RSS Feed

Tag Archives: “triet hoc”

Chuyện gọi tên phố, tên phường, tên…



Bài trên Tiền Phong

 

Quảng Trường trung tâm lớn nhất ở Paris, nơi dựng lễ đài chủ tọa cho các cuộc diễu hành ngày Quốc Lễ thì nay hầu như ai cũng đã biết đến, ít ra là qua vô tuyến truyền hình. Quảng trường Concorde, « Hòa Hợp », nơi kết thúc vườn Tuileries và mở ra đại lộ Champs-Elysées, đại lộ được nhiều người cho là đẹp nhất thế giới.

Những người thấp thỏm nhất cho buổi diễu hành ngày Quốc Lễ này là những cô gái và các chàng trai đã đỗ được vào trường Polytechnique danh giá hàng đầu nước Pháp hai năm trước, mà rồi chỉ đến ít ngày trước đó, một số trong họ mới được chính thức gọi tên để tham gia lễ diễu hành « duy nhất trong đời người ». Theo truyền thống, nhóm Polytechnique được đi trong đội đầu tiên của buổi lễ long trọng này. « duy nhất trong đời người ».

Tiện nói, chữ “Quốc lễ” dùng ở đây cho chữ “Fête Nationale”, “Ngày Hội của Dân tộc” của nước Pháp, để tự cẩn thận với chữ “Quốc Khánh” đã quá quen được dùng theo nghĩa nôm na ở ta như là “Ngày Lập nước”! Đây là thói quen vị kỉ nhiễm từ các triều đình Trung Hoa, rằng khi dòng họ nào lên thì họ được coi là người dựng nước lại từ đầu, kể cả tính lại lịch làm năm thứ nhất luôn!

Nhân tên trường “Polytechnique”, không gọi là « Trường Bách Khoa ». Trường Polytechnique ở Pháp là một trường duy nhất, tên gọi đó là một thương hiệu, chỉ có một, và không được phép « dịch ». Cũng vậy, trường « Ecole Normale Supérieure » là một thương hiệu, một trường duy nhất trứ danh hàng đầu của nước Pháp, chớ dịch « Trường Sư Phạm ». Dịch một thương hiệu là phá tan một thương hiệu, và người ta biết ngay là mình « gà mờ » về nó.

Việc gọi tên, chỉ có thế thôi, đã là cả câu chuyện để rèn luyện tư duy. Hơn bao giờ hết, sự chuẩn xác ngày nay là mệnh lệnh của tư duy, phải rèn luyện.

Quảng trường Concorde này đã chịu mang rất nhiều thứ tên gọi thăng trầm theo lịch sử. Được nhà kiến trúc Jacques Anges Gabriel cho xây dựng từ 1754 đến 1763 dưới thời Louis XV, quảng trường này liền đó mang tên… Louis XV. Đến thời cách mạng Pháp, quảng trường này được đổi tên thành « Révolution », « Cách mạng », và là nơi phải chứng kiến rất nhiều cuộc hành quyết hãi hùng : Louis XVI, Marie-Antoinette, Danton, Robespierre, và rồi 2800 người khác trong những năm từ 1793 đến 1795 ! Sau đó tên nó được chuyển về lại thành« Concorde », rồi lại về hẳn « Louis XV », chưa hết, lại thành « Louis XVI », tiếp đó thành « Charte », « Hiến Chương », và cuối cùng mang lại tên « Concorde ». Chữ Concorde, « Hòa Hợp », được mọi người rốt cuộc chấp nhận yên ả hơn cả cho đến hôm nay. Cũng là điều để suy ngẫm.

Cái truyền thống lấy tên riêng của các cá nhân nổi tiếng để đặt cho các địa danh ở nước Pháp là một truyền thống khá bị lạm dụng. Mặt tích cực là sự ghi ơn những người đã đóng góp cho sự phát triển lịch sử, khoa học, văn hóa, nhưng mặt tiêu cực khi bị lạm dụng là trong nhiều trường hợp chúng làm người ta mất đi các địa danh lịch sử. Mà các địa danh lịch sử là một sự gìn giữ quý báu của các thế hệ con người qua hàng trăm, có khi qua hàng ngàn năm, để người đời sau có được vết tích lịch sử. Phải rất trân trọng những địa danh đã có hàng trăm hay hàng ngàn năm lịch sử, nếu không chúng ta và con cháu sẽ là những thế hệ mồ côi về lịch sử.

Tất nhiên nếu một cụm khu phố được dựng nên ở một khu rừng xưa, hay nơi vốn đồng không mông quạnh, thì việc đặt tên mới cho các con phố mới ở trong đó là điều khả dĩ. Và trong nhiều trường hợp người ta bắt đầu có sáng kiến.

Chẳng hạn một khu công sở ở ngoại thành, người ta lấy tên các nước bắc Đại Tây Dương làm các trục phố : Đại lộ Canada, Đại lộ Québec, Đại lộ Nauy, Đại lộ Scandinavie… Khi bạn chạy xe qua những con phố này, lòng bạn tự nhiên thấy mênh mang hơn, như mình đang khám phá miền bắc bán cầu vậy. Nhân tiện đây cũng thấy ở ta lạm chữ « công viên » khi nói đến một « khu công viên công nghệ ». Chữ « Park » Âu Mỹ dùng để chỉ một tổ hợp nào đó, trong đó « công viên cây xanh » chỉ là một trường hợp. Vậy trong trường hợp khu công nghệ hay khu buôn bán, ví dụ « khu công nghệ phần mềm » thì hà cớ gì phải gọi ngọng ngô thành « công viên phần mềm» trong tiếng Việt?

Việc biết lấy tên gọi của những nước khác, những miền khác trên thế giới cho các địa danh cũng làm cho lòng người mở mang rộng rãi hơn, bớt đi cái thói quen bẩm sinh khư khư lấy mình làm trung tâm. Hãy hình dung ở một khu mới xây dựng đẹp đẽ nào đó ở xứ mình, bạn lấy một loạt tên thủ đô các nước đặt vào : Quảng Trường Washington, Đại lộ Bắc Kinh, Vườn Tokyo, Cầu London, Nhà ga Moscow, Tháp Hà nội, Cảng xe Bankok… Điều đó sẽ làm lòng mình thênh thang thêm, và ta nhìn các dân tộc bạn bè gần gũi hơn lên.

Không chỉ những cụm đường phố, mà các tòa nhà lớn cũng vậy, chúng là những định hướng địa chí trong đời sống. Nếu có một loạt tòa nhà lớn mọc lên ở một khu vực, việc lựa chọn một cụm tên cho chúng có thể trở nên rất thú vị, ví dụ lấy bộ tên các đảo của đất Việt đặt cho chúng, những Tòa Bạch Long Vĩ, Tòa Cát Bà, Tòa Cồn Cỏ, Tòa Hoàng Sa, Tòa Trường Sa, Tòa Côn Đảo, Tòa Phú Quốc…

Sự bay bổng của tư duy như thế đánh thức đời sống cộng đồng. Phải luôn tìm cách ra khỏi những công thức đã cũ mèm, dù chúng đã từng là hay đi nữa, bởi chỉ có như thế cuộc sống mới được thúc giục mở mang, sáng tạo, và đầy ắp những niềm vui mới.

Cuộc sống của con người tiến lên được không phải nhờ những lý sự ngặt nghèo trong những công thức xơ cũ. Mà là ở sự tưởng tượng sáng tạo đột phá.

Đó là tiếng gọi của ngày hôm nay đến với mỗi chúng ta./.

Lý tưởng bình thiên hạ

 

Bài trên Tia Sáng

 

Thiên hạ thái bình… Con người còn mong gì hơn thế?

Lý tưởng Khổng giáo của bậc lập chí ở xứ Đông xưa thật rõ ràng : tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Đỉnh cao nhất là thiên hạ thái bình.

Thật trong trẻo, còn gì phải nghi vấn?

Vậy nên ngày hôm nay, nhiều người còn đang mong làm hồi sinh lại thật mạnh mẽ cái lý tưởng này.

—-

Có thể bàn về cái việc đầu tiên, “tu thân”, bằng thiên kinh vạn quyển. Chữ nghĩa tha hồ sáng láng. Mà cũng có thể kết cái việc này lại rất cô đọng trong mấy nguyên lý “cách vật, trí tri, thành ý, chính tâm”.

Việc tu thân, lo sửa mình, theo nghĩa thông thường, tất nhiên là một việc rất thiết yếu trong đời sống thường ngày.

Vấn đề còn lại là tại sao phải sửa mình, và sửa mình theo hướng nào?

Chữ « sửa mình » đã ngụ ý rằng : con người đang sống, đó là một quá trình bị xa rời, bị hư hỏng, bị trật khỏi nguyên mẫu, cần phải luôn luôn níu kéo, uốn nắn, chỉnh gọt lại mình.

Con người của Khổng giáo không có lựa chọn : phải sửa mình theo khuôn mẫu của thánh hiền.

Thánh hiền trừu tượng quá? Thì Vua Phương Đông chính là hiện thân trực diện nhất, cao nhất của thánh hiền. Vua Phương Đông là toàn quyền, toàn năng. Vua nắm trọn thế quyền : lập pháp, hành pháp, tư pháp, toàn dân là nô dân. Vua nắm trọn thần quyền : thực thi chức năng giáo chủ, toàn quyền diễn giải giáo lý, và toàn dân phải là thần dân.

Điều căn bản nhất trong “tu thân” là gì? Là phủ nhận tự do của cá nhân con người và của xã hội, phủ nhận khám phá, phủ nhận sáng tạo, phủ nhận lý tưởng nhân văn, phủ nhận tiến hóa.

Dưới mẫu vua thì người ta có các quan to, rồi quan nhỡ, quan nhỏ.

Tu thân, căn bản nhất, là để mình đừng đi trật ra khỏi cái khuôn quyền chính của xã hội Khổng giáo.

—-

Tiến lên một bước, bậc quân tử lo tề gia.

Sắp xếp việc nhà “đâu ra đấy” thì là lẽ hay thông dụng. Nhưng việc quan trọng nhất của tề gia cũng là để cái nhà mình đừng đi trật ra khỏi cái khuôn quyền chính của xã hội Khổng giáo.

Trong tề gia, « người quân tử » có cái lợi thế riêng là mình được đứng ngôi vua trong nhà, còn đàn năm thê bảy thiếp cùng con cháu thì chính là bày tôi của mình. Trong nhà, người quân tử làm vua, còn thê thiếp con cháu làm nô dân, thần dân.

Cái thế mạnh nhất của lý thuyết Khổng giáo là tính cực giản. Tất cả các quan hệ xã hội chỉ cần quy về ba giềng mối chính yếu : vua tôi, cha con, chồng vợ, gọi là tam cương.

Ba mối quan hệ này lại được cực giản hóa một lần nữa : sự thống trị một chiều tuyệt đối của vua với tôi, cha với con, chồng với vợ. Tuyệt đối là gì ? Là vua xử tôi chết : tôi phải chết, cha xử con chết : con phải chết, chồng hô việc gì : vợ phải rắp theo. Cái đó là trung, là hiếu, là tiết.

Thực chất Khổng giáo phủ nhận các quan hệ xã hội ! Nói khác đi, Khổng giáo cấm xã hội và con người tự do tồn tại.

Sau này đôi lúc tam cương được mở rộng thêm ra thành ngũ thường, bằng cách kết nạp thêm vào hai quan hệ phụ là anh em, bạn bè. Anh thống trị em, vậy nên khi nói kết nghĩa anh em, thì nên làm rõ ai là anh, ai là em, để còn biết ai trị ai!

Tính cực giản này cho thấy một tinh thần lý thuyết cực đoan được bồi đắp ngự trị qua hàng ngàn năm trong tư duy và trong các giá trị xã hội xứ Đông ! Thực chất Khổng giáo không cần hiểu biết và bất chấp con người, không cần hiểu biết và bất chấp xã hội với các cách thức tổ chức cùng vận hành của nó. Khổng giáo chỉ nhăm nhăm lo áp đặt « tam cương », giáo hóa tam cương để cúc cung phụng sự quyền thế mà thôi.

Nếu hôm nay mà ai đó bảo rằng người dân xứ Đông đã ra khỏi hoàn toàn được cái tinh thần Khổng giáo cực đoan này, xin người đó hãy tự sờ lại gáy mình.

—-

Tiến lên bước nữa, lo trị quốc, để rồi lo bình thiên hạ.

Khổng giáo coi thiên hạ như là một khu rừng nguyên sinh. Những mảnh đất rừng đã được khai phá làm thành những thành bang có chủ.

Phải có sức mạnh để chiếm được bờ cõi, giữ được bờ cõi, và mở rộng được bờ cõi của mình trong thiên hạ.

Việc trị quốc như vậy gắn liền với việc bình thiên hạ, tùy theo sức mình. Chúng là hai nhiệm vụ chiến lược song song.

Trị quốc, là để mọi quyền lực về tay triều đình một cách tuyệt đối, và để giáo hóa cái hệ tư tưởng Khổng giáo cực giản của mình ngày một thấm đẫm vào người dân cũ mới.

Người dân là của thiên hạ, và bị chiếm đoạt được như một nguồn lợi tức, một nguồn tài sản. Trị dân xứ mình, giáo hóa dân xứ mình, hay trị dân xứ mình mới chiếm đoạt được, giáo hóa họ, về bản chất là như nhau. Không ai lại đi đặt vấn đề dân chủ, quyền lực xã hội-chính trị đến từ người dân cũ hay dân mới ở đây cả ! Vua quan Khổng giáo cai trị dân mình với tâm thế của những kẻ đang chiếm đóng.

Lý tưởng bình thiên hạ như thế chỉ là để mở việc trị quốc rộng ra tới vô cùng.

Cho nên nếu việc trị quốc đã yên được vài năm thì lại phải lo mở rộng lãnh thổ, chiếm thêm dân, như thế gọi là quá trình « bình thiên hạ ».

Chiếm đoạt, cướp bóc lãnh thổ, tài sản, và con người là phương pháp đương nhiên trong quá trình bình thiên hạ này. Không có gì lạ khi một chí sĩ có thể khuyên vua thản nhiên như « tiên sinh nọ là một kẻ đại tài, bệ hạ nên dùng ông ấy vào việc lớn. Còn nếu không dùng được ông ấy, thì bệ hạ nên giết người đó đi, kẻo rồi có ngày người khác dùng ông ấy mất».

—-

Khổng giáo không đặt vấn đề « tinh thần dân tộc » hay « tinh thần quốc tế ». Khổng giáo quan tâm « chủ nghĩa thiên hạ ».

Lý tưởng “bình thiên hạ” diễn chữ hôm nay thì chỉ đơn giản là lý tưởng bành trướng cái quyền chính Khổng giáo cực đoan cực giản, vật chất và tinh thần, trên toàn thiên hạ.

Luyện nhớ, luyện quên

Hết tuần trà, Cụ Hinh hỏi.

- Anh La à, dạo này ta cũng hay quên…

Anh La có lời khuyên gì không?

- Lúc thế này, Cụ Hinh nên cho Anh La vay tiền, để tự thúc mình luyện nhớ.

- Hay quá! Nhưng để ta phải nghĩ thêm…

Ta lo nhỡ làm như thế thì lại hóa thúc Anh La luyện quên…

Trái, phải, giữa

Ông bác sĩ nghe tim Cụ Hinh, đoạn có vẻ suy nghĩ.

- Có gì thì tôi lo, chứ bác sĩ việc gì phải ưu tư vậy?

- Không, tim ông chạy tốt à.

- Thế sao bác sĩ lại ưu tư?

- Vấn đề là tim Cụ Hinh có vẻ lại không nằm bên trái, mà lại nằm ở chính giữa ngực.

- Thế tay trái của bác sĩ đâu?

- Đây, bàn tay đang cầm ống nghe đây.

- Sao bác sĩ biết là tay trái?

- Vì nó nằm cùng bên với tim tôi.

- Chết, thế thì bây giờ làm sao tôi biết được tay nào của tôi là tay trái, khi mà tim tôi ở chính giữa?

- Ôi, Cụ Hinh hỏi thế thì tôi cũng chịu chết luôn!
Thôi, hôm nay tôi cũng không tính tiền khám Cụ Hinh nữa.

Ngu Công hoạch kế

Về làng chơi, Cụ Hinh gặp Ngu Công.

- Chào cụ Ngu Công!
Cụ vẫn khỏe mạnh, giỏi thật!

- Chào Cụ Hinh, cảm ơn, mà nom ngài cũng khí thế nha.

- Thế kế hoạch của cụ vẫn tiến triển đâu vào đấy cả chứ?

- Kế hoạch của tôi nhằm cho thời hạn 1000 năm.
Cho nên tôi cũng túc tắc.

Lo mỗi con bò nhà mình nó trắng răng thôi.

Xét nét Trang Châu

Trang Châu tạt vào uống trà với Cụ Hinh. Hôm nay nom phởn phơ lắm.

Đoạn Trang tủm tỉm hỏi.

- Coi bộ Cụ Hinh thấy Trang Châu là người thế nào?

Cụ Hinh lắc đầu…

- Ta từng nghe ông bảo, xem người thì phải thế này.

Ở xa xem trung
Ở gần xem kính
Giao việc xem tài
Hỏi gấp xem trí
Hẹn ngặt xem tín
Ủy tiền xem nhân
Việc nguy xem tiết
Rượu chè xem tháo
Phiền tạp xem thần

Thú thật, ta có hai cái rất bí để mà làm theo được cái tinh thần của ông.

Thứ nhất, ta bận suốt ngày, sao mà đủ thời gian để đem ông đi thử đủ các ngạch được?

Lại nữa, ta lại chuyên bị kẹt tiền, sao mà có thể “ủy tiền xem nhân” ở ông được?

Nên Trang Châu cho ta khất đã à.

Trang Châu cười ngất.

- Thôi được. Bữa nay ta muốn rủ Cụ Hinh đi ăn tiệm cho vui, ta trả tiền.

Bao giờ ta nhiều tiền, ta cho Cụ Hinh tiền, để rồi Cụ Hinh có thời gian, lại dùng tiền đó đem thử ta, chịu không?

Bớt tới vô vi – hồi hai

Ông Lão Đam có nói thế này.

Việc đời thêm mãi,
Việc đạo bớt mãi,
Bớt rồi, bớt nữa
Bớt tới vô vi.

Cụ Hinh thấy rằng :

“Bớt tới” là rất khó, chứ mà “bớt quá” thì lại hỏng luôn vô vi.

Nên “vô vi” với Cụ Hinh cũng là một thứ lí tưởng thẩm mỹ.

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 107 other followers