Dòng thông tin RSS

Lưu trữ theo thẻ: vhna

Đỉnh cao – V

Bác Tộ mời Cụ Hinh ở lại ăn cơm cho vui, vì bác Tộ gái đang về quê, quạnh cả bếp.

Cụ Hinh giúp bác Tộ bóc mấy gói mỳ ăn liền.

Bác Tộ hỏi.

-”Cụ Hinh à, định lý nào là quan trọng nhất trong triết học?”

-”Ôi bác Tộ, bác hỏi khó quá ạ.”

-”Định lý ‘không có cái gì không dính đến cái gì’.

Nắm được định lý này, không có gì mình không biết liên tưởng, để mà giải thích ra được tất cả.

Cụ Hinh rửa xong chỗ rau muống chưa, để tôi cho vào nồi mì nào. Mà Cụ Hinh nhớ nhặt bỏ hộ mấy cái dây cà bị lẫn vào chỗ dây muống nhé.”


Vănhóa Nghệ-an

Thế nào là “bình thường” – II

Mỵ Châu nghe chuyện, bảo.

-“Em khó hiểu quá, Cụ Hinh à.

Thế rốt cục, cái ‘bình thường xứ Việt’ ấy, được kết lại thành cái gì ạ?”

-“Thành cái cày được đẽo tập thể xong, nằm quay cu lơ, ở giữa đường giữa chợ.”


Vănhóa Nghệ-an

Rõ ràng, với chính mình

HOÀNG Hồng-Minh

Hết tuần trà, cụ Ty mời Cụ Hinh lên gác thăm gian sách của mình.

Cơ man nào là sách. Những bộ sách quí hiếm đã được sưu tầm từ muôn nơi, và thường được bổ sung khá đều đặn. Cụ Hinh cứ dán mãi mắt vào chúng, với những điệp khúc « giá mà » tự vang vọng lên trong đầu mình.

Gian sách rộng rãi, được ngăn vách chia thành từng không gian riêng biệt, theo các lĩnh vực tinh thần khác nhau.

Trong không gian « Chính trị – Xã hội », Cụ Hinh để ý đến những bức tượng nhỏ được bày ở nơi đây.

Xa nhất ở ba góc, đó là các bức tượng các ông Khổng Khâu, Phật, Lão Đam, làm thành một thế chân vạc.

Nhích lên gần hơn về phía trung tâm không gian theo chiều sâu, và nằm so le với các bức tượng Khổng Khâu, Phật, Lão Đam theo đường vành đai, là các bức tượng các ông Marx, Lenin, Stalin, Mao.

Cụ Hinh hỏi.

-”Ý cụ Ty bày tượng các vị này ở không gian này là ra sao ạ?”

-”Tôi nhìn nhận đây là những vị từ xứ ngoài có ảnh hưởng lớn nhất đến tư tưởng chính trị – xã hội Việt, tính vào thời điểm hiện trạng.”

-”Ảnh hưởng của họ lớn đến mức nào ạ?”

-”Rất, rất lớn. Vì họ đã vượt qua được biết bao nhiêu lớp các cửa ải của sự khác biệt về văn hóa, tập tục, để vào được xã hội Việt, và giành được chỗ đứng trong đầu óc của đông đảo người Việt.”

-”Cách cụ Ty bày tượng các vị này ở đây như thế nào ạ?”

-« Tôi bày, và chỉnh theo thời gian, vị trí của các bức tượng theo cảm nhận của tôi về độ ảnh hưởng tinh thần của các vị này trong không gian tinh thần chính trị-xã hội của xã hội Việt.

Độ ảnh hưởng này tôi cảm nhận không phải chỉ từ phía tầng lớp trí thức, hay chỉ từ phía người làm chính trị, mà từ khắp mọi tầng lớp trong xã hội, kể cả từ những người tưởng như cả ngày chỉ lo có chăn trâu cắt cỏ, hay đạp xích lô, hay hành nghề bói toán, hay ngồi vẽ truyền thần, v.v.

Tất nhiên là cảm nhận của tôi mang cả tính chủ quan của riêng mình.»

-”Việc cụ Ty bày tượng các vị này ở đây mang ý nghĩ riêng ra sao ạ?”

-”Để mình luôn luôn ý thức được rõ ràng về các lực hút, lực đẩy từ bên ngoài quan trọng nhất đến với xứ sở, chúng đã và đang có hiệu ứng đến đời sống tinh thần của xứ sở hiện tại ra sao.

Và từ đó mình cố hiểu hơn, ý thức rõ ràng hơn về xã hội của mình, về chính bản thân mình.”./.

 Vănhóa Nghệ-an

Quảng trường Café

Bạn của bạn Uyeen trao chiếc xe máy cho bạn Cụ Hinh để cùng lượn Buônmêthuột tìm quán café, thế rồi cả hai bạn ấy lên xe kia chạy tuốt lên đằng trước. Cụ Hinh gọi với “Thế không sợ mất xe máy à?”, hai bạn cười mỉm, được thể càng phóng vọt lên.

Nhiều hàng café quá, thành ra khó lựa chọn.


#Ảnh HHM

Rốt cuộc thì rồi bạn bè cũng tụ được ở bên tách café. Cụ Hinh được hỏi rằng tự mình cảm thấy thế nào về phố phường cùng café Buônmêthuột.

-”À nếu được phép ‘thể hiện’, thì thế này nhé.

Quảng trường trung tâm thành phố từ rày sẽ lấy tên là Quảng trường Café, và cất cái hình xe tăng ở đó vào nhà bảo tàng.

Quảng trường này sẽ thành ra khu đi bộ.

Vòng quanh quảng trường sẽ là đủ các hàng café mở ra đón muôn người. Nhạc nhẽo của mỗi cửa hàng không được mở to, chỉ thì thầm thôi nghen.

Hàng tuần sẽ tổ chức một hai giờ ca-múa-nhạc-kịch ngoài trời nơi đây, không lấy tiền, và cho mọi người. Ban tổ chức bày sân khấu sẵn thiết bị trang âm, và nhận các đăng kí của các nhóm tự do để tham gia cùng vui chơi.

Hàng năm ở chỗ này sẽ tổ chức đăng quang ‘Nữ hoàng Café’.

Vậy đó, có được không à?”

Hai bạn cười ngất, sánh hết cả café.

Văn hóa Nghệ-an

Chuyện Tết Tây Tết Ta, lịch Tây lịch Ta

HOÀNG Hồng-Minh

Mấy người bạn Việt ở Nhật bữa trước gọi điện thoại chuyện trò. Khi chia tay họ nhắn « có gì đợt nghỉ Tết này sẽ về chơi đấy nhé ». Đúng ngày Noel lại được điện nhắn SMS « tối mai bọn tớ xuống sân bay». Chợt nhớ ra, Tết người Nhật ngày nay là Tết Tây, hoàn toàn, mặc dù trong đời sống thì họ vẫn còn loay hoay vẩn vương chán với món « nam nữ thụ thụ bất thân » ! « Trao nhau, không được gần nhau » ở họ hôm nay dĩ nhiên cũng đã có phần đỡ khe khắt hơn ngày xưa nhiều. « Trao nhau, không được gần nhau » ngày xưa có nghĩa là nếu chàng muốn đưa cho nàng một con châu chấu, thì chàng phải đặt nó lên bàn, rồi lùi lại ra xa, nín thở… để rồi nàng mới tiến lại gần cái bàn đó, rồi bàn tay thon mịn của nàng mới yêu kiều vươn ra phía con châu chấu… khéo đã nhảy tách đi đằng nào.

Nếu câu chuyện đánh đố « trao nhau, không được gần nhau » đã được người Việt giải gần sạch sành sanh, làm hoa mắt người Nhật, thì câu chuyện « ngày Tết chính là Tết Tây » của người Nhật lại làm hoa mắt người Việt xứ ta.

—-

Riêng về môn dùng lịch, người Việt theo chủ nghĩa đa nguyên quyết liệt, từ thường dân cho chí quan trường nước nhà.

Lịch Tây, người Việt dùng nó quanh năm, nhưng nó là « Tây ». Lịch Tàu, người Việt dùng nó đôi khi, nhưng nó là « Ta ». Cái này, phải rất rõ ràng.

Nếu bạn muốn chúc mừng ngày sinh của ai đó, từ trẻ em cho tới các bậc quyền trọng, nhớ nhé, lịch Tây ạ! Không ai lại đi hát « Happy bithday to you », rồi quà cáp, với thổi nến, vào cái ngày sinh lịch Ta của họ cả. Báo chí cũng thế, nếu bạn muốn viết một bài kỉ niệm ngày sinh của các nhân vật quan trọng của thời nay, nhớ nhé, ngày sinh lịch Tây.

Nếu bạn muốn kỉ niệm ngày mất của ai, chỗ này, khác a, phải có triết học. Việc chết ở xứ Việt quan trọng hơn việc sống nhiều, rất nhiều, căn bản. Mình sống, thì làng nhàng thế thôi, mấy ai coi mình ra cái gì. Nhưng sau này, một khi mình đã được cúng giỗ ở trên bàn thờ, ai người ta cũng phải khiếp sợ khí thiêng của mình đấy nhé, một phép! Lúc ấy, thời của mình mới là thực sự là đã đến, dẫu có hơi muộn một tí.

Nếu kỉ niệm ngày mất của người nào trong gia đình ai đó, hãy hỏi họ trước, xem gia đình kỉ niệm người ấy theo lịch gì. Nói chung, kỉ niệm ngày mất theo lịch Ta thì bí hiểm hơn, phải quy đổi, phải bấm ngón tay, phải nhăn trán, không phải ai cũng tính ra ngay được ngày Ta đâu, nên linh thiêng hơn, đốt vàng đốt mã sẽ có nhí nhẽ hơn. Tôi có mấy anh bạn rất trẻ, nhưng đã rất nổi tiếng về các môn xem đất, cắt ngày, đặt tháng, tử vi, tướng học, số học, hậu tri, tiên tri, chỉ không sành lắm về môn hiện tri thôi. Mấy anh ấy lúc uống bia bao giờ cũng nhắn nhe tôi « anh mà trót viết gì về lịch Ta, lơ vơ thôi nhé, kẻo toi đường cơm áo của bọn em ! ». Các nhà quân sư hoạch định, các nhà đánh quả, và kể cả các tay trộm quả, bao giờ cũng phải có lịch Ta trong đầu : làm việc gì, gặp ai, xuất quân lúc nào, chân trái hay chân phải đưa ra trước, lòng lợn-tiết canh vịt-thịt chó lúc nào… nhất cử nhất động phải chiểu theo lịch Ta, quên nó, là y như rằng mất dép.

Nhưng không thể có quy tắc « một ăn một » ở đây đâu. Dễ thế, thì viết bài này làm gì.

Ngày mất của một nhà blogger hiện đại, phải lịch Tây nhé, lịch Ta thì còn quái gì tính hiện đại. Thế còn viết một bài báo để kỉ niệm ngày mất của các nhân vật quan trọng của thời nay, nhớ nhé, gọi điện hỏi ông chủ hay bà chủ của tòa báo trước, để họ còn kịp xin ý kiến lên trên nữa, xem rằng với nhân vật ấy, thì kỉ niệm ngày mất theo lịch gì. Tây ạ, hay Ta ạ, hay cả hai ạ?

Các ngày kỉ niệm các sự kiện lịch sử thì thế nào bây giờ? Lịch sử của chúng ta, về lịch học, tôi chia làm hai giai đoạn. Giai đoạn Âm Sử, theo lịch Ta, và giai đoạn Dương Sử, theo lịch Tây.

Ranh giới giữa hai giai đoạn này, thì phải biết áng chừng, thông minh là ở chỗ này. Chả có cách nào khác.

Ngày Quang Trung đại phá quân Thanh, ngày Âm. Ngày quân Pháp nổ súng vào thành Hànội, ngày ấy, vừa Âm, vừa Dương, tùy từng chi tiết bên phía Tây phía Ta. Ngày kí hiệp định Paris về Việtnam, ngày Dương. Ngày các cụ già Thanh Hóa dùng súng trường bắn rơi máy bay vào ban đêm, không viết ngày Âm đâu nhé.

Phức tạp đến như thế, nhưng có chí, thì nên, người Việt vận hành thành thạo cả hai cái lịch Tây Ta này, thành một cái lịch đa nguyên luận trôi chảy, chẳng thấy ai chết vì như thế cả.

Cứ bắt đầu từ mười lăm tháng Chạp lịch Ta trở đi (các bạn trẻ, kể cả tôi, rất hay nhầm tháng Chạp lịch Ta với tháng Mười-hai của lịch Tây đấy nhé), cả cái xã hội Việt bỗng quay ngoắt trở về sống với lịch của hàng trăm năm trước đó ! Mấy vị người Tây ở xứ Ta vào mấy ngày này bị mất toi phương hướng hoàn toàn, chuyện thường. Sau một hồi khó chịu, lại thấy cũng hay hay.

Các nhân viên của các công sở bắt đầu chơi trò đếm thuận, nhưng tính ngược, xem còn bao nhiêu ngày nữa thì là Tết ? Càng ở cơ quan to, công việc càng thoáng, đếm tính càng hăng. Thỉnh thoảng cũng nhầm với nhau, phút chốc thành tiểu hội nghị khoa học. Còn hơn là ngồi không.

Mà thế thật. Lòng người bỗng cứ thoáng dần, nhẹ dần. Rồi lâng lâng.

Mình chợt thoát ra khỏi được cái lịch làm ăn lam lũ quanh năm, cái lịch Tây khốn kiếp nó quản thúc đời mình. Mình được thả hồn với ngày tháng phiêu diêu từ ngàn xưa vọng về. Cái lịch Ta nay chỉ quản có lễ hội với Tết nhất, đáng yêu làm sao.

Ngoài hai mươi Tết trở đi, chôn quên hẳn đi cái lịch Tây man di trói buộc nọ. Hai mươi mấy Tết thì về quê nhỉ? Hai mươi mấy Tết thì lo xong nếp đỗ thịt củi ? Lá dong, cô bạn đáng yêu vẫn còn « nửa thụ thụ bất thân » đã nhất định « anh cứ buồn cười, để em lo !», vậy mà chưa thấy đâu… Chuyện nhỏ, phải khéo, lôi thôi, thành chuyện to bây giờ… Trước ba mươi mà gói xong bánh, thì đỡ cập rập bao nhiêu. Sắp ba mươi… tối về nhớ phải cài then chốt cửa cho kĩ à, mấy bác khách trộm là rất rành lịch Ta, rất thích dịp đêm ba mươi đấy. Ôi, giá mà được đốt bánh pháo đêm ba mươi này nhỉ ? Chỉ tại cái dân mình, nhẹ nghĩ, ưa nặng, hễ làm được gì, là lại tí toáy lạm dụng cho bằng chết thôi? Không vươn đến tự quản nổi, thì rồi khắc bị người ta quản cho, điên thế cơ chứ. « Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh », ngày xưa tuyệt thế… Bây giờ, thôi thì, « Cây nêu, lịch cũ, bánh chưng xanh » vậy.

Ngọn gió Giao thừa lặng lẽ ùa về trên đầu ngọn tre ngoài ngõ. Nhìn quanh, cái gì cũng cũ. Nhưng lòng mình chợt thoáng tươi mới lại, không nhiều, chút ít, vẫn có. Vẫn thế.

Sáng mồng Một, lặng lẽ, tinh tươm. Mùi rơm ẩm sương ở góc vườn quyện đọng hơn, thân thương hơn ngày thường. Như tờ giấy trắng được mở ra, chẳng nỡ viết điều gì phiền muội. Con gà trống khoác lác đã kịp gân cổ gáy, giành oai quyền báo Mặt Trời của năm Ta đã dậy. Siêu nước dưới nhà chợt cất tiếng reo, giục trà mau mau vào ấm.

Hượm cái đã nào…

« Con gà gáy báo Năm Ta,

Siêu nước dưới nhà giã giục trà Ta.

Bồi hồi bóc tờ lịch Ta,

Ngày nào Đất Nước đủ đà bay lên ? »

# Văn hóa Nghệ-an

Năm này, đón Tết ở đâu ?

HOÀNG Hồng Minh – Bản  đầy đủ

Năm hết… Xe pháo, tàu bò, tàu bay sạch vé. Người người về nhà về quê đón Tết…

Làng nước

Cũng là mới đây thôi, đa phần dân chúng ta chỉ sống ở trong làng. Ra khỏi làng là một cú rơi tự do, « sảy nhà ra thất nghiệp ». Những ai phải rời khỏi làng để đi nơi khác kiếm sống được coi là những người cùng khổ, những người phải “tha phương cầu thực“, mò đi nơi xa lạ để mong tìm ra cái để ăn.

Rời khỏi làng để đi kiếm sống còn có nghĩa là kẻ phải chịu nhục, tựa như bị làng đào thải, trừ chuyện đàn bà con gái phải đi lấy chồng ở làng bên, và vài ngoại lệ khác… Vậy thì ngày Tết, ngày giỗ, ngày đám vui, ngày đám buồn, những người tha phương phải sống chết mà về được làng mình, thỏa được tình cảm đã đành, mà cũng để cứu lại được cái danh giá giữa làng của mình.

Trường hợp duy nhất ra khỏi làng mà lại càng được danh giá, là nấu kinh thi đỗ, rồi được bổ ra làm quan ở nơi xa. Nhưng cái danh lớn nhất, thì vẫn nằm chờ đó ở làng mình. Thi đỗ, phải về được làng, vinh quy bái tổ. Làm quan to, về làng mới thỏa oai, về làng mua nhà, mua ruộng, dựng lại nhà thờ họ mình ở làng cho thật lớn tướng, át họ người. Bị bãi quan, thì « về vườn », gieo vần thanh tao, vui thú ở quê nhà. Chết, thì có gò cao mả sang ở quê quán.

Những chuyện này còn nguyên dấu ấn trong nền hành chính của xứ Việt đến tận hôm nay. Cái thẻ chứng minh thư của người Việt ngoài mục “nơi sinh” lại vẫn còn cả mục “quê quán” hay « nguyên quán » ! Nhiều người không biết khai ra làm sao, phải cố vác quê quán của ông bà cụ kị ra mà điền vào. Rồi các bản khai “lý lịch” cũng có cái mục oái oăm tương tự như thế. Khai, thì cứ khai, trong khi nhiều người từ bé sinh ra đến gần già mà cũng chưa có dịp nào được biết đến cái mặt “quê quán” xa tắp « của mình » ra sao, vì quê quán họ vừa xa xôi, mà cũng không còn ai thật sự quen thuộc nơi đó. Khai như thế, khai cho tập tục, khai cho ngành an ninh thỏa chí tò mò.

Guồng sống phường phố

Dần dà công cuộc đô thị hóa, đặc biệt là cơn lụt đô thị hóa từ những năm « cởi trói » 1990 trở lại đây, đã đưa đa số người Việt hôm nay rời khỏi làng xóm, cuốn vào guồng sống đô thị. Đó là kết quả của sự tự do hóa đi lại, tự do hóa cư trú, tự do hóa làm ăn. Dĩ nhiên thôi. Có điều việc này không được nghiên cứu, không được quy hoạch, không có sự chuẩn bị của xã hội về rất nhiều mặt, đặc biệt là về chính cái mà ít người nghĩ đến nhất – về văn hóa.

Việc rời khỏi làng ra phường phố sống trở thành dòng chuyển đổi phổ quát, nhưng con người của thời kì chuyển tiếp này lại không dứt được ra khỏi hệ thống của những tập tục xóm làng, và cũng không được ai giúp đỡ.

Khổ cực hơn thế nữa, con người ra đến phường phố hôm nay phải chịu mấy chục cái làng chồng chất lên đời sống của mình!

Vì mới bắt đầu đời sống đô thị trong ngay cuộc đời mình, hay đời bố mẹ mình,  cái làng quê cũ của số rất đông con người phường phố vẫn còn nguyên vẹn đó, với bao nhiêu gắn bó hiện thực. Nói hiện thực, là vì người của đại gia đình còn ở đó, họ hàng còn ở đó, nhà cửa ruộng vườn, tức là tiền nong có khi còn đó, các tập tục, trách nhiệm, quyền lợi, bổn phận, danh dự… vẫn còn ở đó. Cụ thể nhất là số đông con người phường phố vẫn phải quan tâm đến những chuyện ốm đau, ma chay, cưới xin ở chính những làng quê cũ của mình .

Và hệ thống các thói quen tập tục làng xóm lại bén rễ ngay lập tức, sinh sôi nảy nở um tùm trong cái đời sống đô thị non nớt hôm nay.

Các cụm dân cư đô thị mới vẫn quá quen với cách sống xóm làng. Ngay đường phố nơi đây chưa phải đã hoàn toàn đã là của “công cộng”, mà là của « phường làng phố làng », nơi mà ai lấn được việc gì thì… cứ cố xem sao. Vỉa hè phía trước nhà mình thì phải là… « nửa phần của nhà mình rồi ». Nếu bạn thấy ai đó mang cái thuổng sắt nhà mình bị cong queo ra phố, cho vào khe cột điện ngoài đường gần nhà mình để uốn cho cong… luôn cái cột điện này, thì cũng là chuyện « thường ». Tôi nhớ chuyện một người bạn Pháp ở Paris đã gắn vào cổng nhà mình cái biển báo mua sẵn, trên đó in “cấm đậu xe, chỗ ôtô ra vào garage, theo điều luật số…”. Rồi một hôm vội việc, anh ta đậu xe trước cổng nhà mình và chạy lên nhà. Công an đi qua, và họ cài luôn cái giấy phạt vào xe (của chủ nhà) đậu ở đó, đúng nguyên tắc phố phường là nơi của công cộng.

Sinh hoạt làng xóm ở phường phố của ta còn thể hiện rất rõ ở cái loa phường thay cho anh mõ ngày xưa, cứ đến giờ là ra rả, bất chấp đô với chả thị, ta với chả tây. Ông giám đốc trung tâm văn hóa Pháp ở ngay cạnh Nhà hát Opéra Hà nội cứ năm giờ chiều là nhăn nhó mặt mày bịt tai với đám loa phường sang sảng.

Vậy là ra phố phường ở, tưởng đã được giải phóng khỏi làng cũ, lại hóa nợ thêm một cái làng ở phường phố để bạn phải quan tâm, kể cả những chuyện ốm đau, ma chay, cưới xin của hàng xóm.

Họ hàng của bạn ở các nơi khác nhau trong thành phố, thêm một cái làng siêu thực khác, bạn cũng phải quan tâm. Ai nói « bán anh em xa », cứ việc nói cho đủ mẽ triết lý nhé, chuyện đâu có dễ. Bạn lại phải quan tâm đến những chuyện ốm đau, ma chay, cưới xin của cái làng đây.

Bao nhiêu lớp học khác nhau, từ mẫu giáo, rồi tiểu học, rồi trung học, có khi rồi đại học, rồi siêu đại học, rồi lại các lớp tập huấn tư tưởng, tập huấn ngành nghề… Mỗi cái lớp này, cũng thành những cái làng. Bạn lại phải quan tâm đến những chuyện ốm đau, ma chay, cưới xin của những cái làng đây.

Mấy cơ quan nơi bạn đã từng làm việc. Mỗi cái cơ quan này cũng thành một cái làng. Bạn lại phải quan tâm đến những chuyện ốm đau, ma chay, cưới xin của những cái làng đây.

Mấy tổ chức bạn từng cộng tác công việc với họ. Mỗi cái tổ chức này cũng thành một cái làng. Bạn lại phải quan tâm đến những chuyện ốm đau, ma chay, cưới xin của những cái làng đây.

Mấy nhóm bạn bè dắt dây lâu ngày.  Mỗi cái nhóm này cũng thành một cái làng. Bạn lại phải quan tâm đến những chuyện ốm đau, ma chay, cưới xin của những cái làng đây.

Rồi đến khi bạn cưới xin, tổng số những cái làng này được nhân lên gấp đôi nhé ! Các làng của vợ, cộng với các làng của chồng.

Đấy là chưa kể nhỡ bạn cưới tập hai, cưới tập ba… thì… rồi…, nhé!

Rồi đến khi các anh chị em của bạn cưới xin, tổng số những cái làng này lại được mở rộng thêm nữa.

Rồi đến khi các con của bạn cưới xin, tổng số những cái làng này lại được mở rộng thêm nữa nữa. Rồi thì các cháu của bạn cưới xin…

Suốt cả tuần bây giờ, lúc nào cũng có một vài cái làng trong số những cái làng ấy có sự kiện ! Mà xã hội ta hôm nay thì vẫn cứ là cái xã hội “Vạn Làng” ! Nước « Văn Lang » có phải là nước « Vạn Làng » không đây?

Có buổi trưa trong tuần có khi bạn phải chạy đi ăn mấy đám cưới liền, như là cưới chạy gì vậy. Chả cưới chạy tang gì cả, đám cưới bình thường hôm nay đấy ạ, tất cả phải xong trong vòng đúng một tiếng ạ ! Đó là những buổi ăn trưa cao cấp hôm nay trong một cái siêu làng quay tít.

Rồi các đám ốm đau, rồi các đám buồn, ôi, không còn sức nào xuể nữa.

Ai cũng khiếp sợ « tập tục vạn làng » trong đời sống phường phố, nhưng mà không ai dám dứt điểm chống lại những tập tục này. Có lẽ tôi sẽ thành lập một hội « những người dũng cảm », với tuyên ngôn dụ như « đám ma của gia đình tôi, của chính tôi, tôi dứt khoát không mời ai, trừ chỉ mấy người trong nhà», để giải phóng nhân dân trước, rồi sẽ tự giải phóng mình tiếp đến.

Thế rồi, Tết phường phố đến!

Nếu cứ viếng với thăm người của từng ấy cái làng của mình, hoặc/và đón khách của từng ấy cái làng của mình đến viếng thăm mình, liệu bạn có còn đủ sức vui Tết nữa hay không? Chưa kể đến cái hủ tục quà cáp, mừng tuổi, chúc tụng suốt mấy ngày ở phường phố vạn làng…

Từ một đời sống nhỏ nhắn êm đềm trong một cái làng nhỏ, đến khi phải đi vào đời sống đô thị nghìn nghịt những người và việc, con người chúng ta đã không đủ can đảm tìm giải pháp cho nó, lại còn nhân vấn đề bộ phần lên ! Sự thông minh của chúng ta chỉ để cố tìm loay hoay cách chất chồng lên cái lưng của chúng ta được càng nhiều tập tục càng « hay » ?

—-

Tôi gọi điện cho anh bạn, hỏi Tết này anh sẽ đón Tết ra sao. « Tôi đặt vé đi Bankok chơi trốn tìm Tết ta rồi, anh có đi chơi cùng không ? Mà thôi, giờ này thì hết sạch vé rồi, anh trâu chậm ạ! Hẹn ra Tết nhé !». Anh chàng này, tôi cứ coi thường, hóa ra vẫn luôn đi trước tôi về thời cuộc.

Năm hết… xe pháo tàu bò tàu bay đã sạch vé. Trong số hành khách đó, hóa ra đã có cả những người đi chơi trốn tìm món Tết ở tận đâu xứ nào./.

Vănhóa Nghệan

Câu chuyện về giá trị học thô sơ một thuở

HOÀNG Hồng-Minh – Tia Sáng

Vào thời buổi bình minh của công nghiệp hóa cổ điển, con người ngỡ ngàng trước chính bản thân mình. Trâu sắt ra đời thay cho trâu sinh học. Năng lượng trong tự nhiên được thuần hóa, sử dụng được theo ý muốn. Sản xuất đồ dùng hàng loạt thành công trên quy mô ngày càng lớn. Trao đổi buôn bán vượt dần ra khỏi chợ thôn chợ làng… Con người sửng sốt, và cần một hình dung mới, vĩ đại, cho thực tế này.

Các môn giá trị học bắt đầu được người ta hình thành, để kiến tạo nhận thức cho thời buổi bình minh mới mẻ ấy.

Người ta nhận ra « giá trị sử dụng » của sản vật (GTSD) điều làm cho một thực thể tự nhiên trở nên một thực thể xã hội tiềm tàng, một khi nó có thể thỏa mãn một nhu cầu nào đó của hai người dùng trở lên. Khi đem trao đổi các sản vật với nhau ở ngoài chợ, thì ta có « giá trị trao đổi » (GTTĐ) của chúng được thực hiện. Rồi trừu tượng hóa hiện thực này lên một nấc, để vượt qua một cuộc trao đổi trực tiếp « một cái chả của ông này, bằng ba cái nem của bà kia» ở một nơi-vào một thời điểm nhất định, người ta có « giá trị » (trừu tượng) của một sản vật (GT). Thực thể tự nhiên trở thành hàng hóa mang GT, mà đồng tiền, một thể loại hàng hóa được tạo ra và tiến hóa dần để đại diện được gần nhất và tiện dụng nhất cho GT, được lưu hành. Qui mô và mức độ xã hội hóa của xã hội phụ thuộc vào qui mô của cái chợ của các chợ.

Mọi cái đến đây có vẻ xuôi sẻ.

Một số nhà kinh tế luận tiếp tục đẩy suy tư lên, rằng GT của một sản vật, ở mức độ chung nhất, là  thời gian lao động trung bình của toàn xã hội (TLTX) để sản xuất ra sản vật ấy ở một thời điểm nhất định.

Khi « niềm tin GT » này được tin tưởng một cách giản thô máy móc, cả một thế giới khác đầy khả năng được trải ra. Cái gì sẽ xảy ra từ đó?

Mọi sản vật sẽ đều phải có một GT như TLTX để sản xuất ra được sản vật ấy « ở một thời điểm nhất định trong xã hội », vậy thì « về tiềm năng khoa học », người ta (sẽ) có thể đo đạc được GT của tất cả các sản vật, từ đó sẽ tổ chức ra được một nền sản xuất và phân phối « khoa học nhất có thể » để tạo nên được một xã hội được thiết kế và điều khiển được tỉ mỉ. Nền sản xuất và phân phối này sẽ hoạt động thật nhịp nhàng, không sản xuất thừa để rồi phải đem đổ sản vật xuống biển, không sản xuất thiếu để con người phải nhốn nháo đói khổ. Một nền kinh tế được lập trình-kế hoạch hóa trong toàn bộ sẽ chào đời.

Giòng suy nghĩ này được đẩy tiếp lên nữa.

Một khi nền kinh tế đã lập trình-kế hoạch hóa được trong toàn bộ, chúng ta có cái cốt lõi để lập trình- kế hoạch hóa không chỉ toàn bộ đời sống sản xuất và phân phối, mà là toàn bộ đời sống xã hội trong mọi mặt. Tất cả đều sẽ được vận hành sạch sẽ, trơn tru, hiệu quả, tốt đẹp. Cái duy nhất cần phải kiểm soát, là những yếu tố, hoặc những ai cố tình, gây trục trặc hỏng hóc các kế hoạch đã được lập trình.

—-

Câu chuyện này trên thực tế bị hỏng, chưa phải vì đâu xa, mà vì bản thân tư duy.

Tư duy giá trị học này, chào đời và bị hạn chế tự nhiên ở thuở bình minh của công nghiệp hóa cổ điển, đã không hiểu rõ được cái tưởng như là hoàn toàn hiển nhiên, « nhu cầu », cái cội rễ của thị trường.

Ở thuở bình minh ấy, tất cả sản vật đều đang ở mức thiếu thốn vô tận, những « khủng hoảng thừa » thực ra chỉ là những hiện tượng nhỏ bé có tính vô cùng địa phương, và do đó « bất hợp lý », nếu nhìn ra phía toàn cục.

Các nhu cầu kinh tế xã hội khi ấy chủ yếu mới ở mức độ của các nhu cầu thiết yếu đơn sơ, ăn no, mặc ấm, có chỗ trú ngụ dẫu thật tồi tàn. Ngay đi lại xa xôi thì cũng chưa phải là nhu cầu của toàn dân. Nhu cầu bị hình dung ở mức đơn giản nhất, và dễ điều khiển được nhất. Với toàn xã hội thì điện thắp sáng, nước sạch mở vòi uống được ngay, giáo dục phổ cập, bảo hiểm y tế toàn dân… chưa từng tồn tại, còn quyền làm người, quyền tự do của xã hội công dân, đời sống văn hóa tinh thần sáng tạo của toàn xã hội, thì gần như không có gì, ngoại trừ với tầng lớp thượng lưu nhỏ bé. Nền khoa học và công nghệ để có thể sẵn sàng đáp ứng đời sống của toàn xã hội thì mới chỉ ngấp nghé đó đây. Cả một thế giới vĩ đại của các nhu cầu của đời sống con người về cơ bản còn chưa hề phát lộ. Các xã hội ngàn năm trung cổ, chiếm đa phần, còn đang ngủ yên giấc. Số ít các xã hội vừa mới thức dậy với công nghiệp hóa sơ khai thì đang nằm trong móng vuốt và tâm linh của những con thú tư bản man dại, đói khát, tham tàn. Bạo lực là ngôn ngữ phổ quát của các cư xử của các xã hội. Chân lý vĩnh cửu để thay đổi được xã hội, cho đến lúc đó, là dùng bạo lực chống lại bạo lực, thay thế nền độc tài này bằng nền độc tài khác.

Nhu cầu bị quan niệm thô sơ và sai lạc trong bối cảnh như thế đã làm ngu hóa toàn bộ tư duy về GT. Người ta đã khái quát hóa giá trị học từ cái chợ làng thô sơ của những xã hội thô sơ, và tưởng rằng mình đã tìm ra cả vũ trụ trong toàn bộ.

Hôm nay thì tất thảy chúng ta đều hiểu rằng câu hỏi thúc bách cho nền kinh tế không phải là chúng ta « cố sản xuất nhiều nhất thì được bao nhiêu sản vật loại này, càng nhanh càng tốt», mà là « sản xuất cái gì bây giờ, theo tiêu chuẩn kinh tế-kĩ thuật-tiêu dùng gì, chỉ bao nhiêu đơn vị, trong thời bao lâu, cho toàn thế giới ». Chúng ta hiểu ra rằng chế tạo ra một sản vật bây giờ phải gắn liền với hệ quả về hệ thống môi sinh, phải giải quyết cả một hệ thống giải pháp trong toàn bộ, và hệ quả về hệ thống môi sinh đó phải được tính vào giá thành dưới dạng thuế của xã hội cho việc lưu hành sử dụng chúng, cho việc xử lý hoặc tái chế chúng để sẽ kết thúc sạch sẽ được chu trình đời sống của sản vật đó (xử lý rác thải, tái chế), rồi để làm tiến hóa sản vật nữa (nghiên cứu, phát triển). Câu chuyện không phải chỉ còn là loay hoay với cái « thời gian lao động trung bình của toàn xã hội » (tưởng tượng) để sản xuất ra sản vật ấy.

Tất cả chỉ vì cái tinh thần thời xưa ấy chưa hiểu ra, rằng con người và các nhu cầu của họ, hôm nay thì càng dễ thấy chúng rõ hơn, vừa phải có tính đời sống thực tế nghiêm ngặt, vừa phải có tính sáng tạo khắt khe, vừa vô cùng rộng lớn, phức tạp, vừa luôn luôn thay đổi rất nhanh chóng. Hôm nay các sản vật nếu trả lời sai lệch nhu cầu khi tham gia vào thị trường, thì chúng sẽ lập tức trở thành phản-hàng hóa, chúng không trở về thành các « vật thể tự nhiên » ngay được « như ngày xưa » (ngày xưa chỉ việc tống khứ chúng vào thiên nhiên !) , vì chúng đã trở thành rác thải trong một đời sống xã hội văn minh, chúng mang một phản giá trị, nói dễ hiểu là một giá trị âm, chúng đòi hỏi một khoản đầu tư mới về tiền của để được xử lý, hoặc tốt hơn nữa, để được tái chế. Tiền tệ cũng hầu như thôi không còn nằm ở dưới dạng vật thể, mà đã thuộc về bộ nhớ điện tử, cùng những mệnh giá chứng khoán của mọi sản vật tham gia vào thị trường chứng khoán đang chạy lên xuống tít mù; nhưng bán một con gà trong chuồng, thu tiền vào tài khoản là có thể mua đổi ra luôn thành một mẩu (dưới dạng cổ phiếu của) đội bóng đá xứ gà Gô-loa, tức thì.

Vậy nên nếu như còn sót lại một nhà sản xuất cổ điển nào hôm nay hằng cố sản xuất một cách bất chấp một tỉ bộ quần áo đại cán để hòng bán cho hơn một tỉ người Trung Hoa, thì họ sẽ phải « mua đất đem chôn » một tỉ bộ quần áo đó, vì có biếu không thì cũng không một người Trung Hoa nào, từ người dân thường đến người lãnh đạo, chịu diện chúng vào người. Và nước Đức dù lúc này đang dùng điện hạt nhân rộng rãi thì lại đang lo chuẩn bị một đống tiền khổng lồ để sẽ đóng được dần cho bằng hết các nhà máy điện hạt nhân của mình lại, để đỡ phải canh cánh về cái môi sinh thiết yếu của mình, điều thật vô cùng khó hiểu cho các nhà giá trị học thuở xưa.

Sự ngu hóa của giá trị học thô sơ một thuở đã nói đến ở trên kia đã kích thích các ảo tưởng vĩ đại về việc tổ chức đời sống tương lai duy nhất cho toàn thể thế giới. Ảo tưởng này nếu được củng cố bởi đầu óc thần thánh, thì nó sẽ trở thành một thứ dây trói vô cùng dai dẳng khó lòng mà thoát ra được cho đời sống của chính các con người của xã hội. Ảo tưởng này càng được thực hành, thì các hệ lụy càng nặng nề bề bộn, vì nó ăn sâu vào các cấu trúc xã hội, và ai cũng sẽ bị vướng vào đó bất kể ý muốn, một cái đầm lầy nợ chằng chéo lẫn nhau. Nếu sự quả quyết thi hành ảo tưởng này được nhất nhất quyết dụng, thì các phương pháp hành chính và bạo lực đương nhiên sẽ phải được thực thi một cách bất cần lên xã hội.

—-

Câu chuyện về giá trị học thô sơ một thuở này thực tế đã là một câu chuyện nằm từ lâu trong bảo tàng học thuật. Về trí tuệ, một khi mỗi con người thấy ra được sự ngây thơ của mình ngày hôm trước, thì con người mình đã dứt khoát tiến lên thêm được một bước nữa rồi. Các nhà bảo tàng của con người luôn luôn mang trong mình chức năng quí báu đó, chức năng hậu nghiệm, bên cạnh những chức năng khác nữa./.

Thần thổ địa Á Đông

Hội thảo “Vì một thế giới ít khuẩn độc hơn” được tổ chức ở Paris. Mấy anh chị em mời Cụ Hinh đi dự.

Chào Cụ Hinh, em Vị đây. Cụ Hinh đã biết qua rồi đó, hội thảo này nó cũng hầm bà làng thôi, du lịch là chính.

 Anh em trong đoàn nói tiếng Tây được, ngữ pháp câu cú đặt chính xác hơn Tây,  nhưng bọn Tây này ngu lâu thật, nhất định không chịu nghe ra!

 Ngược lại mấy lần trước nhờ Cụ Hinh tiếp Tây, mọi người tín nhiệm lắm. Cụ Hinh nói kiểu gì không biết, anh em bảo nghe cứ lơ lớ như tiếng thổ, chả hiểu gì cả, thế mà thấy bọn Tây chúng nó khiêm tốn hẳn ra, dân dã hẳn ra, có hôm lại còn cười bò lăn bò càng! Hay là Cụ Hinh dịch chuyện nọ thành chuyện kia?

 Cụ Hinh đi với anh em nhá, vừa là cố vấn, vừa là đại phiên dịch! Chính thức rồi đấy! Vé, thủ tục đã xong. Em trưởng đoàn. Bận quá, gọi lại thêm sau. (Tắt máy.) »

Chà, cô này cứ thoăn thoắt!

—-

Hết hai ngày hội thảo siêu chung, giờ thì hoàn toàn tự do. Một anh thổ dân nhiệt tình đưa đoàn đi chơi.

Đi thăm một khu phố buôn bán ở một thành phố như Paris, bạn dễ tìm ra một vài cửa hàng Á Đông nằm lẫn trong các cửa hàng của Pháp hay của các người nhập cư từ muôn nơi khác.

Dân cư ở đây cũng đã quen từ lâu với sự đa dạng về buôn bán rồi. Anh bạn thổ dân còn đưa anh em với Cụ Hinh bữa này vào ăn phở ở một cửa hàng Việt, bữa khác ăn cơm ở một cửa hàng Trung Hoa…

Đặc điểm chung của các cửa hàng ăn Á Đông ở đây là tương đối rẻ hơn so với cửa hàng Tây, sạch sẽ thì vừa phải gọi là, nhà hàng thường hơi tối và bí, chỗ ngồi bàn ăn thường chật hẹp, ngồi không để ý có lúc thấy chân mình gác lên đùi cô khách ngồi đối diện tự bao giờ. Món ăn thường tiết kiệm dè sẻn, hơi ki bo, tóm lại có vẻ kém hào phóng hơn các hàng ăn trung bình khá ở Việtnam.

Cụ Hinh thuộc loại không sành ăn, và cũng không tham ăn, cho nên cũng ít để ý đến những gì khác nhiều. Cụ Hinh chỉ để ý là nhà hàng nào cũng có bàn thờ Thần Thổ Địa Á Đông kê dưới đất, gần chỗ ra vào, trông hơi bệ rạc, nhuốm bụi, để cầu mong buôn bán phát đạt. Quán Việt quán Tàu y trang vậy.

Câu hỏi đặt ra là Thần Thổ Địa Á Đông làm sao mà biết đâu là nhà hàng Á Đông để chui vào phù hộ? Tại sao nhà hàng Tây vẫn phát đạt, thường là phát đạt hơn về tầm cỡ, mặc dù nằm ở ngay bên cạnh và không có bàn thờ này?

Nghĩ mãi vẫn không ra.

Cụ Hinh tính cẩn thận không dám đoán mò. Cân nhắc đi cân nhắc lại, cuối cùng Cụ Hinh gọi điện cho ông báo cáo viên đoàn Pháp hôm trước đã gặp ở Hội thảo. Ông này làm ở một Hội Nghiên Cứu Vệ Sinh Dịch Tễ Paris, có để lại bưu các cho Cụ Hinh nhân khi tán chuyện giờ giải lao càfé. Trong bài báo cáo của mình ông này toàn nói về môn vệ sinh của các cửa hàng ăn, có vẻ sành chuyện lắm.

- “Ôi ngài Cụ Hinh, ngài quá may còn gặp tôi ở đây đó nhé!  Giờ là chiều thứ sáu, tôi vừa đi ăn trưa với mấy ông đốc tờ phòng chống dịch vi khuẩn của các tỉnh lên Paris họp, và cũng vừa mới về đến đây!

Gớm cái bia Tàu ở cái quán Tàu quận 13, uống thì rất nhạt, không say, nhưng nhức đầu búa bổ!  Tại uống chán rượu đỏ, nhân nóng nôi buổi trưa, cô phục vụ đỏng đảnh lại khéo mời cái bia “sinh lực“, tham uống vào xem liệu có thêm sinh lực không đây… Chắc tối nay khắc biết nhau ngay  )

Khách khứa về tỉnh hết rồi, tôi đang ngồi cho “sinh lực” tan, rồi thì cũng đóng cửa nghiên cứu đây.

Liên quan tới câu hỏi của ngài, chúng tôi cũng thấy thật nhếch nhác cái ban thờ Thần Thổ Địa Á Đông trong các quán của họ, tạo môi sinh cho vi khuẩn, nguy hại cho sức khoẻ cộng đồng. Bên vệ sinh dịch tễ muốn dẹp chúng, nhưng bên nhân quyền tôn giáo không cho!

Theo một số nhà cứu nghiên tại Hội này, mà cũng còn cãi nhau chán, thì Thần Thổ Địa Á Đông, gọi tắt là TTĐAĐ nhé,  biết mò sang đây là do khéo biết sử dụng kĩ thuật của vi khuẩn gì đó.

Ông TTĐAĐ này bám rất khéo vào một số tế bào não của cư dân Á Đông, rồi áp dụng chiến lược ngủ đông ở trong đó.

Đến khi mấy ông người Á Đông mở quán thì TTĐAĐ biết ngay quán này là thuộc địa hạt quản lý của mình rồi!

Vậy là TTĐAĐ tự kích hoạt và hướng dẫn mấy ông nhà hàng phải lập bàn thờ, chấp hành phép tắc của TTĐAĐ. Đơn giản vậy thôi.”

- “Thế TTĐAĐ có lây sang nhà hàng khác mà chủ không phải là gốc Á Đông được không, thưa ngài?”

- “Cái này có vẻ rât hiếm xảy ra. Theo kinh nghiệm thì ngay khi ông Á Đông bán nhà hàng cho người gốc khác thì TTĐAĐ cũng không trụ lại được.”

- “Vậy Hội ta có kế hoạch gì với vấn đề TTĐAĐ không, thưa ngài?”

- “Chúng tôi có kế hoạch tiếp tục nghiên cứu vấn đề này. Thường thì tuần nào chúng tôi cũng đi ăn một bữa, vào trưa thứ sáu, ở tại một hàng ăn Á Đông để xem thực tế đến đâu rồi. Chi phí nằm trong kinh phí nghiên cứu.

Thôi xin phép ngài Cụ Hinh, tôi gọi thế có đúng không nhỉ. “Sinh lực” tan rồi, tôi đóng cửa Hội đây, còn sớm nhưng chiều thứ sáu là chuyên kẹt đường.

Có gì chúng ta trao đổi bằng thư từ thêm. Cũng hay nếu sang năm hay năm sau nữa ta tổ chức được hội thảo về nó kĩ hơn… Ngài Cụ Hinh để ý tập hợp bài vở nhé!

Chúc Cụ Hinh ngài vui week-end!”./.

 

Nấu Cám

Nói nấu nồi cám, người Việt nào cũng cười khẩy. Món này, không  phải dạy a, cũng không phải học ạ. Trên thế gian quả là hiếm cái môn gì đặc biệt đến như thế.

Bí mật của nồi cám, là ở chỗ khác. Ở chỗ, không một ai có thể biết nổi nồi cám tối hôm nay sẽ như thế nào.

Công nghệ làm nồi cám là một cuộc phiêu lưu toàn diện.

Từ sáng ra ngủ dậy, cái gì bạn nhìn thấy « có vẻ như tiêu hóa được », hoặc sắp hỏng, hoặc bắt đầu hỏng, hoặc hỏng « chưa nặng »… bạn vứt vào nồi nấu cám, khỏi phung phí.

Vài thứ không chắc gì là thứ đã ăn được… vỏ chuối, vỏ dưa… chắc cũng chả sao. Cho vào.

Nếu trót tiểu tiện nhầm vào đó… chẳng sao.

Chu trình này kéo dài suốt ngày. Ai cũng tự coi mình được quyền tham gia, kể cả tay láng giềng hay lảng mặt nhưng lại hay sang phơi quần áo hộ cô vợ, hay một ông bạn cầu bơ ghé qua nhà ngồi mãi chỉ vì khát nước mà quên chưa đi mượn tiền.

Nếu mải say rượu quên nấu tối nay, mai nấu.

Một hai con chuột tham ăn chết đuối ở trong, phần thưởng bất ngờ.

Không thể kể hết được… Đây là nghệ thuật, là võ cổ truyền.

Cuối cùng thì nồi cám đã được nấu lên, sống hay khê một chút, có gì đâu.

—-

Các bạn ạ, nồi cám này chỉ là một phần nổi của tâm hồn, của kĩ nghệ, và của tài nghệ của tôi, của mỗi chúng ta.

Hồi xưa đi xem xiếc ta, ngồi chủ yếu là lo cho mấy bác làm xiếc, vừa lo, vừa thương thật sự. Dụng cụ thô sơ, bài bản cũ kĩ, bảo hiểm sơ sài… nhưng mà cảm thương, có lúc nước mắt tự bỗng tràn dưng.

“Xiếc này, là xiếc Việtnam

Xiếc đi xe đạp rách tan cả quần”.

Nồi Cám, sau hết, lại là một tình thương, một tình thương cả ngàn năm.

Con nước tình thương lớn quá, làm sao mà đổi thay được dòng chảy?

—-

Có khi nửa đêm nào chợt tỉnh phắt dậy, tưởng như thấy mùi nồi cám Văn Lang Âu Lạc bị khê dưới bếp.

Hóa ra mình đang xa nhà, cả chục ngàn cây số./.

Lời bình của Cụ Hinh.

Vất vả, nhọc nhằn, chịu thương, chịu khó, tiết kiệm, tiếc rẻ, cố giữ, cố dùng, không đầu, không đuôi, không đo, không định, không biết từ đâu, không rõ đến đâu, không biết làm sao, không thể nào chuyển đổi, không thể nào phiêu lưu, tiến không ra tiến, lui không ra lui… lề thói này vẫn cứ là nó mãi, muôn thuở loay hoay, thành thân thành thương, bịn rịn đắm đuối, bất di bất dịch, thành bản lĩnh phi bản lĩnh. Thành đức. Thành đạo.

#Vănhóa Nghệan

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 72 other followers