành một « không gian đa chiều ».

Cây sáo, cây bầu từ nay, kể cả khi chơi một mình một nốt, chúng đã được phải chơi theo một cách hoàn toàn khác, « lối chơi mở ra, đón chào », « lối chơi tích hợp được », lối chơi làm sao để cả một dàn nhạc cả ngàn người sẽ có thể «cùng vào » được với chúng, khi mà thời khắc uờ đến ! Sự vận hành suôi sẻ, sáng tạo, mạnh mẽ của cái thế giới đa-phức thể này có được bây giờ là nhờ một thứ quyền năng được khởi dựng từ ngay trong từng thế giới tham gia vào nó, một thứ quyền năng tự lập được, phối hợp được, tích hợp được cho một thế giới đa-phức thể. Trong một thế giới đa-phức thể, các yếu tố đơn thể giờ đây cũng phải tồn tại với tư cách khả-đa thể !

—-

Tôi đã may mắn đã từng được trải nghiệm cuộc sống trong những ngôi làng, ngôi bản xa xưa hiền dịu vô cùng,  đơn sơ vô cùng, nơi mà ông chủ nhà bỏ ra cả một buổi từ sáng đến trưa, không nói không rằng, chỉ để vót cho xong một mũi tên, rồi lắp nó vào cung, rồi bắn hạ con gà trống già nhất dưới sân nhà sàn, để chiêu đãi khách. Con gà trống già nhất là món ăn để thể hiện lòng yêu quí khách cao nhất. Những ngôi làng, ngôi bản xa xưa hiền dịu vô cùng,  đơn sơ vô cùng, nơi mà một cái tổ ong mật trong rừng một khi đã là thuộc về một nhà nào đó trong trí nhớ người dân bản, thì không cần phải có một thứ văn bản chứng thực, ai ai cũng tôn trọng điều đó! Ai trong những người đã từng biết đến một đời sống như thế lại chả có một niềm thương nhớ khôn nguôi về một đời sống giản dị êm đềm đến như thế ?

Một niềm nhớ thương như thế trong tâm khảm chỉ cần được giáo lý hóa lên một tí tẹo thôi, thì nó khắc phải trở thành một thứ đạo lý đơn thể học thật vô cùng thiêng liêng.

Từ cái nhìn « ước gì » tha thiết dõi về xưa vãng ấy, giật lùi đi về tương lai, ta dễ muốn quyết chí trừng phạt cho bằng được những ai không tuân thủ được cái đạo đơn thể học ấy, cái đạo bố vua mẹ hậu Nghiêu Thuấn ấy, cái đạo khoanh tay kho nồi cá còi hư hoặc ấy, trong một đời sống đã phát triển tiến hóa thành đa thể, phức thể rồi.

Một đời sống đa thể phức thể, một không gian sống đa chiều phức hợp đã và đang triển khai. Con người nếu không ý thức được điều đó, vươn lên xây dựng được năng lực để nối kết, tích hợp được « các đời sống » đa thể của đời sống phức thể hôm nay, các đời sống này sẽ rã rời từng mảng, và đời sống phức thể trong toàn bộ sẽ rơi vào hỗn loạn, và ngày càng hỗn loạn. Như một đại dàn nhạc phức hợp mà mỗi ai trong đó vẫn chỉ cố chơi theo cách thức thổi sáo chăn trâu, từ nhạc công đến nhạc trưởng.

Dàn nhạc giao hưởng của một đời sống đa thể phức thể hôm nay sẽ phải tìm cho ra được cách tổ chức chơi bài nhạc đa thể phức thể của mình. Đó là bài toán sống, hay tan, của dàn nhạc này.

—-

-”Vâng, cảm ơn, cảm ơn, chúc các bạn những ngày vui vẻ này ở Montréal!”

Ông chủ quán cất lời đáp, lịch kịch thu dọn tách chén ngay bên cạnh tôi. Chết, mọi người đã trả tiền, rục rịch khoác áo sống xong hết cả rồi! May quá, xong bài viết rồi ! Tôi vội ấn nút “Cập nhật”. Đóng máy. Lại lên đường./.

Món nộm thánh nhân

HOÀNG Hồng-Minh

Nói chuyện ngày trước, với các bạn thật trẻ thì đã là ngày xưa, ông Edouard Chevardnadze làm ngoại trưởng Soviet. Khi đi ra xứ ngoài, ông này thật đĩnh đạc, vui vẻ, hào hoa, nhưng mỗi khi trở về đến quê nhà, thì lại cáu cẳn, điên đầu, bứt rứt. Có lần khi trả lời phỏng vấn báo chí, ông ấy tỏ ý rằng không gì khổ bằng nói chuyện với người Soviet.

Vậy muốn một khối người đổi thay được lối nói điên đầu, lối nghĩ điên đầu, phải có những nhóm người tiên phong đi ra khỏi lối mòn nói và lối mòn nghĩ đó.

Làm thế nào để đi ra khỏi lối mòn đó? Phải tự nhận ra lối mòn đó. Chưa đủ. Phải tự thú ra lối mòn đó. Phải kiểm tra lại được trên cái bàn thờ đang kê ở trong đầu mình, xem có những món gì phải dọn đi được.

Với mỗi con người nhỏ bé chúng ta, cũng đúng như vậy thôi. Muốn vui vẻ, muốn đi lên, phải kiểm tra lại trên cái bàn thờ đang kê ở trong đầu mình, xem có những món gì phải dọn đi được.

Với tôi, tôi thấy trước hết có một món phải dọn đi, món nộm thánh nhân.

Chúng ta bị món này nó hành quen quá, quen hàng ngàn năm, quen đến mức lúc nào cũng bị cái cảm giác so sánh, chia ngôi, xếp hạng với người đối thoại, hữu hình và vô hình, rằng người này thuộc đẳng hơn, rằng người kia thuộc cấp kém. Nếu nói một câu tiếng ta trốn được việc chia động từ, thì lại cứ lo chia ngôi thứ nhau cho bằng chết được. Cái virus của món nộm thánh nhân này nó theo máu ăn vào khắp chốn ở trong ta, vào lời ăn, vào tiếng nói, vào suy nghĩ, vào hành xử. Chúng ta vào mỗi cuộc chuyện trò, ngay từ trong nhà, thậm chí ngay trong một đôi lứa, một cặp vợ chồng, mà cứ sau ba câu là đã hầm hè như cùng nhau chính thức bước vào sới vật, để giải quyết cái việc quan trọng nhất trên đời của món nộm thánh nhân, việc ai thắng ai. Chúng ta chỉ chực muốn nhai rau ráu người tham chuyện. Trời ơi, giá như trời cho ta được một cơ hội. Rất nhiều các cuộc thảo luận người ta không còn để ý gì nữa đến « cái gì đang được thảo luận », mà lập tức đến « ai đang rao giảng, định âm mưu gì, thớ gì mà nói… ».

Dẹp được cái món nộm này đi, cuộc đời mỗi chúng ta sẽ trở nên thanh nhã biết bao, vui vẻ biết bao. Với mỗi cuộc trao đổi, dù là để bàn về con muỗi, hay nhằm luận về con voi, mỗi người chúng ta đều có thể tham gia được với cái mình có thể và mong muốn, hoà nhã, và không bị cái cảm giác rằng mình đang nằm chơi vơi trên một cái thớt vô hình mà các bậc anh hùng hảo hán đang nấp xung quanh khéo léo bày ra. Nhiều người cai được món nộm thánh nhân, thì rồi sẽ đến ngày các cựu anh hùng hảo hán xung quanh cũng sẽ thay đổi dần lẽ chơi trong đời, sẽ tìm ở các câu chuyện về những tính thú vị đáng học hỏi gì ở chúng cho mình , sẽ vui vẻ tham gia đóng góp hồn nhiên thanh nhã cho các cuộc thảo luận cùng cộng đồng.

Mỗi lời nói, mỗi ý nghĩ, khó thật, nhưng chính tôi cũng đang cố thoát ra khỏi cái cơn nghiện thánh nhân dai dẳng của người mình. Và ước mong rồi ai cũng thành nên thanh thoát,  hợp tác, nhã nhặn, vui vẻ, hết bị chứng bệnh thánh nhân hóa.

Như thế văn hóa của chúng ta sẽ tiến hóa dần, sẽ bay bổng thêm lên. Lúc cần tụ nhau, là lúc chúng ta cốt cùng nhắm tới để dựng được với nhau những trò chơi hợp tác, bền bỉ, sáng tạo, mới mẻ. Chúng ta thôi nhắm tới mong ước đè bẹp được người, mà nhắm tới tự vượt được chính mình, tự mình « bay được » hơn lên.

Tôi nghĩ rằng không có trại cai nghiện nộm thánh nhân nào có thể thành công được, vì lấy ai ra mà trông nom nó? Chỉ có niềm vui tươi mới dung dị mà thôi, niềm vui vứt bỏ, niềm vui hóa vàng dứt điểm món nộm này đi./.

Tia Sáng

Vượt dòng Tô Lịch

HOÀNG Hồng-Minh

Sự tích tên Tô Lịch thì bảy hư ba thật, nghe nói được gắn cho ông… Tô Lịch. Làng xóm xưa của ông nằm bên dòng sông nhỏ thuộc vùng đất Hànội ngày nay. Ông là người được ngưỡng mộ về đức hạnh và cứu tế. Làng ấy sau này được lấy tên là làng Tô Lịch, rồi con sông nhỏ cũng được mang tên là sông Tô Lịch, còn bản thân ông Tô Lịch thì được phong thần.

Sông Tô Lịch là nhánh của sông Hồng. Theo vị trí của Hànội bây giờ thì sông Hồng chảy vào Tô Lịch qua chỗ phố chợ Gạo, rồi Cầu Gỗ, vòng lên mạn Hàng Lược, men phố Phan Đình Phùng, Thụy Khuê, Đội Cấn, lên Bưởi, gặp “sông Tô Lịch hôm nay”, tiếp về Cầu Giấy, quanh co với đường Láng và đường Kim Giang, rồi nối với sông Kim Ngưu về phía nam, kết thúc đổ vào sông Nhuệ. May quá đi thôi, các tên gọi nằm trên mạch của dòng sông Tô Lịch đều chưa bị hiện đại hóa quá đi!

 Nhị Hà quanh Bắc sang Đông

Kim Ngưu, Tô Lịch là sông bên này

Những chi tiết này của huyền sử, bạn đọc, cũng như chính tôi, có thể tham khảo trên Wikipedia. Huyền sử thì không thể chính xác cả trăm phần được…

—-

Nói chuyện “Tô Lịch”, để chúng ta lưu ý, rằng “Hànội” không phải là thành phố “trong sông Hồng”! Có mà chết lụt! Mà là thành phố “trong sông Tô Lịch”. Một hệ thống sông ngòi ao hồ chằng chịt tuyệt đẹp khi xưa trên đất Hà thành. Ngoài ra thì cũng có thể hiểu là Hànội nằm trong phạm vi mà các phía đông và bắc được vây bọc bởi sông Hồng, tây và nam được vây bọc bởi Tô Lịch (Kim Ngưu có thể coi là sự tiếp tục của Tô Lịch). Tuy nhiên chạy ở giữa Đại La-Thăng Long-Đông Đô-Hànội thì vẫn là Tô Lịch!

Thành Đại La được dựng lên bên sông Tô Lịch, các sinh hoạt chợ búa, phố xá hình thành nên dần ở bên dòng sông này. Toàn bộ Hànội xưa nằm hoàn toàn bên bờ phải của dòng chảy sông Hồng, con sông vĩ đại được xem là phòng tuyến thiên nhiên cho thành phố. Nhưng hồn của thành phố, lại là sông Tô Lịch.

Sông Tô Lịch chảy ngược hướng với sông Hồng, từ đông sang tây, rồi vòng về nam… Thế mới kì tài.

Xưa các quan cai trị người Hoa một thời rất kinh sông Tô Lịch, “nước sông Tô Lịch chảy ngược, người An Nam chúa làm phản“. Nói sợ sông Tô Lịch, đấy là cách nói thông minh cho đỡ ngượng.

Trong các xứ từng là thuộc quốc của Trung Hoa, chỉ có xứ Việt và xứ Cao Ly, tiếng Hoa bồi là “An Nam” và “An Đông”, là lại ra ở riêng được. Không biết ở xứ Cao Ly có con sông nào “chảy ngược” được không đây?

Dòng sông Tô Lịch hôm nay… (thôi để khi khác đi)…

Dẫu có thế nào, thì có lẽ “dòng sông Tô Lịch” chắc hẳn vẫn đang chảy ngược trong huyết quản người Việt, mạnh mẽ, sâu lắng, bằng không thì nước Việt sao còn?

Bao giờ phục hồi được dòng sông này nhỉ, cho nó ra sông, sạch sẽ, đẹp đẽ, thơ mộng, chảy từ chợ Gạo cho đến tận sông Nhuệ. Làm được không? Làm được! Những đoạn phố phường đã căng kín, sẽ làm cầu máng cho sông chảy ở trên, nhà cửa  ngủ ở bên, xe pháo chạy ở dưới, tha hồ. Cầu máng mà thuyền vẫn bơi được như thường. Ai qua thành phố Toulouse của Pháp sẽ thấy con kênh sông Midi đầy tàu bè nổi tiếng thế giới với những đoạn kênh sông chạy vắt qua đường xa lộ trên… cây cầu giành riêng cho nó !

Những đoạn sông rộng rãi của Tô Lịch, thuyền thuyền sẽ giương buồm đón gió mát mẻ lòng người. Từ tốn hơn, bạn sẽ hưởng một vòng thuyền nhỏ vòng quanh Hànội trên… sông Tô Lịch.

Những bãi sông mở rộng của Tô Lịch, sẽ được ắp đầy cát vàng óng nắng. Hàng loạt các sân chơi, bãi tắm, bờ câu… thơ mộng sẽ hiện lên thấp thoáng đó đây.

Sẽ có cả ngày hội bơi cho toàn dân, ngày hội “Vượt dòng Tô Lịch”. Bạn chuẩn bị đăng kí trước cả năm nhé, kẻo mà hết chỗ đấy.

Muốn làm được thế.

Phải làm được thế.

Và làm được thế.

Hồn văn minh nước Việt khắc khoải mãi, để đến lúc ấy chợt bừng sáng trở lại! Yêu lịch sử của mình, thì phải làm sống lại nó.

—-

Lúc ấy, chỉ còn phải lo mỗi một công việc khác nữa thôi.

Lo trau dồi cái nếp khiêm học, lòng cởi mở, để dưỡng hòa được cái đức Tô Lịch chảy ngược trong huyết quản của mình./.

#Tia Sáng

Câu chuyện về giá trị học thô sơ một thuở

HOÀNG Hồng-Minh – Tia Sáng

Vào thời buổi bình minh của công nghiệp hóa cổ điển, con người ngỡ ngàng trước chính bản thân mình. Trâu sắt ra đời thay cho trâu sinh học. Năng lượng trong tự nhiên được thuần hóa, sử dụng được theo ý muốn. Sản xuất đồ dùng hàng loạt thành công trên quy mô ngày càng lớn. Trao đổi buôn bán vượt dần ra khỏi chợ thôn chợ làng… Con người sửng sốt, và cần một hình dung mới, vĩ đại, cho thực tế này.

Các môn giá trị học bắt đầu được người ta hình thành, để kiến tạo nhận thức cho thời buổi bình minh mới mẻ ấy.

Người ta nhận ra « giá trị sử dụng » của sản vật (GTSD) điều làm cho một thực thể tự nhiên trở nên một thực thể xã hội tiềm tàng, một khi nó có thể thỏa mãn một nhu cầu nào đó của hai người dùng trở lên. Khi đem trao đổi các sản vật với nhau ở ngoài chợ, thì ta có « giá trị trao đổi » (GTTĐ) của chúng được thực hiện. Rồi trừu tượng hóa hiện thực này lên một nấc, để vượt qua một cuộc trao đổi trực tiếp « một cái chả của ông này, bằng ba cái nem của bà kia» ở một nơi-vào một thời điểm nhất định, người ta có « giá trị » (trừu tượng) của một sản vật (GT). Thực thể tự nhiên trở thành hàng hóa mang GT, mà đồng tiền, một thể loại hàng hóa được tạo ra và tiến hóa dần để đại diện được gần nhất và tiện dụng nhất cho GT, được lưu hành. Qui mô và mức độ xã hội hóa của xã hội phụ thuộc vào qui mô của cái chợ của các chợ.

Mọi cái đến đây có vẻ xuôi sẻ.

Một số nhà kinh tế luận tiếp tục đẩy suy tư lên, rằng GT của một sản vật, ở mức độ chung nhất, là  thời gian lao động trung bình của toàn xã hội (TLTX) để sản xuất ra sản vật ấy ở một thời điểm nhất định.

Khi « niềm tin GT » này được tin tưởng một cách giản thô máy móc, cả một thế giới khác đầy khả năng được trải ra. Cái gì sẽ xảy ra từ đó?

Mọi sản vật sẽ đều phải có một GT như TLTX để sản xuất ra được sản vật ấy « ở một thời điểm nhất định trong xã hội », vậy thì « về tiềm năng khoa học », người ta (sẽ) có thể đo đạc được GT của tất cả các sản vật, từ đó sẽ tổ chức ra được một nền sản xuất và phân phối « khoa học nhất có thể » để tạo nên được một xã hội được thiết kế và điều khiển được tỉ mỉ. Nền sản xuất và phân phối này sẽ hoạt động thật nhịp nhàng, không sản xuất thừa để rồi phải đem đổ sản vật xuống biển, không sản xuất thiếu để con người phải nhốn nháo đói khổ. Một nền kinh tế được lập trình-kế hoạch hóa trong toàn bộ sẽ chào đời.

Giòng suy nghĩ này được đẩy tiếp lên nữa.

Một khi nền kinh tế đã lập trình-kế hoạch hóa được trong toàn bộ, chúng ta có cái cốt lõi để lập trình- kế hoạch hóa không chỉ toàn bộ đời sống sản xuất và phân phối, mà là toàn bộ đời sống xã hội trong mọi mặt. Tất cả đều sẽ được vận hành sạch sẽ, trơn tru, hiệu quả, tốt đẹp. Cái duy nhất cần phải kiểm soát, là những yếu tố, hoặc những ai cố tình, gây trục trặc hỏng hóc các kế hoạch đã được lập trình.

—-

Câu chuyện này trên thực tế bị hỏng, chưa phải vì đâu xa, mà vì bản thân tư duy.

Tư duy giá trị học này, chào đời và bị hạn chế tự nhiên ở thuở bình minh của công nghiệp hóa cổ điển, đã không hiểu rõ được cái tưởng như là hoàn toàn hiển nhiên, « nhu cầu », cái cội rễ của thị trường.

Ở thuở bình minh ấy, tất cả sản vật đều đang ở mức thiếu thốn vô tận, những « khủng hoảng thừa » thực ra chỉ là những hiện tượng nhỏ bé có tính vô cùng địa phương, và do đó « bất hợp lý », nếu nhìn ra phía toàn cục.

Các nhu cầu kinh tế xã hội khi ấy chủ yếu mới ở mức độ của các nhu cầu thiết yếu đơn sơ, ăn no, mặc ấm, có chỗ trú ngụ dẫu thật tồi tàn. Ngay đi lại xa xôi thì cũng chưa phải là nhu cầu của toàn dân. Nhu cầu bị hình dung ở mức đơn giản nhất, và dễ điều khiển được nhất. Với toàn xã hội thì điện thắp sáng, nước sạch mở vòi uống được ngay, giáo dục phổ cập, bảo hiểm y tế toàn dân… chưa từng tồn tại, còn quyền làm người, quyền tự do của xã hội công dân, đời sống văn hóa tinh thần sáng tạo của toàn xã hội, thì gần như không có gì, ngoại trừ với tầng lớp thượng lưu nhỏ bé. Nền khoa học và công nghệ để có thể sẵn sàng đáp ứng đời sống của toàn xã hội thì mới chỉ ngấp nghé đó đây. Cả một thế giới vĩ đại của các nhu cầu của đời sống con người về cơ bản còn chưa hề phát lộ. Các xã hội ngàn năm trung cổ, chiếm đa phần, còn đang ngủ yên giấc. Số ít các xã hội vừa mới thức dậy với công nghiệp hóa sơ khai thì đang nằm trong móng vuốt và tâm linh của những con thú tư bản man dại, đói khát, tham tàn. Bạo lực là ngôn ngữ phổ quát của các cư xử của các xã hội. Chân lý vĩnh cửu để thay đổi được xã hội, cho đến lúc đó, là dùng bạo lực chống lại bạo lực, thay thế nền độc tài này bằng nền độc tài khác.

Nhu cầu bị quan niệm thô sơ và sai lạc trong bối cảnh như thế đã làm ngu hóa toàn bộ tư duy về GT. Người ta đã khái quát hóa giá trị học từ cái chợ làng thô sơ của những xã hội thô sơ, và tưởng rằng mình đã tìm ra cả vũ trụ trong toàn bộ.

Hôm nay thì tất thảy chúng ta đều hiểu rằng câu hỏi thúc bách cho nền kinh tế không phải là chúng ta « cố sản xuất nhiều nhất thì được bao nhiêu sản vật loại này, càng nhanh càng tốt», mà là « sản xuất cái gì bây giờ, theo tiêu chuẩn kinh tế-kĩ thuật-tiêu dùng gì, chỉ bao nhiêu đơn vị, trong thời bao lâu, cho toàn thế giới ». Chúng ta hiểu ra rằng chế tạo ra một sản vật bây giờ phải gắn liền với hệ quả về hệ thống môi sinh, phải giải quyết cả một hệ thống giải pháp trong toàn bộ, và hệ quả về hệ thống môi sinh đó phải được tính vào giá thành dưới dạng thuế của xã hội cho việc lưu hành sử dụng chúng, cho việc xử lý hoặc tái chế chúng để sẽ kết thúc sạch sẽ được chu trình đời sống của sản vật đó (xử lý rác thải, tái chế), rồi để làm tiến hóa sản vật nữa (nghiên cứu, phát triển). Câu chuyện không phải chỉ còn là loay hoay với cái « thời gian lao động trung bình của toàn xã hội » (tưởng tượng) để sản xuất ra sản vật ấy.

Tất cả chỉ vì cái tinh thần thời xưa ấy chưa hiểu ra, rằng con người và các nhu cầu của họ, hôm nay thì càng dễ thấy chúng rõ hơn, vừa phải có tính đời sống thực tế nghiêm ngặt, vừa phải có tính sáng tạo khắt khe, vừa vô cùng rộng lớn, phức tạp, vừa luôn luôn thay đổi rất nhanh chóng. Hôm nay các sản vật nếu trả lời sai lệch nhu cầu khi tham gia vào thị trường, thì chúng sẽ lập tức trở thành phản-hàng hóa, chúng không trở về thành các « vật thể tự nhiên » ngay được « như ngày xưa » (ngày xưa chỉ việc tống khứ chúng vào thiên nhiên !) , vì chúng đã trở thành rác thải trong một đời sống xã hội văn minh, chúng mang một phản giá trị, nói dễ hiểu là một giá trị âm, chúng đòi hỏi một khoản đầu tư mới về tiền của để được xử lý, hoặc tốt hơn nữa, để được tái chế. Tiền tệ cũng hầu như thôi không còn nằm ở dưới dạng vật thể, mà đã thuộc về bộ nhớ điện tử, cùng những mệnh giá chứng khoán của mọi sản vật tham gia vào thị trường chứng khoán đang chạy lên xuống tít mù; nhưng bán một con gà trong chuồng, thu tiền vào tài khoản là có thể mua đổi ra luôn thành một mẩu (dưới dạng cổ phiếu của) đội bóng đá xứ gà Gô-loa, tức thì.

Vậy nên nếu như còn sót lại một nhà sản xuất cổ điển nào hôm nay hằng cố sản xuất một cách bất chấp một tỉ bộ quần áo đại cán để hòng bán cho hơn một tỉ người Trung Hoa, thì họ sẽ phải « mua đất đem chôn » một tỉ bộ quần áo đó, vì có biếu không thì cũng không một người Trung Hoa nào, từ người dân thường đến người lãnh đạo, chịu diện chúng vào người. Và nước Đức dù lúc này đang dùng điện hạt nhân rộng rãi thì lại đang lo chuẩn bị một đống tiền khổng lồ để sẽ đóng được dần cho bằng hết các nhà máy điện hạt nhân của mình lại, để đỡ phải canh cánh về cái môi sinh thiết yếu của mình, điều thật vô cùng khó hiểu cho các nhà giá trị học thuở xưa.

Sự ngu hóa của giá trị học thô sơ một thuở đã nói đến ở trên kia đã kích thích các ảo tưởng vĩ đại về việc tổ chức đời sống tương lai duy nhất cho toàn thể thế giới. Ảo tưởng này nếu được củng cố bởi đầu óc thần thánh, thì nó sẽ trở thành một thứ dây trói vô cùng dai dẳng khó lòng mà thoát ra được cho đời sống của chính các con người của xã hội. Ảo tưởng này càng được thực hành, thì các hệ lụy càng nặng nề bề bộn, vì nó ăn sâu vào các cấu trúc xã hội, và ai cũng sẽ bị vướng vào đó bất kể ý muốn, một cái đầm lầy nợ chằng chéo lẫn nhau. Nếu sự quả quyết thi hành ảo tưởng này được nhất nhất quyết dụng, thì các phương pháp hành chính và bạo lực đương nhiên sẽ phải được thực thi một cách bất cần lên xã hội.

—-

Câu chuyện về giá trị học thô sơ một thuở này thực tế đã là một câu chuyện nằm từ lâu trong bảo tàng học thuật. Về trí tuệ, một khi mỗi con người thấy ra được sự ngây thơ của mình ngày hôm trước, thì con người mình đã dứt khoát tiến lên thêm được một bước nữa rồi. Các nhà bảo tàng của con người luôn luôn mang trong mình chức năng quí báu đó, chức năng hậu nghiệm, bên cạnh những chức năng khác nữa./.

Hồi kí đời tôi

Ông Tộ bảo.

-« Cụ Hinh này, tôi chỉ làm đến tổ trưởng dân phố, mà mấy ông bạn cứ giục tôi viết hồi kí, chả biết có nên không?”

-« Nếu bác Tộ thấy đáng viết, thì cứ viết thôi, bác Tộ ạ.”

-« Tôi cũng đã nghĩ đến nước ấy…

Nhưng khi thử viết lại đời mình, rồi đọc lại, lạ quá, thấy cứ đẹp như là huyền thoại của một bậc vĩ nhân đã được dung dị hóa đi vậy… Thành ra tôi đâm nghi ngờ trí nhớ của mình à.”

-« Thế thì bác viết lời tựa ‘Đây, thể loại hồi kí dành cho những độc giả không biết nghi ngờ’. Mình có lòng hướng đến chân thực, là căn bản, còn đến được hay không, là chuyện giời.”

-« Ờ nhỉ! Thế mà tôi không nghĩ ra.

Nhưng mà để xem… Có khi thôi, khỏi viết nữa…

Huyền thoại truyền mồm, có khi còn hay hơn thế nữa, Cụ Hinh ạ.”

Tia Sáng

Niềm vui trọ ở nơi đâu

Cô bạn hôm trước viết thư nhắn tôi rằng « bây giờ chuyện ảm đạm thì sẵn quá, anh có câu chuyện gì thắp niềm vui lên chút ít được không? »

Cô ấy có lý thật. « Đời là bể khổ », đi tìm khổ thì dễ quá à. Rất nên cố đi tìm được niềm vui. Niềm vui trọ ở nơi đâu ?

—-

Trong một dịp gặp gỡ bạn bè, tôi làm quen với Cécile, đọc ra tiếng mình thì là « Xê-xil ». Cô đang làm chuyến du lịch xuyên Việt.

Con người cô Cécile thật là dịu dàng, nhưng cái dịu dàng này lại làm cho người bắt chuyện phải bị dịu dàng theo. Rõ ràng  đây là thứ dịu dàng có ma lực… Cuối buổi chuyện trò tôi mới biết ra rằng Cécile là cô giáo dạy nhạc lý, thú vị thế đấy. Cô rất thích tìm được những bài nhạc dân ca Việt xưa cho bộ sưu tầm của mình để dạy cho học viên, mở rộng miền thẩm mỹ. Tôi thì rất tò mò việc cô dạy các lớp nhạc lý như thế nào. Trước khi chia tay Cécile bảo « nếu anh có điều kiện qua Paris ít ngày, em mời anh vào dự lớp nhạc lý của em. Đây, em gửi lại email, chúng mình viết cho nhau nhé. »

Cuộc sống bận rộn đủ đường, những mẩu chuyện nhân khi gặp nhau thoáng qua như thế thông thường thì rồi cũng thành những chuyện đâu đâu.

Cuộc sống lại còn rất ngắn nữa.

Ấy thế mà tôi đã gặp lại Cécile ! Ở đâu ? Trong lớp học của cô !

—-

Đúng dịp lưu lại ở Paris ít ngày, tôi báo cho Cécile, gọi là báo « vậy thôi ». Cécil nối lại ngay, và không quên lời mời dự lớp ngày nào. Cécile dặn « anh vào dự lớp, dù chỉ một lần, hay nhiều lần, anh không phải là khách, mà là học sinh của em. Như thế là thật chân nhất, là tự nhiên nhất, là vui nhã nhất. » « Tuyệt vời ý tưởng của Cécile ! Tôi sẽ đến, và làm học trò trọn vẹn của Cécile ! »

Đúng hẹn tôi đến cổng nhạc viện nọ, trước nửa giờ. Cécile ôm hôn chào đón tôi, hỏi thăm ríu rít đủ chuyện. Vào đến sảnh phòng thường trực, Cécile chỉ cho tôi hộp đàn guitar điện cùng một ampli « em mượn của nhạc viện, anh dùng trong giờ giảng của em. » Tôi trố mắt ngạc nhiên. « Lần trước gặp nhau anh chả chơi vui mấy bài với guitar là gì ? Đến giờ rồi, chúng mình vào lớp nhé.» Tôi được chứng nghiệm trở lại sự dịu dàng đầy quyền năng của Cécile.

Sau thủ tục giới thiệu, cả lớp sắp xếp nhạc cụ, sách vở. Nom lớp học thật vui ! Quá nửa các bạn đều còn là học sinh phổ thông, lớn bé lệch nhau. Một bạn gái bé bỏng đánh vật với cái contrebasse ngật ngưỡng, một bạn trai cũng bỏng bé bê bê xếp xếp bộ trống cồng kềnh, cả hai đều rất tự lập. Còn lại thì sáo, kèn, violon, piano, accordéon, guitar… đủ cả. Một số bạn là sinh viên đại học. Vài bạn nữa thì là người đã đi làm, đứng tuổi, tham gia lớp như hoạt động ngoại khóa của mình.

Phần đầu buổi học dành cho ôn tập kiểm tra lại nhạc lý. Sự thể hiện tùy học viên chọn, bằng giọng hát, hoặc bằng nhạc cụ tự chọn, thể hiện cá nhân, và thể hiện cùng với một nhóm nhỏ, hoặc có khi có sự tham gia của tất cả mọi người. Các thể hiện này được mỗi học viên đề xuất cách thức. Cô Cécile phê duyệt nhanh nhẹn và chính xác các quyết định.

Có vẻ vì sự có mặt của tôi, phần thứ hai của lớp học chuyển sang chơi một bài nhạc mới dài mươi trang nhạc được cô đã chụp sẵn cho cả lớp. Mỗi người nhận bài đều nhận mươi cái tem bản quyền để dán lên các trang nhạc vừa được chụp. Nhà trường phát tem này cho các giảng viên, và về sau thì tôi được Cécile cho biết rằng trong học phí của các học viên có mục tiền đóng cho tem bản quyền.

Cécile phân tích một lượt toàn bộ bản nhạc, diễn giải qua giọng, rồi qua piano, lưu ý những đoạn khó và dễ nhầm. Tất cả chúng tôi xướng âm theo. Rồi Cécile cắt chia phần các đoạn bản nhạc cho từng nhóm chơi. Tôi được cắt cho nửa trang nhạc, đoạn không khó lắm với các motif lặp đi lặp lại. Hú vía ! Lần lượt các khó khăn được thảo luận gọn gàng, được giải đáp, được thể hiện thử. Và chúng tôi nhích lên, nhích lên. Chúng tôi đã đi được một vòng đầy bất trắc. Rồi vòng hai. Vòng ba đã suôn sẻ hơn… Giờ học kết thúc thật là sáng tạo và vui vẻ bằng lượt chơi tự do lại bản nhạc đó tùy theo hứng thú diễn tả của các cá nhân, miễn là cấu trúc căn bản được tôn trọng.

—-

Tan lớp Cécile mời tôi ra hàng càfé ở phố chếch bên cạnh.

-« Lớp học của Cécile thật là vui, thật là thiết thực. Tôi không nghĩ là giờ học nhạc lý lại dùng đủ các nhạc cụ như vậy. »

-« Nhạc lý là để chơi tốt được nhạc, chơi được một cách chính xác, nhanh nhất, hiệu quả nhất, vui thích nhất, và rồi chơi sáng tạo, chứ không phải là môn học chỉ để xóa mù chữ nốt nhạc và lấy cái tấm bằng. Song song với nhạc lý là các môn dạy nhạc cụ, thanh nhạc.»

-« Chương trình cơ sở của nhạc lý gồm bao nhiêu năm ? »

-« Tám năm ạ. »

-« Tức là nếu trẻ em cắp sách đến trường học chính quy, rồi cũng cắp sách đến trường nhạc, thì cuối cấp ba mới xong phần cơ sở nhạc lý à? »

-« Vâng, nếu không bị trượt năm nào ạ. »

-« Trường mình có bao nhiêu học sinh ? »

-« Khoảng năm trăm, cho cụm năm mươi ngàn dân. »

-« Khắp vùng Paris này đều có các trường nhạc cho các cụm dân cư à ? »

-« Vâng, rộng khắp, như một hệ thống trường song song với hệ thống trường phổ thông. Em cũng giảng dạy ở vài trường nhạc nữa ở gần đây. Số giờ dạy nhạc trong các trường phổ thông thì hạn chế, nên nếu các học sinh muốn phát triển xa hơn về âm nhạc thì chúng phải đến học ở những trường nhạc này. Thế mà luôn luôn thiếu chỗ anh à. »

-« Chơi nhạc ở đây thì sao ? »

-« Các học viên bắt buộc phải tham gia một nhóm nào đó trong trường, như dàn cổ điển, hoặc các nhóm nhạc cụ, hoặc dàn jazz, hoặc các nhóm đồng ca, hoặc nhóm sáng tác rock, nhóm chơi ngẫu hứng, v.v. Các trường của các cụm dân cư gần nhau thường nối nhau thành một nhóm trường, học viên có thể lấy các môn phù hợp ở mỗi trường khác nhau mà chỉ cần trả một lần lệ phí hồ sơ chung. Chơi nhạc thì là khái niệm rộng hơn, có rất nhiều ‘nhà văn hóa’ ở các cụm dân cư, ở đó có các chương trình để chơi nhạc, ca hát, sáng tác, dựng sân khấu… có các giảng viên âm nhạc hướng dẫn, nhưng phần đào tạo thì bị hạn chế.  Các ‘nhà văn hóa’ có đủ mọi loại hình hoạt động nghệ thuật khác nữa, như các nhóm viết văn, dựng kịch, hội họa, chụp ảnh, làm phim, diễn thuyết, nhảy, múa,… Đăng kí chỗ thì tự do, và có sẵn chỗ hơn.»

-« Thế còn thể thao ? »

-« Dạ, đó lại là một thế giới mênh mông khác nữa, có lẽ còn được đầu tư và phát triển hơn cả văn hóa nghệ thuật. »

-« Vậy thì trẻ em ở đây, đi học phổ thông, rồi đi học nghệ thuật, rồi lại đi học thể thao, thời giờ đâu mà thực hành tất cả những cái đó ? »

-« Không chỉ trẻ em ạ, người lớn cũng vậy thôi, anh vừa thấy trong lớp đó, mà chính anh cũng vừa là một người như thế mà ! Đi học phổ thông, đi làm, ấy là hoạt động ‘nghề nghiệp’. Sau giờ nghề nghiệp đó thì văn hóa nghệ thuật, thể thao là hoạt động ngoại khóa, hầu như ai cũng phải có, để gây dựng niềm vui, để hài hòa đời sống, để an lành xã hội, để mở mang tâm hồn. Các trường học phổ thông, trường đại học, hay các doanh nghiệp đều phải có lịch hoạt động sao cho hài hòa được với hệ thống hoạt động và đào tạo ngoại khóa. Lịch của nhà trường phổ thông là lịch chính, toàn bộ lịch của hoạt động xã hội căn cứ trên đó mà được xây dựng tiếp. Chương trình ở các trường phổ thông thì phải nhẹ nhàng, vì trẻ em đang ở tuổi có nhiều năng lực phải được mở mang một cách phong phú nhất, hiệu quả nhất. »

-« Ôi, đời sống được tổ chức vui quá nhỉ ! »

-« Tháng năm tháng sáu ở đây bọn em siêu bận rộn, vì là mùa gặt của các hoạt động ngoại khóa. Đó là lúc thi cử ngoại khóa, hội diễn ngoại khóa, triển lãm ngoại khóa. Lịch này đã đồng bộ hóa được trên toàn châu Âu, dịp đó các hội diễn, triển lãm được tổ chức mời chéo nhau giữa các nước.

Em nghĩ đời sống cần được tổ chức để tạo nên được các năng lực nhằm ươm trồng niềm vui, và gặt hái được các niềm vui. Đến ngày nào đó chắc cần thiết phải đồng bộ hóa được ở khắp muôn nơi các nhịp điệu hoạt động của con người, để rồi mọi người trao đổi được các hoạt động rộng khắp với nhau.»

-« Thế Cécile làm nghề nghệ thuật rồi, khỏi phải hoạt động ngoại khóa à ? »

-« Anh coi thường em thế, em là võ sĩ judo đấy ! »

Tôi ngắm nhìn lại mãi Cécile.

-«Tôi cứ bị ám ảnh mãi về cái dịu dàng quyền năng của Cécile !  Bây giờ thì tôi thấy rõ hơn rồi. Đúng hơn, nó là cái quyền năng dịu dàng ở Cécile à! »

Cécile khẽ lắc đầu, nụ cười tươi tắn nở trên môi.

—-

Chia tay Cécile ra về, tôi lơ mơ thấy ra niềm vui trọ ở nơi đâu.

Ở ươm trồng niềm vui, ở gặt hái niềm vui./.

Khampha    Tia sáng

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 72 other followers