RSS Feed

Tag Archives: tia sáng

Thờ sự thật

Posted on

HOÀNG Hồng-Minh

Bản đủ

Sự thật là một điều không dễ dàng tìm cho ra, cho nên con người phải phát triển khoa học, phát triển công nghệ trên mọi lĩnh vực.

Thờ sự thật, lại là một vấn đề hoàn toàn khác. Đó là vấn đề của một nền văn hóa: nền văn hóa ấy có coi việc phải cố gắng đi đến sự thật là mục đích tối thượng của tinh thần ? Hay là không ?

 “Vừa lòng nhau”

« Túi khôn » của văn hóa dân gian Việt hướng dẫn:

“Lời nói không mất tiền mua

Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau.”

Túi khôn này bày ra cả một thực tế đời sống ngồn ngộn của mỗi người Việt. Dẫu rằng vẫn có mặt bên kia của túi khôn dân gian, “thuốc đắng dã tật“, nhưng túi khôn ấy cũng đã kèm theo ngay lời phân bua “sự thật mất lòng“. Hiển nhiên rằng nhìn trong toàn bộ cho đến hôm nay, người Việt không có lý tưởng thờ sự thật. Người Việt thờ “được lòng nhau”, thờ “vừa lòng nhau”.

Tại sao con người thích thờ “vừa lòng nhau”?

Vì, đó là thờ tình cảm, điều dễ nhất.

Thờ tình cảm không buộc người ta phải suy nghĩ nhiều.

Thờ tình cảm không buộc người ta phải khó khăn đi tìm sự thật.

Thờ tình cảm không buộc người ta phải khó khăn để nghe cho tới lúc hiểu ra được sự thật.

Thờ tình cảm không buộc người ta phải chịu đựng việc nghe cho thủng ra những sự thật bất lợi cho chính mình.

Thờ tình cảm cho người ta sự thỏa mãn tức thì.

Thờ tình cảm không buộc người ta phải xây dựng cho được tư duy duy lý.

Thờ tình cảm không buộc người ta phải cố gắng tổng hợp được các sự thật đã tìm được thành ra một bức tranh khả dĩ hợp lý.

Thờ tình cảm dễ dàng tạo hiệu ứng đám đông.

Thờ tình cảm dễ dàng khai thác các tập tục cổ truyền sẵn có rồi.

Thờ tình cảm nhanh chóng chiếm đoạt được quyền lực, quyền lực của tình cảm, rồi của yêu ma, của thần thánh, và rốt cục,  quyền lực trần tục của cộng đồng.

Cơn xoáy lốc quẩn của “vừa lòng nhau”

Khi các cố gắng của một cộng đồng chỉ xoay quanh việc  tranh đoạt sự “vừa lòng nhau”, nó tạo lên một vòng xoáy lốc « văn hóa » mà cộng đồng ấy bị chìm vào trong, không làm sao tự thoát ra được: mỗi thành viên đều vừa là nạn nhân, vừa là tác giả. “Vừa lòng nhau” trở thành tâm điểm của cơn xoáy lốc thường hằng của « văn hóa », cơn xoáy lốc này chứa đựng ít ra những thành tố đặc trưng như sau.

- Thờ quyền lực trực tiếp, quyền lực của người trị người trực tiếp. Tinh thần cộng đồng không đi tìm một điểm tựa nào khác ngoài cái hiện trạng “vừa lòng nhau” kết đọng mong manh ở mỗi thời điểm nhất định.

- Đạo “đối nhân xử thế”. Thoạt nghe, đạo này mang vẻ rất hấp dẫn, mang tính « nghệ thuật », « nhân văn ». Nhưng thực chất nó chỉ là thứ “tương quan lực lượng”, « ai thắng ai » giữa các đối tác vào mỗi thời điểm nhất định. Hành xử xã hội trở nên một thứ nguyên tắc của vô nguyên tắc, mở đường cho bạo lực muôn dạng, trải từ dạng “tinh tế” kín đáo, cho tới dạng “thô bạo” thách đố. Dẫu như có luật lệ chăng nữa, luật lệ ấy cũng sẽ chỉ có được tính trang trí, nằm gọn trong tay của kẻ đang mạnh hơn, kẻ  đang tạm có được nhiều “vừa lòng nhau” hơn, cái cũng đã từng được gọi là « pháp trị » (trị bằng luật hình)  từ thời Trung Hoa cổ đại, cái đã được nhận dạng bằng thuật ngữ « rule by law ». Quyền lực của « pháp trị » là cái roi nằm trong tay của người đang thắng thế, đang thống trị. Điều này khác hoàn toàn với  tư tưởng « pháp quyền » nơi mà các quyền lực cá nhân và các quyền lực công cộng được dần dà khách thể hóa ra bên ngoài, được thượng tôn, và mọi người của cộng đồng đều vừa có được các quyền phổ quát được công nhận, vừa phải khép mình bình đẳng bên dưới hệ thống luật pháp đã được đồng thuận ấy (rule of law).

- « Tự do cá nhân » dưới dạng thức tích cực, dạng khẳng định không thể tồn tại được, vì không có điểm tựa. « Tự do cá nhân » chỉ còn là dạng thức tiêu cực, tự phủ định, được vẽ lên như cắt tóc đi tu, trốn vào núi rừng ở ẩn, treo ấn từ quan thả thuyền mất tích, được tô lên thành những đạo Lão, đạo Trang.

- « Cộng đồng dân chủ » của các cá nhân tự do vì thế cũng không thể hình thành.

- “Đạo vòng” sẽ  trở thành nghệ thuật làm biến dạng vòng vèo mọi quy cách, để rốt cục thực thi sức mạnh của kẻ mạnh hơn.

Nan đề của cơn xoáy lốc quẩn này là không thể có được các tiến hóa căn bản của đời sống, nó là một con rắn cắn đuôi bất chấp thời gian.

Đường « thờ sự thật”

Nếu các thành viên của một cộng đồng một hôm quyết định với nhau, rằng “vừa lòng nhau” tuy có những cái hay thật, tình cảm thật, được việc tức thì thật, thỉnh thoảng có lợi thật… nhưng thôi, không thể sống luẩn quẩn mãi trong cơn xoáy lốc kéo dài hàng ngàn năm ấy nữa… thì họ phải thảo luận… thật… với nhau. Tôi tin rằng chỉ có một lối ra, dứt khoát, duy nhất, là chuyển sang « đạo thờ sự thật ».

Sự thật khó khăn, nhưng « thờ sự thật » sẽ cho phép con người ngày càng vứt bỏ đi được những của nả gây nhiễu loạn đời sống, dựng dần lên được những rường cột căn bản, để ngày càng ổn định đời sống, và đi lên vững chãi.

Công việc đầu tiên của « thờ sự thật » là con người không lao vào môn cố tình bịa đặt, mặc dù biết rằng mình có thể nhầm lẫn trong nhận thức.

Lấy ví dụ cho dễ. Truyền thuyết « ông Gióng » là một truyền thuyết đẹp. Truyền thuyết ấy có thể làm nên những câu chuyện kể, những truyện tranh, những trò chơi điện tử, những phim hoạt hình… Vì những loại hình nghệ thuật như thế vẫn bảo tồn được cái tinh thần « truyền thuyết ». Nhưng nếu ví dụ một hôm người ta nhất định dựng cho được một bức tượng « ông Gióng » có mắt như thật, mũi như thật, quần áo như thật, cùng con ngựa như thật, và tất cả to lớn như một chiếc máy bay Airbus khổng lồ A380 hay hơn cả như thế, và rồi hàng vạn, hàng trăm vạn người đến đó cúng bái rải tiền cầu may, thì đó sẽ là cả một vấn đề : người ta đã bắt đầu lao vào cơn xoáy lốc bịa đặt. Nếu lại có vài giáo sư tiến sĩ tranh thủ luận lý thêm nữa từ đó, rằng người Việt đã có ý tưởng làm tàu vũ trụ bằng sắt bay tít tắp lên vũ trụ trước cả nhân loại, thì người ta sẽ đi vào cái « đạo bịa đặt » khôn cùng.

Thờ sự thật hướng con người đến sự chân thật. Giải tỏa các tư liệu lịch sử chẳng hạn, phải trở thành công việc tự nhiên, và bức thiết của cộng đồng. Phải dựng đạo luật, sau mỗi khoảng thời gian, ví dụ 40 năm hay 50 năm, tất cả các tư liệu phải được công bố tự do, được nghiên cứu tự do. Lịch sử không thể nửa kín nửa hở nửa thần thoại mãi mãi đối với một cộng đồng thờ sự thật.

Con người phải được giải phóng khỏi sự sợ hãi tập tục, khỏi « đạo vừa lòng nhau », mà vẫn giữ được sự nhã nhặn. Xã hội đang vận hành như thế nào, phải được tự do nghiên cứu, công bố, thảo luận. Các khảo sát xã hội học tường tận phải được thúc đẩy, được trân trọng. Chỉ từ đó mới dựng lại được bộ mặt ngày càng thật của xã hội. Có sự thật ấy, mới mong đến sự sắp xếp, chỉnh đốn, rồi cải cách.

Báo chí phải trình bày được các thực tế của đời sống.

Con người phải thay đổi được thái độ đối với hiện thực qua tinh thần « thờ sự thật ». Nghĩa là « sự thật » không phải là một thứ vũ khí để tranh nhau thắng thua, để ra đòn trừng phạt nhau như trong thời đại « vừa lòng nhau », nơi « sự thật » bị làm bếp, bị xoay xở. Con người học tập để giữ được một thái độ bình thản, từ tốn, có khoảng cách đối với « hiện thực », với « sự thật » được nhận thấy, để ngày càng tiến đến gần hơn và toàn diện hơn về phía sự thật đang vận động, và từ đó, từ tốn xử lý, cải cách đời sống của mình qua  các qui trình trật tự, an nhiên.

Những điều thuộc về văn hóa mà chúng ta nói đến ở đây trước hết liên hệ đến đời sống thường ngày của những con người bình thường trong gia đình, trên đường phố, ở nơi làm việc. Bản thân lối nghĩ cố đổ bằng hết các thất bại, khiếm khuyết cho « nơi khác », ví dụ « nơi khác » ấy có thể « chỉ là các quan chức chính quyền » thì cũng là một lối cư xử trốn tránh việc « thờ sự thật ». Tất cả phải bắt đầu ngay từ những tế bào đơn giản nhất của xã hội. Từ việc đồng tiền của một gia đình nằm rõ ra từng khoản, khoản để đi chợ, khoản tiền điện nước, khoản để càfé bia bọt, không có nạn « ăn gian » khoản này sang khoản kia ngay từ trong nhà. Từ việc tất cả các bậc cha mẹ có thể và cần phải biểu tình chống lại nạn học hành thi cử khuất tất đè nén lên trẻ em suốt tuổi thơ từ bao nhiêu năm nay. Từ việc đi ra đường phải chờ đèn xanh đèn đỏ ở ngã tư đường, vi phạm sẽ bị chụp ảnh gửi hóa đơn về nhà, thể theo biển số đăng kí. Từ các đòi hỏi phải tạo áp lực dựng lên một hệ thống y tế dù còn nghèo nhưng sạch sẽ, tử tế, chưa có nhà gạch thì dựng nhà lá lên… Các áp lực ấy chỉ giản đơn từ cái tinh thần « thờ sự thật », tôi quyết không đi vòng quanh cái cối xay mãi để phí hoại cả cuộc đời mình. Các áp lực ấy sẽ làm xã hội tổng thể phải tìm ra giải pháp. Một nền giáo dục muốn tử tế, thì đầu tiên là các trường đào tạo các thày cô phải tuyển được những học sinh thuộc lớp giỏi giang và nghiêm chỉnh nhất, mà để tuyển được họ, các thày cô phải thuộc về những người được trả lương đàng hoàng sớm nhất trong bộ máy công quyền. Và vì các thày cô đã là những người giỏi nhất trong lĩnh vực của mình, nên các hiệp hội nghề nghiệp của họ phải là những người quyết định tất cả chương trình đào tạo, trường học phải độc lập, phải thoát ra khỏi các chuyên chế tinh thần có tính giáo hội. Cũng như với các thày cô, các bác sĩ và y tá, họ phải thuộc về trong lớp những học sinh giỏi giang và nghiêm chỉnh nhất được tuyển vào học ở những trường y khoa danh giá, tuyển được họ vì đồng lương hành nghề của họ sẽ sớm được đàng hoàng hơn cả. Giáo dục và y tế tử tế và đàng hoàng, hai thứ đó làm cho con người vươn mình ra khỏi đầm lầy ngu tối và sự lầm than kiếp người.

Còn bao nhiêu điều phải nói, và đáng nói tiếp… Nhưng, chúng ta đã cảm nhận quá rõ điều đau đớn và bất lực vô cùng dài lâu khi mà sự thật không phải là cái căn bản được một nền văn hóa thờ phượng./.

Tia Sáng Tuần Việtnam

Tạp chí Sông Hương

Trung Hoa có nhiều điều khác…

HOÀNG Hồng-Minh

#Bản đủ

Nếu bạn gặp ai lần đầu ở xứ lạ, mà người đó bảo bạn rằng bạn là người Việt, không phải là người Hoa, thế mà thực sự đúng là như vậy, thì người đó quá là tài! Có những người như thế thật, người xứ tây hẳn hoi, nhưng chính tôi cũng không dám chắc mình đủ tinh anh được đến như thế.

Chẳng cần phải lý sự nhiều, sự giống nhau giữa người Việt và người Hoa thật là lớn lao, cả về thể chất lẫn tinh thần. Đọc chuyện của ai, chứ đọc chuyện của xứ Hoa thì người Việt cảm thấy như họ đang nói chuyện về mình. Đọc Lỗ Tấn, tôi cứ đinh ninh mãi rằng bác AQ là người Hoa… gốc Việt. Vua quan triều Nguyễn thì ăn mặc còn Hoa hơn cả vua quan Trung Hoa triều Thanh, chuyện ấy, chả phải nhắc.

Giống là vậy, thế nhưng nhìn cho kĩ, nhiều điều của xứ Hoa vẫn cứ khác xứ Việt.

Nhắm tới tự quyết tinh thần

Xứ Hoa thu thập đủ các lý thuyết thập phương. Nhưng dù có những giai đoạn họ không hề hiểu rõ các lý thuyết đó ra làm sao, họ im ỉm không cam chịu làm nô lệ đơn thuần cho những lý thuyết đó. Ngược lại là khác, họ tìm cách Trung Hoa hóa chúng, tìm cách khai thác chúng một cách sinh lợi, theo quan niệm của họ. Phật giáo là một ví dụ. Ngay cả học thuyết Marxist-Leninist, một khi vào đến Trung Hoa, nó cũng rất nhanh chóng nhuộm chuyển thành ra học thuyết Mao Trạch Đông, một cách dứt khoát, dẫu có cực đoan thêm hơn lên.

Trung Hoa không tự trói mình trong tập tục về sự biết ơn vô bờ. Xử sự của họ với Liên bang Soviet là ví dụ điển hình, sau chịu ơn được việc, là ngang hàng lập tức.

Cái tinh thần gắng leo thật sự lên đỉnh của thiên hạ đó của xứ Hoa, là cái mà người Việt không học ra.

Tinh thần thực dụng

Nói là một chuyện, làm ăn sinh sống là chuyện khác, đó cũng là một tinh thần Hoa thật mãnh liệt. Khổng giáo khinh thường, chê bai buôn bán đến đâu đi chăng nữa, thì buôn bán vẫn luôn luôn là lý tưởng và thực hành lớn lao trong đời sống người Hoa. Tôi từng quen biết một kĩ sư trẻ người Hoa, anh này giỏi giang, sáng sủa, hàng ngày chăm chỉ leo xe bus đi làm, chứ không diện xe ôtô riêng đẹp để tán các người đẹp dù cho thu nhập của anh thừa sức. Trong khoảnh khắc càfé thân tình anh ta thổ lộ riêng «bố mẹ tôi ráo riết rồi, đi làm là để có phiếu lương để đi vay tiền, cứ mua cho xong được ba cái căn hộ đơn cho thuê, khi ấy là xong cái nghề đi làm, rồi muốn bay nhảy gì thì hẵng. Tôi đã mua được hai cái.»

Người Việt tuy là học mượn, học nhờ Khổng giáo, nhưng lại cứ làm như mình là con đẻ chính nòi chân chính của Khổng giáo, bắt chước phải cho triệt để cái thuyết đó theo tưởng tượng của mình, để mà khinh thường buôn bán thật sự, đến mức căm phẫn buôn bán. Đã là bắt chước, thì đúng là chỉ theo được cái bóng chước bên ngoài.

Trong chính trị, cũng vậy. Hôm trước xứ Hoa chống Mỹ kịch liệt, khai tử «con hổ giấy», hôm sau chủ tịch Mao đã đón tiếp long trọng tổng thống Mỹ, để cùng hàn huyên dàn chuyện đại sự của thế giới. Trong khi đó người Việt loay hoay chê trách «lập trường» với «đức hạnh» của họ.

Là một nước nhỏ bé, người Việt không hiểu ra điều đó, cứ tưởng như mình có thể nhờ « gương mẫu  đức hạnh », để rồi sẽ tự đứng ra hòa giải được cả hai nước khổng lồ là Liên bang Soviet và Trung Hoa kia lại, để rồi hai ông khổng lồ này rồi sẽ phải trầm trồ biết ơn và kính phục người Việt. Người Việt không hiểu được rằng để thực dụng được, đó không chỉ là câu chuyện đạo đức hay không đạo đức, mà trước hết phải là chuyện có hiểu hay không hiểu cái thế giới xung quanh, nó đang đi về đâu, do những sức mạnh chính yếu nào dẫn dắt.

Người Trung Hoa hôm trước mang cả ông Khổng Tử ra đấu tố, cứ như là ông ấy đang phạm phải tội bè phái chống chủ nghĩa Mao Trạch Đông. Hôm nay, tên tuổi của ông Khổng Tử lại được thắp sáng choang, y như là tượng Nữ Thần Tự Do bên bờ New York. Nếu bạn ngạc nhiên vì điều bình thường đó, chẳng qua là vì bạn chưa hiểu văn hóa Trung Hoa, và hơn nữa, nếu bạn là người Việt, thì bạn chưa hiểu chính mình.

Bao dung vì lợi

Ngay từ thời xa xưa, các đạo quân Trung Hoa đánh chiếm đến đâu cũng thường đã sẵn sàng nhiều phương phép, hoặc là làm cỏ man rợ các thành trì bất khuất, hoặc là cho các quân tướng của các thành trì đã sớm đầu hàng được giữ nguyên tước vị. Họ không lo vác theo các loại bộ máy quan lại to nhỏ đông đúc li ti để thay thế cho bằng hết được các bộ máy ở mọi nơi mới bình định, chiếm đóng được. Có như thế, các đạo quân xứ Hoa mới đi được xa, mới thu giữ được thiên hạ mênh mông. Họ biết «bao dung vì lợi», để còn kiếm được những ích lợi thật to lớn hơn như thế nữa.

Ngay trong thời hiện đại, Trung Hoa đã vô cùng kiên nhẫn chờ cho hết các thời hạn để thu về trong hòa bình các lãnh địa Hongkong, Macao đã cực kì phát triển giàu có, và lại còn chấp nhận bình thản các thể chế kinh tế-xã hội khác biệt của chúng. Rồi tới đây, sẽ là Taiwan.

Nhưng họ cũng rất dứt khoát thoắt ra tay ở biển Đông khi thời cơ vừa hé lộ, không khác gì Tư Mã Ý nhanh tay bắt Mạnh Đạt ngày nào.

Người Việt thì bận lu bù trong các suy nghĩ tính toán thiệt hơn nhỏ nhặt.

Chép sử kĩ càng

Xứ Hoa có nền chép sử. Trong đống sử liệu đó, vàng, thau, thật, giả hỗn độn, nhưng vẫn có vàng, vẫn có thật. Tư Mã Thiên lạnh lùng chuyên nghiệp từ cả hàng ngàn năm, từ trước cả công nguyên, đã đành; ngay chuyện Tam Quốc bảy giả ba thật cũng đã khắc họa nhà nghề đời sống và con người đủ loại quí phái bần tiện, khắc họa sắc sảo, không nương tay.

Ngay trong thời hiện đại hôm nay, Mao Trạch Đông đã được đánh giá lại công khai, chính thống, là “bảy đúng, ba sai”. Các nhân vật lịch sử hiện đại của xứ Việt thì thường phải “mười đúng, zero sai”, hoặc “zero đúng, mười sai”, theo lối nghĩ thần thoại ông Thiện ông Ác. Hơn cả thế nữa, đã đúng, là đúng tiềm năng, đúng mãi mãi ; đã sai, là sai tiềm năng, sai muôn thuở.

Trung Hoa không mang tên vĩ nhân của họ ra đặt cho các địa danh lớn, họ hiểu rằng điều đó không được an bền, và không lấy được lòng người trong dài lâu.

Tính toán xa xôi

Nếu người Việt cũng thích nhìn xa xăm, thì cũng thường chỉ là để thỏa cơn mơ “chí khí”, để khoe mẽ văn nghệ. Xứ Hoa khác, họ chắc chắn có kế hoạch cho 20 năm, cho 50 năm tới. Làm được hay không còn là chuyện khác, nhưng việc tính toán thật về đường dài nằm trong tâm trí của họ, và họ thi hành chúng. Người đã quen tính đường dài thì ung dung hơn, và đủ làm ngạc nhiên liên tục những người xung quanh chỉ quen tính đường ngắn, quen nghe ngóng, quen ăn thì ở độ.

Tầm vóc

Sự khác nhau căn bản nhất của xứ Việt và xứ Hoa, là tầm vóc. Nhưng người Việt lại hay quên nhất điều này.

Xứ Việt có tầm vóc thật là khiêm nhường so với xứ Trung Hoa, vậy mà lại cả ngàn năm cứ cố học nguyên xi theo Trung Hoa nhiều chuyện, điều đó là vô cùng không bình thường.

Để ví dụ, tầm vóc đã khác nhau đến như thế, mà trong lịch sử lại từng cùng đua nhau áp dụng Khổng giáo, thì sẽ là vô cùng khác nhau giữa vị thế của quốc gia đóng ngôi thiên tử với vị thế của quốc gia đóng phận dậu phiên khi phải gặp nhau.

Để ví dụ, tầm vóc đã khác nhau đến như thế, mà lại cùng áp dụng chính sách thương thảo tay đôi “đóng cửa bảo nhau”, thì kết quả được chờ đợi từ mỗi bên khắc sẽ phải khác nhau đến thế nào.

Tạm kết

Xứ Việt thực sự vẫn có rất nhiều thứ để học được từ xứ Trung Hoa. Nhưng nếu lối học là học đuổi theo bóng, thì càng thu hoạch, càng ảo tưởng.

Học thật, tới nhẽ. Để tìm ra con đường thực sự sáng sủa, bền vững của mình, cho mình.

Và tất nhiên, đừng bao giờ chỉ học từ mỗi xứ Trung Hoa./.

 Tia Sáng   Vănhóa Nghệ-an  TuầnVietnam

Dạy được chính mình, là học

HOÀNG Hồng-Minh

Học, khó hơn dạy. Học, là đích đến của dạy. Dạy được chính mình, là học.

Gần đây nhiều đóng góp tích cực của các tác giả, các nhóm về các phương pháp, các phương tiện học và dạy nở rộ, điều này thật là cần thiết, đáng được khích lệ, được thử nghiệm để mở mang, không có giới hạn.

Riêng tôi nghĩ, “học cái gì”, vẫn là điều căn bản nhất, và điều đó phải dõi theo được sự tiến hóa của tri thức, của lý tưởng tự do.

Các Khổng sĩ thời xưa có thể mài văn rất sắc sảo, cô đọng, ngữ nghĩa điển tích trùng điệp, vần vần đối đối hóc búa tuyệt tác… Nhưng để rồi họ chỉ quanh quẩn trong cái sứ mệnh truyền tải cái đạo vua tôi nô lệ cực đoan. Theo một nghĩa nhất định, họ bị tê liệt về tư duy, họ không thể tư duy, họ chỉ biết kể lại vanh vách, và làm theo, với chút « sáng tạo ». Học như thế, rốt cuộc cũng chỉ để ngu được mình, và qua đó ngu được quan, ngu được dân.

Cái học của ngày hôm nay phải dứt khoát đi ra khỏi được cái vũng lầy ngàn năm ấy.

Vũng lầy ngàn năm ấy là gì?

Vũng lầy ngàn năm ấy từng thống trị trên toàn thế giới, cả ở đông, cả ở tây. Vũng lầy ấy là, học đường bị ý thức hệ tôn giáo đương thời ngự trị, học đường mang một sứ mệnh căn bản nhất là đào tạo ra được các giáo sĩ để củng cố cái ý thức hệ tôn giáo đương ngự trị tinh thần của xã hội. Cuộc cách mạng thực sự của giáo dục, là giải phóng các trường học khỏi sự chuyên chế của ý thức hệ tôn giáo đang ngự trị tinh thần xã hội, cùng các thể chế tổ chức của nó. Từ đó mới nhen dần lên được một nền học thuật tự do, mới nhen dần lên được những con người tự do, những công dân tự do của một xã hội tự do. Nền tự do của giáo dục phải bắt đầu từ nội dung của nó, và cùng với điều đó, thấm đẫm dần qua các cách thức tổ chức, cùng các phương pháp học tập-giảng dạy. Những cánh cổng của trường học phải là những cánh cổng của các pháo đài của tự do của tinh thần. Trường học phải là các điểm sáng đang ngày càng thắp sáng dần toàn xã hội. Không có cách nào khác để đi lên.

Câu chuyện trên đây là câu chuyện của cả xã hội, của mỗi người trong xã hội, mỗi ai cũng cần suy nghĩ về nó.

—-

Bây giờ nếu hạ cánh xuống những điều cụ thể nhất, nhưng có lẽ cũng thật căn yếu, tôi ước muốn các học sinh được hưởng ngay lập tức hai điều rất căn bản sau đây, và làm được ngay, ngày càng mạnh mẽ theo thời gian.

Thứ nhất, môn tiếng Việt phải là một môn thật trọng yếu trong suốt giáo dục phổ thông. Sao cho người đi học trở thành một con người làm chủ điêu luyện tiếng Việt, để tư duy, để trình bày, để trao đổi, để luận cứ, để thuyết phục, để cất cánh tinh thần. Bộ môn này phải là một hạt nhân trung tâm, nó tích hợp các bộ môn về các khoa xã hội, văn chương, nghệ thuật, triết học vào nó, làm thành một tổng thể.

Thứ hai, môn tiếng Anh phải là một môn thật trọng yếu trong suốt giáo dục phổ thông. Các bộ môn khoa học chính xác, công nghệ, kĩ thuật là những bộ môn chính yếu để phát triển năng lực sử dụng

tiếng Anh, được giảng dạy-học tập bằng song ngữ Anh-Việt.

Có quyết sách, có lộ trình, là làm được. Các chương trình nặng quá ? Rút bỏ bớt đi. Làm thế nào để hai điều mong mỏi “học cái gì” này thực hiện được, đời sống giáo dục tự do sẽ tự tìm ra con đường cho mình, từ tốn nhưng vững chãi. Rất nhiều xứ sở khác đã làm được điều đó, và họ đã vươn lên tầm cao đầy kinh ngạc.

Để những thế hệ con người Việt mới sẽ giàu bản lĩnh văn hóa xứ sở, sẽ mạnh bản lĩnh hội nhập thế giới, sẽ xác tín đi về tự do.

Dạy được chính mình, là học./.

 Tia Sáng

Chuyện “thày”, hay “thầy”?

HOÀNG Hồng-Minh

Ngày hôm nay xu hướng phổ biến sách báo viết “thầy”,  hơn là “thày”.

Trong tiếng Việt, “thầy” và “thày” đều được sử dụng, tùy theo vùng miền, theo thời gian.

Với tôi, tiếng Việt phía bắc trước nay sử dụng chữ “thày” phổ cập, từ rất lâu đời.

Ca dao.

“Không thày, đố mày làm nên.” Chữ « thày » ở đây vần với chữ « mày ».

Chữ “mày” cũng vậy, phổ cập phía bắc từ cổ xưa. Phía miền trung và nam, gọi “mầy”, và cũng gọi « thầy ».

Ca dao.

“Học thày, không tày học bạn”. Chữ « thày » ở đây vần với chữ « tày ».

Chữ “tày” cũng vậy, phổ cập phía bắc từ cổ xưa. Phía miền trung và nam, gọi “tầy”.

Chữ “tày” nghĩa là “bằng với”. Nói « tội tày trời”, nghĩa là tội lớn như trời. Không thấy người Việt nói « tài tày trời », « công tày trời », « đức tày trời »… Nghĩa là bảng chân lý văn hóa cho chê, ghét tha hồ, bằng cả trời, cho bõ lòng căm tức, nhưng khen bằng trời thì không được, phạm húy trời. Chê ghét được cổ súy hơn khen mến.

Tôi xưa nay vẫn dùng chữ “thày”, “mày”, “tày” của phía bắc. Rất tiếc là nhiều tờ báo cứ thấy chữ « thày » tôi dùng thì đương nhiên xóa đi, thay nó bằng chữ « thầy ».

Về lịch sử, tiếng Việt vốn lớn lên (cả) từ vùng đồng bằng sông Hồng.

Tôi nghĩ nên sử dụng cả hai cách phát âm, cả “thày”, “mày”, “tày” và cả “thầy”, “mầy”, “tầy”. Quan trọng hơn hết, là không độc đoán xóa đi chữ “thày” của cả ngàn năm.

Tại sao vậy ? Vấn đề không đơn thuần là « thói quen », hay là « gu » trong trường hợp này : bởi lẽ ngôn ngữ là kí ức của một cộng đồng, kí ức đó không chỉ đơn giản là « kỉ niệm », nó còn là chìa khóa để giúp con người lần lại các kí ức khác, giúp giải mã các kí ức khác./.

Tia Sáng

Chuyện tên riêng viết hoa

HOÀNG Hồng-Minh

Từ ngữ được viết hoa, là một phát minh, mãi sau này mới có. Xưa kia người ta viết từ nào cũng “như nhau”, như nhau bởi vì trong đầu người ta chỉ biết có thế. Chỉ đến khi có sự tiến triển của tư duy, biết phân biệt được từ để gọi chung, và cũng từ ấy nhưng là tên riêng, nhu cầu ấy mới thúc đẩy việc tạo ra “chữ hoa” để mà tạo ra sự phân biệt. Như khi viết Cụ Hinh thì đó không phải là cụ, và cũng chẳng phải là hinh.

Một số nhà viết xứ Việt lại đua nhau theo trò chơi khác: muốn nâng nựng ai, hoặc nâng nựng một tổ chức nào, tóm lại: hứng lên, thì viết hoa nó lên! Nói theo mốt ngày hôm nay, thì đó là triệu chứng “đã dốt, còn tỏ ra nguy hiểm”.

Ca ngợi nhà nào đó, tự nhiên viết trống không “hoa” lên, thành những “Anh”, “Người”, “Ông”,”Cụ”. Nhưng thói thị phi thì vẫn vô thức lòi nguyên ra đó, vì hiếm thấy, hoặc không thấy viết “hoa” những “Bà,” “Chị”,  “Em”, “Cháu”, “Chắt…

Một danh từ chức vụ, tự nhiên người viết lên cơn khen nựng nhau, thế là viết nó thành “hoa” luôn, cứ như là danh từ riêng vậy. Nào bác Giám đốc trang trại, ông Chủ tịch phường, ngài Bí thư xã đội, bác gái vợ Trung tướng, cố Giáo sư, bà Tiến sĩ, v.v. Nhưng thói thị phi thì vẫn vô thức lòi nguyên ra đó, vì hiếm thấy, hoặc không thấy viết “hoa” những “Bảo vệ viên”, “Cấp dưỡng viên”, “Nhân viên”, “Bơm xe viên”…

Các tổ chức, là danh từ chứ không là tên riêng, dù có quan trọng đến đâu đi nữa. Ví dụ, đại sứ quán Việtnam, chính phủ Việtnam, quốc hội Việtnam, nhà nước Việtnam… thì những từ “đại sứ quán”, “chính phủ”, “quốc hội”, “nhà nước” là danh từ, chứ không phải là tên riêng, xin mời viết thường.

Được viết hoa, xin nhắc lại, chỉ là để phân biệt xem từ đó là danh từ, hay là tên riêng.

Tội đồ Hitler, thì vẫn phải viết hoa Hitler, vì đó là tên riêng, chứ không phải vì kinh tởm ông ta mà tôi viết thành ra không hoa, thành hitler, cho sáng lập trường.

Còn nhân dân, dẫu tôi yêu quí, thì tôi cũng không có quyền viết thành “hoa”, thành Nhân Dân, để chứng minh rằng tôi yêu quí nhân dân.

Nếu tôi muốn không tuân thủ ngữ pháp, hệ thống qui tắc viết nhằm để diễn tả được chính xác thông tin, thì tôi phải đề nghị, trao đổi để thay đổi ngữ pháp, chứ không phải tôi ngọ nguậy tùy hứng.

Vì, tôi không phải là người múa gậy một mình trên văn đàn.

Và một đất nước chỉ vào được qui củ, khi những qui tắc đã thỏa thuận rộng rãi được tôn trọng, trong hết thảy mọi lĩnh vực./.

Tia Sáng

Người Việt, chất xám, đi về đâu

 

HOÀNG Hồng-Minh

ngươi Viet_ chat xam_ di ve dau_KhềuTôi ghé thăm gia đình người bạn. Sân nhà mới bữa nào còn hay ồn ĩ bọn trẻ, giờ nay im ắng. Hai vợ chồng mới đi làm về. Con cái đã gửi đi học và đi làm cho bằng hết ở xứ ngoài rồi, một ở Âu, một ở Mỹ.

Anh bạn lâu niên nhìn tôi, đôi mắt như muốn phân trần, nhưng đôi tay thì đã buông thõng câu trả lời rồi.

Nhìn vào rất nhiều gia đình bạn bè khác ở Hànội, điều tưởng như kì lạ này hóa đã thành quá quen thuộc. Các đôi vợ chồng còn đi làm, và con cái đã gửi đi học và/hoặc đi làm bằng hết ở xứ ngoài, đặc biệt là ở Âu-Mỹ. Thực tế này rất cứng đầu, thẳng thừng, coi thường những đống lý sự tổng cóc.

Anh bạn chợt chọc vui “nghĩ ngợi lo âu gì cho xứ sở à?”

Tôi đâu đã ở tầm quen nghĩ to. Tôi chỉ đang tự nhiên mải đắm nghĩ sang người Do Thái. Mang máng theo con số ước tính của « Jewish People Policy Planning Institute » năm 2007 thì có khoảng hơn 13 triệu người Do Thái trên toàn thế giới, trong đó 34% sống ở Israël, 38% sống ở Liên bang Mỹ, còn lại ở mọi nơi…

Tôi quay sang anh bạn.

-“Có gì mà lo. Nếu so với cấu trúc định cư của người Do Thái, thì với 90 triệu người Việt, nay mai chúng ta sẽ phải có chỉ vào tầm 30 hay 31 triệu người Việt còn sống ở… trong nước thôi, còn lại 34 triệu người Việt sẽ sống trên đất nước Mĩ, và 25 triệu người Việt sẽ sống ở những nơi khác trên khắp hành tinh.”

-“Thế ra anh còn lo to hơn thế nhỉ, lo làm sao di được dân Việt đến mức vĩ đại như thế à! Vào nhà đi.”

—-

Vừa thưởng trà, chúng tôi vừa hàn huyên luyên thuyên đủ mọi chuyện.

Trong mỗi câu chuyện chẳng đâu vào đâu, vẫn hay có cái hạt nhân rất thực để mà ngẫm suy.

Dẫu mô hình dân số người Việt chả ăn nhằm gì với mô hình dân số của người Do Thái, nhưng mô hình dân số người Việt đã mang những thay đổi rất quan trọng.

Hàng triệu người Việt đã định cư ở khắp nơi trên thế giới. Nói đến người Việt, bây giờ không thể quên nói đến người Việt ở xứ ngoài, với những thành công nhất định về kinh tế, văn hóa, khoa học, cùng những liên kết rất đời thực cơm áo gạo tiền với gia đình, người thân ở trong nước.

Người Việt ở xứ ngoài là con em của mọi tầng lớp ở trong nước, kể cả con em thuộc các tầng lớp kinh doanh thành đạt trong lĩnh vực tư nhân, cũng như con em của các quan chức cao cấp, và cả cao cấp nhất, của bộ máy công quyền.

Trong số người Việt ở xứ ngoài, có nhiều người đã trở về, về hẳn, về hợp tác, hoặc « về nửa này nửa kia ». Điều này thúc đẩy một sự đa nguyên nhân sinh theo nghĩa rộng nhất.

Nó đã thúc đẩy sự tan băng của cái nhìn thù địch truyền thống về “yếu tố nước ngoài” trong nền tảng tinh thần cát cứ kiêu-ti Khổng giáo. Nó mở ra sự hợp lưu của mọi tầng hoạt động của con người, khoa học, giáo dục, công nghệ, buôn bán, văn hóa nghệ thuật, rộng hơn nữa, chính trị, pháp lý, xã hội công dân.

Nó động đến quyền lợi của các tầng lớp, kể cả tầng lớp cao cấp công quyền trong chuyện xử lý “yếu tố nước ngoài”. Các gia đình đã có thể có cấu trúc đa quốc tịch, rồi các công dân cũng đã có thể đa quốc tịch. Người mang nhiều quốc tịch có thể tham gia vào các hoạt động xã hội đã đành, họ có thể, và đã có trường hợp trở thành quan chức công quyền cao cấp. Và một ngày kia, yên tâm là sẽ còn rất xa, sẽ giống như ở Israel, họ sẽ có thể trở thành quan chức công quyền cấp cao nhất.

Câu chuyện như con thuyền, càng theo gió đi xa, anh bạn tôi có vẻ càng tự thấy nhẹ nhõm hẳn đi về chuyện con cái của mình.

Anh ngỏ lòng dẫu sao cũng là đáng tiếc về tình thế “chảy máu chất xám.”

Tôi thì lại hình dung mệnh đề này cũng không đơn giản.

Trước hết, phải có chất xám, rồi mới nói đến chuyện chất xám chảy đi đâu.

Chất xám có được phải nhờ được đào tạo tốt, được sử dụng tốt, bị chịu áp lực đòi hỏi sự cố gắng bền bỉ cao độ trong công việc. Chất xám không phải là thứ đem cất vào nhà kho đông lạnh để dự trữ được.

Thứ đến, việc chảy của chất xám nôm na ra thì cũng như nước chảy. Không phải là chất xám rủ rê nhau bỏ chỗ nào, chạy về đâu. Mà chính là các môi trường nếu được cải thiện để tạo ra thế năng thuận lợi, thì chất xám lúc nào cũng sẵn sàng tràn về. Không chỉ chất xám có nguồn gốc bản xứ, loại “mũi tẹt da vàng”, mà là chất xám phổ quát, của toàn thể loài người. Cho nên, đó lại là một câu chuyện hoàn toàn khác, câu chuyện về một cộng đồng muốn sẽ trở thành như thế nào, thiết kế việc ăn ở sinh sống ra sao.

—-

Chị vợ đã kịp nướng xong mấy con mực, lại còn bày ra chai rượu quí.

-“Đây nhé, hãn hữu nhé, em rất ghét mấy ông rượu trà lắm lắm! Nhưng hôm nay chuyện thế này cũng làm em vơi được lòng mình, về cái chuyện con cái nhà mình phải khăn gói đi xa khỏi quê nhà, xa ông bà, bố mẹ.

Có chai rượu ngon, thứ thiệt đấy ạ, con bé đầu nó mang về nhà tháng trước đấy, mời các anh. Gớm, anh chồng em tự nhiên được lãi lây bữa rượu nhé !”

Tia Sáng

#Tranh : họa sĩ Khều

Tuần Việtnam

Già làng mến khách

HOÀNG Hồng-Minh

Mùa Xuân Hànội năm nay thật là đẹp, theo cách tôi cảm thụ trực quan với tầm nhìn ngắn. Với các nhà khoa học ưu ái sinh thái thì mùa xuân này bị quá đẹp : khô ráo và ấm áp đến kì thường, ấy thực ra là mối lo.

Đang mải càfé chuyện trò với bạn bè, chắc tôi cũng đang hơi hăng quá, anh bạn vong niên quí mến vỗ vỗ vai “hượm đã, này, có già làng này muốn nhắn mấy câu đây nhé”. Đầu (không) dây kia, giọng nói ấm áp quen thuộc “anh khỏe khoắn chứ, cố gắng mấy ngày tới bay lên đây nhé, hội làng càfé, quyết được ngay để kịp sắp xếp…”. Ừ, mà mình cũng chẳng có việc gì bị đôn thúc lúc này… “vâng, vui quá, sẽ bay ạ.”

—-

BMT là ba chữ viết tắt tên của thành phố, ba chữ mà ai ai cũng nhất trí, nhưng ngay tại sân bay mấy tấm biển trên biển dưới đã cãi vã lẫn nhau hồn nhiên, những “Buôn Mê Thuột”,”Ban Mê Thuột”, “Buôn Ma Thuột”… Tôi chưa tìm ra tấm biển “Ban Ma Thuột” cho điền đủ bảng tuần hoàn 2 mũ 2 của Buôn/Ban/Mê/Ma. Sân bay nhỏ nhắn nhưng khang trang, không còn giống như cái sân thóc hợp tác xã ngày nào tôi cùng các anh chị bên dân tộc học hạ cánh, hạ cánh mà cứ như suýt rụng cánh.

«Đây rồi, xe vào đến làng càfé ạ », cô bạn đón khách nở nụ cười « chao ôi »… Tôi rất ngại ngắm người đẹp, sợ nhỡ bị hiểu nhầm (càng không sao). Nào, bách bộ xuyên làng, phải vào sâu hơn, sâu hơn nữa, đến cuối làng, qua cầu đá, vào hang đá… Già làng… đây rồi, đang tiếp khách, vồn vã đứng lên tay bắt mặt mừng chúng tôi. Bàn khách được nới rộng ra, khách cũ khách mới quên hết cả ai cũ ai mới.

Suốt mấy ngày đêm khách khứa ở làng này, tôi mới hiểu ra tình cảnh này là hằng suốt, cứ từ sáng tinh mơ cho đến đêm khuya. May mà già làng này còn trẻ, khỏe, minh mẫn, và lại mê say tiếp khách nữa chứ. Nhiều chủ đề trong các cuộc chuyện thuộc loại gay cấn, phải nghĩ ngợi, phải phân tích, phải bàn thảo rạc người.

Và tôi nhận ra, già làng đây là người có khả năng tiếp khách siêu việt, có lẽ là nhất xứ Việt. Ông này rồi sẽ đến lúc nên làm bộ trưởng ngoại giao một lúc xem sao, tại sao không? Tôi liên tưởng mãi đến cái chức vụ có lẽ là nhàn nhất xứ Việt một thời ngày xưa, chức vụ bộ trưởng ngoại giao : có khi cả năm trời bộ trưởng ngoại giao không thấy ra nước ngoài lần nào thì phải.

Vừa tiếp khách, đôi khi chủ động thuyết trình, già làng vẫn tiếp tục các công việc “riêng” của mình, cả những việc liên quan đến việc quản trị cho chạy cái làng càfé đích thực, cái làng rộng lớn hơn rất nhiều chính cái làng này. Chưa hết, đôi lúc già làng lại làm tour trả lời phỏng vấn, thu tiếng, thu hình… tại chỗ. Chiếc smartphone trong tay ông hoạt động không nghỉ, vậy mà hễ ai dừng chuyện, thì già làng lại giục “anh cứ nói tiếp, tôi đang nghe mà“, và rồi lại tiếp tục vào lại cuộc chuyện sít sao như không từng bị gián đoạn.

Khả năng tiếp chuyện hay nhất của già làng đây thực ra lại không ở trong lời chữ, mà ở trong phong thái của mình. Luôn luôn đĩnh đạc, đầy sức sống, thong dung, cử chỉ gợi mở, dẫn dắt, giọng nói từ tốn, truyền cảm, lượn khúc, nhấn huyệt. Ông học được ở đâu ra các kĩ năng truyền thông tinh tế này nhỉ, hay là chỉ tự học mà ra, như là ông Gia Cát Lượng ngày xưa vừa tự cày ruộng vừa tự học nên mình?

—-

Các sinh hoạt ẩm thực, văn hóa, vũ hội ở ngôi làng càfé vượt ra xa các nếp mòn hội nghị hội thảo cổ truyền theo thể thức “ai tham ăn thì tham luận”.

LờDSC03172i nói được sử dụng hãn hữu, vừa xíu đủ.

Không cần khua phát “dân tộc”, hãy thưởng thức âm, nhạc, vũ, điệu, trang phục, con người, món ăn. Không cần ồn ào “quốc tế”, các vị khách thế giới, cùng các nhóm các cô gái trong trang phục và kiểu cách Ethiopia, Brazil, Turkey… phục vụ càfé Ethiopia, Brazil, Turkey… cho chúng ta được thưởng thức đầy đủ sắc, hương, tình, vị.

Làng càfé này là nhân tố tham gia rất chủ đạo cho ngày Lễ hội Càfé tại trung tâm thành phố Buôn Mê Thuột. Lễ hội này có lẽ là lễ hội quần chúng sáng tạo bậc nhất ở xứ Việt. Bạn có đoàn voi uy phong diễu hành, mà cũng có đoàn xe ngựa kéo quyền quí. Bạn có đoàn xe bọ cạp sưu tầm tự nguyện kéo về từ mọi nơi trên đất nước, mà cũng có đoàn thiếu niên trai gái đạp xe đạp vô tư yêu kiều diễu trên quảng trường. Bạn có đủ các dân tộc cao nguyên nhảy múa, mà cũng có các vũ nữ hóa trang và nhảy múa theo kiểu các cường quốc càfé.

DSC03223

Bạn có người dân, mà cũng có các nhân viên công sở diễu hành.

DSC03232DSC03238Bạn có lời chúc của quan chức địa phương, mà cũng có lời chúc của quan chức khách xứ nước ngoài…

Bạn còn mong có sự cải thiện nào khác ư? Kể cũng có. Bộ máy an ninh làm việc vất vả, nhưng mặt mũi của các vị nên vui tươi tham gia ngày hội, đây là ngày hội của cả các vị nữa chứ; các quan chức địa phương đọc diễn văn dưới trời nắng gắt, từ sau các thư kí nên soạn diễn văn thật ngắn thôi, và các quan chức nên thật tươi tắn, tham gia vui chơi cùng lễ hội… Quảng trường là nơi tiếp đón khách muôn nơi, lại kê mô hình cái xe tăng… Mà thôi, đã góp ý, không nên góp nhiều quá một lúc…

Được già làng mời lên xe ngựa kéo để diễu hành qua quảng trường, tôi xin được làm người dân dưới hè phố để thưởng thức cho được đầy đủ quang cảnh buổi diễu hành của dân chúng. Từ hè phố này, tôi mơ ước Hànội có ngày học tập được Buôn Mê Thuột để làm lễ hội dân chúng cho chính mình. Để quảng trường Nhà Hát Thành Phố Hànội trở thành nơi người dân dung dị gửi gắm tấm lòng mình, và trưng phô  tấm lòng mình trong một cuộc đời nhiều niềm vui hồn nhiên hơn, thật bụng hơn.

—-

Các hoạt động lễ hội đan kín, tôi cảm phục người bạn già làng của mình về năng lực phi thường trong việc tiếp đãi khách. Đúng là mấy ông thanh niên cưới vợ mới tiếp khách một buổi mà đã phờ phạc, không ăn thua gì… Mà tiếp đãi khách ở đây không chỉ là uống càfé và nói chuyện suốt ngày đêm đơn thuần… còn phải lo đến đủ cả ăn, cả ở, cả đi lại, cả giải trí cho các quí vị… đủ chuyện.

Cuối cùng thì những ngày lễ hội cũng trôi qua, giờ từ biệt đã điểm. Không muốn phiền nhiễu gì hơn, đồ đạc đã soạn xong, tôi nhắn SMS “cảm ơn anh nhiều quá, thật là một dịp hiếm vui, nhiều phát hiện, nhiều kỉ niệm, thêm bè bạn. Đến giờ ra sân bay rồi, hẹn gặp lại à.”

Điện thoại nổ chuông tức thì. “Xin lỗi anh, tôi trót bận quá những ngày qua, chúng mình chuyện trò như thế, nhưng vẫn chưa thỏa à. Anh ráng ở lại thêm đi nhé, đổi vé xong, chúng ta còn trò chuyện được hết chiều, thâu đêm suốt sáng ở miền quê đồi núi tịnh lặng. Được chứ anh?”

Tôi mỉm cười gửi lại “Được chứ còn gì.”

Lại SMS. “Tôi qua đón anh ngay bây giờ. Sẵn đồ, ta đi luôn. Đặng Lê Nguyên Vũ.”

#Photos : HHM

Tia Sáng

Chủ nghĩa sùng thờ tiền

HOÀNG Hồng-Minh

Một cô gái trẻ đến thăm phòng tư vấn tâm lý sau nhiều năm không chiến thắng nổi mình. Vấn đề của cô rất đơn giản, chỉ đến giữa tháng là cô cạn sạch tiền, tuy lương tháng của cô vào loại khá giả. Cô thường bị bập vào những món đồ hiệu rất đắt tiền, để rồi cũng chóng chán chúng với cùng một tốc độ mà cô mê man có được chúng.

Một người đàn bà lớn tuổi khác rốt cuộc cũng đến thăm phòng tư vấn tâm lý sau nhiều năm không chiến thắng nổi mình. Vấn đề của bà rất đơn giản, hết tháng vẫn còn gần như nguyên tiền lương, dầu cho món tiền lương của bà khá khiêm tốn. Con cháu, bạn bè, người quen bỏ rơi bà. Bà sống trong căn nhà lạnh không sưởi, nóng không quạt, đèn điện le lói, hầu hết các đồ ăn, đồ dùng đều được bà thu nhặt từ các đồ bỏ đi của các chợ, của các siêu thị, hay của ai khác. Nhìn cách bà ăn mặc người ta khó xác định được bà sống ở thế kỉ nào.

Trước mắt chúng ta, hai bức tranh thuộc hai thái cực muốn hủy diệt nhau.

Trước mắt nhà phân tâm học nọ, đó lại chỉ là hai góc nhìn của một bức tranh.

Bức tranh gì vậy?

—-

Nhà phân tâm học nọ cho ta biết rằng hai người đàn bà này đều cùng một cội rễ. Họ sùng thờ tiền. Đồng tiền là ma lực lớn nhất dẫn dắt họ vào đời sống, nhưng bằng hai ngả khác nhau.

Ngả thứ nhất, phải được lướt trên cái ván trượt trên bể tiền, không thể kìm lòng được.

Ngả thứ hai, phải được chìm sâu trong cái đáy bể tiền, không thể kìm lòng được.

—-

Những người đã từng sống trong những xã hội cực kì khắc khổ, thù địch đồng tiền, họ biết đến những gì?

Họ biết đến sức nặng khủng khiếp của đồng tiền vô hình, hoặc đè lên cuộc đời họ, hoặc thổi họ hóa rồng lên mây.

Đồng tiền được hóa phép, để “biến đi”, chuyển thành tem phiếu, chuyển thành bổng lộc, chuyển thành danh dự, chuyển thành chức tước, chuyển thành đặc quyền, chuyển thành thiêng liêng. Người ta tranh đấu cả năm trường để được trở thành nhân sĩ thi đua gì đó, với khát vọng vốn bị cất ém quá kĩ đến không thành lời, thậm chí không dám trộm nghĩ đến, để cuối năm này được quyền mua một cái săm xe đạp mới chẳng hạn. Những người thành công lớn thì có thể đi họp tối ngày để được ăn uống miễn phí, ăn cơm chúa múa tối ngày, thỏa giấc mơ thầm kín với những bơ gạo phát chẩn sẽ dư lại ở nhà cho gia đình mình, được bán đi ở cửa sau nhà.

Những người đã từng sống trong những xã hội thả rông tiền mặt, họ biết đến những gì?

Họ biết đến sức mạnh khủng khiếp của đồng tiền hữu hình, hoặc đè lên cuộc đời họ, hoặc thổi họ hóa rồng lên mây.

Để người không may phải bán đi tất cả, tất tần tật.

Để người may mắn phải mua sắm tất cả, tất tần tật.

—-

Một con người, một xã hội chỉ an lành khi mà đồng tiền nằm đúng ở chức năng của nó.

Từ chủ nghĩa sùng thờ tiền, trong cực đoan này hay trong cực đoan kia, con người và xã hội phải tìm cách đi ra được khỏi cái vòng xoáy ấy, cái vòng xoáy hoang dại của sự hoang dại.

Và đó là một tinh thần rộng lớn, cho một chương trình rộng lớn, để xây dựng lên một cuộc đời văn minh thịnh vượng bền vững, với tự do của mỗi con người, sự bình đẳng cho mỗi con người về các quyền làm người, cùng lòng nhân hậu phổ quát làm nền tảng.

Đồng tiền chỉ đến lúc đó mới được thuần hóa, để trở về làm công cụ thông minh của con người. Con người khi đó thôi là kẻ nói dối hộ đồng tiền.

Tia Sáng

Bốn nguyên tắc của Hiến pháp Cộng hòa Pháp

Cộng hòa Pháp là một quốc gia có truyền thống dân chủ lâu đời ở châu Âu. Nhằm xây dựng “nhà nước của dân, do dân và vì dân”, Hiến pháp Pháp dựa trên bốn nguyên tắc cơ bản sau:
Một là, Hiến pháp bảo vệ quyền con ngườiNguyên tắc cơ bản đầu tiên đó là quyền cơ bản nhất của chon người được bảo vệ. Trong khi các quốc gia có xu hướng liệt kê các quyền con người được bảo vệ, thì Lời mở đầu của Hiến pháp Pháp năm 1958 đã viện dẫn 2 văn bản quan trọng về quyền con người: “Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền năm 1789” và “Lời mở đầu của Hiến pháp năm 1946”. 

Tuy nhiên, quyền sống, tự do và bình đẳng được xem là thiêng liêng, là nguyên tắc của phẩm hạnh con người, và được củng cố bằng các quyền kinh tế v�Theo Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền, các quyền tự do cá nhân là vĩnh viễn và chưa đầy đủ. Vĩnh viễn theo nghĩa các quyền sẽ tồn tại, gắn với mỗi con người, mà không bị tước đoạt. Chưa đầy đủ nghĩa là việc liệt kê các quyền con người chỉ mang tính tương đối, chưa có một thước đo hoàn chỉnh nào có thể liệt kê được tất cả các quyền con ngườitham gia vào đời sống xã hội dưới hình thức tập thể và cá nhân riêng lẻ. 

Ngoài ra, Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền năm 1789 và Hiến pháp Pháp năm 1946 đã đưa ra các quy định khá cụ thể để bảo vệ các quyền con người, cũng như các quy định vừa mở để phù hợp với sự phát triển của nhận thức, công nghệ…, chẳng hạn như quyền tự do ngôn luận chưa được đề cập trong Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền, nhưng nhờ những quy định mở, mà quyền này cũng được xem là bất khả xâm phạm.

Để bảo vệ các quyền con người, Hội đồng Hiến pháp có nhiệm vụ đảm bảo tất cả các luật được thông qua bởi Nghị viện phải phù hợp với Hiến pháp và các văn bản mà Hiến pháp viện dẫn.

Hội đồng Hiến pháp có chín thành viên. Tổng thống bổ nhiệm ba, Chủ tịch Quốc hội bổ nhiệm ba và Chủ tịch Thượng viện bổ nhiệm ba. Ngoài vai trò bảo vệ Hiến pháp, Hội đồng Hiến pháp còn có chức năng bảo đảm các cuộc bầu cử Tổng thống, bầu cử Nghị viện và Trưng cầu dân ý được thực thi đúng pháp luật.

Nhiệm kỳ của các thành viên Hội đồng Hiến pháp là chín năm (không bị bãi nhiệm và không được bổ nhiệm lại khi hết nhiệm kỳ). Điều này đảm bảo các thành viên độc lập, không bị chi phối bởi những người đã bổ nhiệm trong các tranh chấp chính trị và tư pháp.

Hai là, Hiến pháp phân quyền

Theo quy định của Điều 16 của Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền 1789, Hiến pháp, theo tinh thần Học thuyết Montesquieu, phân chia quyền lực. Quyền lập pháp được trao cho Nghị viện, quyền hành pháp trao cho Tổng thống và Thủ tướng, quyền tư pháp trao cho Tòa án. 

Nhánh lập pháp: bao gồm Quốc hội (the National Assembly) và Thượng viện (the Senate)
Quốc hội được bầu thông qua phổ thông trực tiếp, dựa trên nguyên tắc đa số. Mỗi dân biểu được lựa chọn từ một khu vực cử tri, hay nói cách khác, một khu vực nhất định chỉ có một dân biểu đại diện. Điều này tránh được tình trạng “cha chung không ai khóc”. Nếu một vài dân biểu đại diện cho một khu vực, rất khó để xác định trách nhiệm của các dân biểu. 

Trong khi dân biểu của Quốc hội đại diện cho người dân thì các Thượng nghị sỹ đại diện cho các quyền lực địa phương (bao gồm chính quốc Pháp và cả người có quốc tịch Pháp sinh sống ở nước ngoài). Thượng nghị sỹ được bầu thông qua phổ thông gián tiếp, bởi các dân biểu địa phương. Thượng nghị sỹ có nhiệm kỳ 9 năm, và cứ 1/3 trong tổng số 321 Thượng nghị sỹ sẽ được bầu lại 3 năm/lần.

Nhánh hành pháp: Quyền hành pháp được trao cho Tổng thống và Thủ tướng.

Tổng thống là người đứng đầu Nhà nước, đại diện cho quốc gia. Các quyền quan trọng của Tổng thống bao gồm: Bổ nhiệm Thủ tướng, và các thành viên của Chính phủ theo đề xuất của Thủ tướng. Ngoài ra, Tổng thống có quyền kêu gọi trưng cầu dân ý, giải tán Quốc hội (tuy nhiên, không có quyền giải tán Thượng viện), đàm phán và thông qua các hiệp ước quốc tế, hay đề xuất sửa đổi Hiến pháp, vạch ra các chính sách quan trọng cho Chính phủ. 

Tuy nhiên, quyền lực quan trọng nhất của Tổng thống bắt nguồn từ nhân dân thông qua bỏ phiếu phổ thông trực tiếp. Nếu ứng viên dành được đa số tuyệt đối (quá bán/tổng phiếu), thì ngay lập tức trở thành Tổng thống. 

Trong trường hợp không có ứng viên nào dành được đa số tuyệt đối, thì 2 ứng cử viên dẫn đầu sẽ tham gia vòng thứ hai. Trong lần bầu thứ hanày, người nào dành được đa số tuyệt đối sẽ chiến thắng, trở thành Tổng thống. 

Thủ tướng do Tổng thống bổ nhiệm. Thủ tướng điều hành công việc hàng ngày của chính phủ, chịu trách nhiệm giải trình trước Quốc hội. 

Nhánh Tư pháp: 

Nghĩa vụ của Thẩm phán Pháp bao gồm: giải thích và áp dụng pháp luật. Hiến pháp bảo đảm các Thẩm phán độc lập và có một địa vị đặc biệt.

Pháp có hệ thống tư pháp kép, song song nhưng hệ thống cấp bậc riêng biệt: Các Tòa Dân sự và các Tòa Hình sự (cao nhất là Tòa Phá án (Court of Cassation); và các Tòa Hành chính, xét xử các tranh chấp giữa các cơ quan công quyền và cá nhân (đứng đầu bởi Conseil d’Etat). Ngoài ra, còn có Tòa Kiểm toán (Audit Court) với các trách nhiệm trong lĩnh vực ngân sách và tài chính.

Ba là, chế độ Đại nghị duy lý

Chế độ Đại nghị duy lý được hiểu là trong mối quan hệ giữa Chính phủ và Nghị viện thì Chính phủ có nhiều cách để thúc ép Nghị viện thông qua chính sách.

Chính phủ không e ngại khi đối diện với Nghị viện bởi các thành viên của Nghị viện chịu sức ép từ Chính phủ (cùng Đảng). Tuy nhiên, trong một số trường hợp, các thành viên này có thể lựa chọn khác, khi lợi ích của Đảng xung đột lợi ích nhân dân. 

Chế độ này bảo đảm sự ổn định và quyền lực của số đông (power of the majority block). 

Cuối cùng, Hiến pháp bảo đảm mối quan hệ trách nhiệm của nhà cầm quyền đối với người dân 

Người dân (người bị trị) chọn nhà cầm quyền thông qua bầu cử.  Nhà cầm quyền đưa ra chính sách để điều hành.  Nhà cầm quyền chịu trách nhiệm giải trình trước dân (nếu nhà cầm quyền không thực hiện được như nguyện vọng của dân, thì họ sẽ không dành được phiếu trong cuộc bầu cử sau).

Lời kết

Rõ ràng, với những nguyên tắc: Bảo vệ quyền con người, Phân quyền, Chế độ Đại nghị duy lý, Bảo đảm trách nhiệm của nhà cầm quyền đối với người dân, Hiến pháp Pháp thực sự là khế ước xã hội bảo vệ các quyền lợi của các thành viên trong xã hội, cũng như đã xây dựng được một mô hình phân quyền hợp lý giữa các nhánh quyền lực. Có như vậy, người trao quyền (nhân dân) mới thực sự làm chủ, không bị mất quyền sau khi trao quyền. Những nguyên tắc này, về cơ bản, cũng là xu hướng chung trong Hiến pháp của nhiều nước dân chủ trên thế giới như Đức, Thụy Điển, Bồ Đào Nha…

Tết cũ Hànội, còn gì hôm nay?

HOÀNG Hồng-Minh

== Bản đầy đủ ==

Con người, cảm xúc, hiện thực. Chúng lúi húi với nhau, tin tưởng vào nhau, nghi ngờ lẫn nhau. Cái Tết của mới mấy chục năm về trước, vừa mới hôm qua đây, đã như vô cùng xa lạ với cái Tết hôm nay… Con người mình đã đổi thay ? Cảm xúc của mình đã đổi thay ? Bản thân cái Tết đã đổi thay ? Hay là tất cả mấy cái đó ?

Con người

Con người, là một người, là mọi người, và do đó cũng là cả xã hội. Con người đổi thay. Mỗi thế hệ đều trải nghiệm những cái Tết riêng tư của riêng mình, ở mỗi vùng miền khác nhau. « Tết cũ Hànội », cũng chỉ là tôi nói đến những cái Tết của thời lứa của tôi mà thôi.

Cái đặc biệt, là con người nước Việt hôm nay đã và đang đổi thay với một tốc độ rất nhanh, và ngày càng nhanh lên vô cùng, đặc biệt là ở các thành phố lớn.

Cái Tết ngày trước đại khái vốn là những gì ?

« Thịt mỡ, dưa hành » ? Các bạn trẻ hôm nay chắc khó mà hiểu được rằng ngày trước nhiều khi mỡ quí hơn thịt nạc ! Mỡ rán lên, cất vào liễn mỡ ở trong chạn, dẫu có thường bị kiến bò vào thì rồi mới có đủ các loại món rang, món xào, món canh « toàn quốc » rạng ngời váng mỡ.

« Câu đối đỏ» cũng là chuyện cũ, nay chán rồi. Đường phố hôm nay ngập tràn các loại  quảng cáo, từ « khoan cắt bê tông » đến « cắt tóc gợi tình», cùng với đủ loại khẩu hiệu chói chang say nắng say mưa quanh năm. Trẻ mới học chữ cùng người già hôm nay ra đường đánh vần suốt ngày không hết chữ.

« Tràng pháo » bây giờ nằm kín ở trong dàn âm thanh hifi không khói không mùi.

« Bánh chưng xanh» nay bày bán ở chợ mọi lúc, thỉnh thoảng lại được các bà nội trợ rước về cho cả nhà ăn quà sáng. Hết thiêng!

Nhưng Tết dẫu sao thì cũng không chỉ là chuyện « no ba ngày Tết ». Còn là, và trước hết lại là muôn chuyện có vẻ như đâu đâu.

—-

Ngày trước dù sống ở giữa phố phường Hànội, nhiều người cả năm hiếm khi có lấy bức ảnh chụp. Chỉ ngày Tết đến, cả gia đình mới diện cho nhau bộ quần áo đẹp nhất, hơi ngượng một tí vì chợt quá diện hơn hẳn ngày thường, trịnh trọng bách bộ ra phố hướng đến hiệu ảnh ở phố Tràng Tiền, hay ở phố Hàng Khay, để chụp lấy mấy kiểu ảnh gia đình, mấy kiểu chân dung. Một khoản ngân sách đáng kể. Phố phường yên vắng, lặng thinh, nghe thấy rõ cả tiếng của xích xe đã rã đang cà vào cái líp xe đã cùn, « kịch-cà-rà-kịch », mỗi khi có bác xích-lô đạp xe ngang qua. Mở cuốn album, duy nhất, của một gia đình ngày ấy ra, mỗi trang là một bộ ảnh của ngày Tết của mỗi năm. Trừ phi có thêm sự kiện gì đặc biệt lắm, thì mới thấy có thêm vài chiếc ảnh khác. Ảnh đen trắng, hoặc nâu trắng, giấy bóng, giấy lụa, đôi khi có chiếc được tô tí màu bằng bút lông. Chúng được cắt riềm dentelle như những chiếc bánh biscuit, và có khi bị gián mối nhấm mất toi một góc. Hôm nay các bạn tuổi teen ngồi rảnh rỗi năm phút là đã giơ điện thoại ra chụp cho mình lấy vài chục kiểu ảnh, rồi lập tức tống chúng lên Facebook, và chém gió bình loạn nhau hả hê được liền…

Con người, đời sống đổi thay đến như thế. Tết không thay đổi được chăng ?

Cảm xúc

Vật chất, là « cái bên này » của hiện thực. Cảm xúc của con người, là « phía bên kia » của nó. Sau này khi mình ra đi, ai thì rồi cũng sẽ ra đi cả thôi, mình sẽ không quên mang cái « hiện thực bên kia » đi cùng, và sẽ chỉ còn lại cái « hiện thực bên này ».

Con người mới mấy chục năm trước đây còn rất đơn giản, nói ngây ngô cũng được. Sự đơn giản ấy đặc biệt ở chỗ nó vốn ở sẵn trong họ từ hàng ngàn năm rồi, hầu như không bị biến động nhiều. Thoắt một cái, hôm nay sự đơn giản ấy đã thành ra chuyện cổ tích cho giới trẻ.

Thời Hànội còn trong chiến tranh, các trường học phải tản cư ra khỏi thành phố, thường về các tỉnh. Trường nhạc họa của thành phố được ưu tiên tản cư ra ở… ngay Quảng Bá, bên Hồ Tây! Hà nội cỏn con, hết đường Cổ Ngư đã là hết nội thành, đường xe điện cũng kết thúc ở đó, bến Yên Phụ. Ăn ở tại trường, chiều thứ bảy bọn trẻ trường này được về nhà trong phố, nếu bố mẹ không dặn đón thì chúng tự cuốc bộ với nhau ra đến tận Yên Phụ để lấy tàu điện chạy về Cửa Nam, về Bờ Hồ… Trường đặt ở chỗ « dốc phi lao » của đường đê, cái dốc duy nhất có hàng cây phi lao của Quảng Bá, và trong những cây phi lao ấy có loài châu chấu voi đặc biệt, to bằng bàn tay trẻ con, rất đáng kính nể. Nay thì con dốc này đã thành ra một con phố nội đô, giá mà nó được đặt tên thật giản dị, ví dụ như lấy tên đường làng cũ của nơi đó, hoặc là « Dốc phi lao », thì sẽ gợi cảm, gợi nhớ biết bao nhiêu. Sao người ta cứ mải mê dán hết tên người này với tên người nọ vào những chỗ như thế, để mà làm gì, để làm hỏng hết các kỉ niệm của đời sống? Đường đi trên đê trước khi xuống con dốc ấy rậm rịt những ổi là ổi, ngút ngát, thơm tho, thời đó chưa có đường đê ngoài như bây giờ. Những làng quanh đó thì tuyệt đẹp, các ao ngòi, vườn hoa, vườn quả thông nối sang nhau, tha hồ lang thang. Muốn mua hoa quả, khách mua nhiều khi phải đánh thức chủ nhà đang ngủ trưa thức dậy, để họ mang sào ra vặn trẩy quả. Đi quá Quảng Bá thì đã là những cánh đồng làng quê Nhật Tân, Phú Thượng, Chèm Vẽ đìu hiu yên ả. Trường văn hóa thể thao của thành phố thì ở chỗ Quần Ngựa, cuối đường Đội Cấn, đã là đủ tiêu chuẩn tản cư. Dọc đường Đội Cấn đi từ trung tâm thành phố đến Quần Ngựa, chỉ thấy các làng, hồ nước, ruộng rau, và các đầm sen thơm ngát. Nay thì cả vùng này đã lọt thỏm trong « trung tâm nội đô mới » của Hànội.

Phố phường Hànội còn rất vắng dân cư, còn chưa chuyển sang « làm việc thông tầm ». Buổi trưa tan tầm người đi làm còn kịp đạp xe về nhà, đắp lò mùn cưa, dóm lửa bếp củi, vo gạo thổi cơm, dọn mâm ăn uống, cả ngủ trưa chớp nhoáng nữa, để rồi mới lại đạp xe đi làm buổi chiều. Trẻ con thường mê đắp lò mùn cưa cho bố mẹ : đặt cái chai thủy tinh vào giữa cái lò tôn sắt, như một cái xô nhỏ, nhồi lèn mùn cưa xung quanh cái lọ, trích mở lấy bớt mùn cưa qua « cửa lò» ở phía dưới cho thông khí vào tới tận cái thân chai, rồi nhẹ rút cái chai ra. Cả một tác phẩm nghệ thuật !

Thời đó cả Hànội, mà cũng là cả phía Bắc, chỉ có đúng ba tờ báo hàng ngày, mỗi tờ bốn trang, các trang nhất giống hệt nhau, các nửa trên của trang thứ tư « Tin thế giới » cũng giống hệt nhau luôn, nhiều chỗ ở trên các trang hai, trang ba là những đoạn đăng « tiếp theo… » của các bài của trang nhất và trang bốn… Nội dung bản sắc của mỗi tờ báo chỉ còn đặt cược được ở những chỗ trống còn lại. Tờ báo tuy giá 5 xu, một đồng là mười hào, là một trăm xu, nhưng người nghèo muốn đọc báo không mất tiền thì… đạp xe hay cuốc bộ ra chỗ tòa báo !

Các ngày thứ hai liền sau ngày chủ nhật có trận bóng đá, dân nghèo nghiện bóng chen nhau ở trước cửa của tòa báo thành phố để đọc trang cuối của tờ báo thành phố, dán ở trong cái hộp gỗ có mái che, phía trước có cửa bọc lưới sắt mắt cáo, toét cả mắt để đọc xuyên thủng qua được cái lưới này. Hồi đầu cửa hộp gỗ này lắp kính, nhưng hay bị vỡ, nên rồi mới chuyển sang lưới mắt cáo thông minh. Số báo ngày thứ hai này sẽ có mẩu bài, may mắn thêm nữa thì có tấm ảnh, tường thuật lại trận bóng đá buổi chiều chủ nhật trước đó, từng lời lẽ rất căn đo để lường trước các cơn ganh tị của các fan của hai đội tham đấu. Sáng ngày chủ nhật nếu bạn rỗi rãi thì có gì thả bộ ghé vào sân Câu lạc bộ ở ven Bờ Hồ cạnh nhà hàng Phú Gia, ngồi ở các bậc khán giả ngoài sân có có cây cao tỏa bóng mát, dự trận đấu giải cờ tướng. « Bên trắng, tốt ba tiến một », tiếng loa phát ra, người phụ trách bàn cờ lớn loay hoay dịch con « Tốt » vĩ đại trên cái bảng cờ treo chỗ sân khấu. Một ván cờ đi luôn cả một buổi sáng trong cơn thảo luận mưu tướng mẹo sĩ say sưa của khán giả, chả ai thấy sốt ruột.

Hôm nay, còn tìm ra được ai có cái tinh thần « không chống cự lại thời gian » như thế ở Hànội được nữa không ? Không thể còn được.

Cảm xúc con người đã đổi thay, vũ bão. Tết không thay đổi được chăng ?

Cuốn phim Tết xưa

Hồi nhỏ mỗi khi đi đâu, dẫu chỉ trong vài ngày, rồi trở về Hànội qua cây cầu Long Biên lượn khúc thanh thoát trên những con sóng sông Hồng ngậm đỏ phù sa đang nghì ngoạp mãi sâu tít dưới kia, lòng tôi thoắt se lại, thiêng liêng, tự nhủ mình rằng, không bao giờ, không bao giờ tôi sẽ xa được Hànội. Nơi yêu thương này, có xóm giềng, có bè bạn, từ thuở lọt lòng. Vẫn chuyện năm nọ cái trường tản cư ở Quảng Bá rồi bị ngập mưa lớn kéo dài, mà đã sang nửa sau của năm học, tình thế Hànội thì đã yên ổn hết lo đạn bom, trường này thế nào được đặc cách về giảng dạy học tập tạm ngay tại… bên trong khu Văn Miếu ! Dãy nhà này, tổ violon, tổ violoncelle, dãy nhà kia, tổ sáo, tổ nhị, dãy nhà nữa, tổ hội họa, tổ piano… Ngẫu nhiên vô cùng được làm « những học sinh cuối cùng của Văn Miếu », trong nửa năm trời! Lúc này các trường học bình thường khác vẫn chưa được mở trở lại ở Hànội. Thật là một Hànội vô cùng « của ta ».

Hànội trở về thanh bình, sau nhiều năm thời chiến trống vắng. Trong éo le thời cuộc cũng có cả may mắn, suốt mấy chục năm trời thành phố này hầu như không có chút thay đổi gì về kiến trúc nhà cửa, phố xá, chúng chỉ bị cũ kĩ đi, cổ kính thêm đi, và cư dân thì « ở đâu ở đó », không được xáo trộn. Tất cả điều này cho những người trong cuộc có một không gian-thời gian vô cùng đặc biệt, đầy định hình, định sắc, định tâm của một thành phố rất « của mình ».

Nhiều buổi trưa tan học về, bạn bè mấy đứa kéo nhau ra thuê thuyền đôi ở Hồ Gươm, chèo bơi say nắng, leo cả lên đảo Tháp Rùa cho thỏa lòng hiếu kì. Hànội bé bỏng, con đường mình đi học không bao giờ cần phải có mũ nón áo mưa, nhờ những mái hiên rộng rãi tuyệt vời chạy suốt từ Khách sạn Métropole, rồi dọc Tràng Tiền, rồi lượn sang Hàng Bài cho đến ngay gần cổng trường. Mấy tấm pano vẽ quảng cáo phim ở ba cái rạp chiếu phim trên đoạn đường này luôn thời sự hóa cho mình tình hình phim ảnh, mê phim gì quá thì khi tan học ghé qua mua vé luôn. Mấy tiệm sách « Quốc Văn », « Ngoại Văn » trên đoạn đường này cho mình rành rọt các đầu sách vở mới, cứ như thành trí thức đến nơi. Hànội quen chân, cảm như thuộc từng viên gạch lát ở các vỉa hè, từng cây sấu mùa về quả chín vàng đỏ trên các con phố. Hànội quen tai, từng âm thanh bánh xe điện rít lên những cung điệu rất riêng biệt ở mỗi cung đường, ngồi trên xe điện nhắm mắt lơ mơ mà mình cũng đã biết rõ ràng là mình đang phố nào, chỗ nào…

Thế mà rồi cũng như bao nhiêu người, tôi phải đi xa khỏi Hànội… Để cho lòng mình càng ắp đầy thương nhớ.

Nói nhớ Tết, ngẫm nghĩ kĩ hơn, thực ra nay đã là nhớ những cái Tết ở trong kỉ niệm. Chúng là những thước phim tư liệu tỉ mỉ, rung cảm, lắng sâu, niêm phong kĩ càng ở những tầng vỉa đâu đó sâu bên trong tâm hồn, trong ấy có hình ảnh xưa, có con người xưa, có xúc cảm xưa, có những cái Tết xưa thật là nguyên vẹn, đến mức như chúng chỉ chờ mình có thời dịp để tháo rỡ chúng ra, nhớ phải thật nắn nót kẻo mà hỏng vỡ, và đem chiếu chúng lên, cho mình, cho mọi người cùng chia sẻ.

Có lẽ cũng vì thế, nhiều khi lại sợ những thước phim kỉ niệm nọ bị hỏng mất, bị lẫn lộn mất, bị nhạt nhòa mất, khi mà mình mãi vẫn bận rộn, chưa có dịp nào để kịp khảo hồi chúng chu đáo, để đặt lại được nguyên vẹn chúng vào các chất liệu bền vững của « hiện thực bên này ». Bây giờ nếu Tết về gặp lại người xưa từng ở trong Tết xưa, mà họ đã quá khác với xưa ? Bây giờ nếu Tết về gặp lại người xưa từng ở trong Tết xưa, nhỡ họ lại cảm xúc xa lạ với cái cách mà họ vẫn cảm xúc khi xưa ? Bây giờ nếu Tết về gặp lại bức tranh phố phường ngày Tết đà quá khác khi xưa ?

Mà chính tôi đây, có gì để bảo đảm được đâu rằng tôi vẫn như xưa, vẫn xúc cảm như xưa khi Tết Hànội về ?

Nên vấn vương vừa nãy là thực tế hơn hết, trước khi thành quá muộn.

 Khi mà mình vẫn mãi bận rộn, chưa có dịp nào để kịp đặt lại được nguyên vẹn chúng vào các chất liệu bền vững của « hiện thực bên này »…

Tia Sáng

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 96 other followers