Dòng thông tin RSS

Lưu trữ theo thẻ: vhna

Văn hào Nguyễn Du, Việt ngoan

 

HOÀNG Hồng-Minh

Thuở nhỏ tôi băn khoăn mãi, tại sao ông Nguyễn Du tài tình đến như thế, “tài tình chi lắm cho trời đất ghen“, tiếng Việt nhuần nhuyễn dấu yêu đến như thế, mà lại phải đi lấy cái chuyện nọ của Trung Hoa ra làm khung gốc, để rồi từ đó dựng lên bộ truyện thơ để đời của mình, “Kiều“. Rất nhiều nhà lý sự thay nhau cắt nghĩa điều đó, rằng do Trung Hoa vĩ đại, rằng do tác giả bị nấu quá nhừ trong tinh thần sùng Hoa, v.v…, và v.v… Tôi nghe, thấy… và không tỏ.

Sau này, tôi hiểu.

Tôi hiểu rằng văn hóa người Việt không cho phép ai chê trách một cách chính thức bộ mặt dày vết nhơ của mình cả. Ngồi ở góc bếp ngày xưa, hay bên quán nước trà cạnh cống rãnh vỉa hè ngày nay, trên núi non tiên bồng Yên Tử, hay ở ngay hành lang của tòa nhà nghị viện, bạn tha hồ chê bai bông phèng, được. Nhưng nếu bạn chính thức chê bai khuôn mặt có vết nhơ dày của nền văn hóa quê nhà, đừng tưởng nói xong, là xong: cứ để đấy, rồi sẽ đến lúc “cảo thơm lần giở trước đèn“. Văn hóa toàn đám đông đã là như thế, chính quyền vua tôi ngày xửa càng không thể nào có chuyện nương tay.

Vậy cho nên, ông Nguyễn Du đã phải làm một chuyến đi đường vòng vĩ đại, đương nhiên thôi, lấy chuyện giời ơi của người xứ lạ ra mà kể lại, để xả cứu lấy cái lòng mình nặng chịch, để còn nhẹ gánh lúc về tiên.

—-

Và, hết sức bất ngờ đối với ông, người Việt say mê cùng cực tác phẩm đó của ông, nó đẹp, nó đời, nó đau, nó điếng. Nó chả chạm đến lông chân ai. Người Việt của đủ mọi tầng lớp, từ người hát xẩm, tẩm quất, cho chí quan, chí vua.

Ông Nguyễn Du không những có tài tự kiểm duyệt mình. Ông đã kiểm duyệt hộ luôn cho toàn thể dân tộc Việt.

Vì thế, nên chuyện Kiều rất Việt, mà lại không hề Việt. Thế, mới là Việt. Việt ngoan.

Vănhóa Nghệ-an

Sáu mươi tám năm độc lập

HOÀNG Hồng-Minh

Nước Việt hiện đại ghi dấu nền độc lập từ năm 1945.

Bắt đầu với « Đế quốc Việt nam » được Nhật bản hậu thuẫn trao trả độc lập về danh nghĩa (17/04/1945-23/08/1945), rồi đến « Việt nam dân chủ cộng hòa » ra đời từ 02/09/1945, 68 năm đã trải qua, tính đến hôm nay.

68 năm ấy, trong bối cảnh của sự gầm ghè của thế giới phân cực ý thức hệ, các cuộc chiến tranh, các xung đột, các chính thể, các đảo lộn đời sống, các bế tắc, tất cả những cái đó đã cản phá công việc xây dựng vật chất một quốc gia Việt thống nhất. Chỉ từ 1975 đất nước mới thực thụ liền một dải.

Nhưng sáu mươi tám năm ấy là một thời gian hoàn toàn thật, rất dài, và hoàn toàn liền mạch, cho công cuộc suy tư. Suy tư về việc tổ chức đời sống tương lai cho con người, xây dựng nền cộng hòa pháp quyền, thực thi các quyền làm người, thiết kế nền tảng nhân hậu cho toàn bộ đời sống xã hội, và bảo dưỡng hành trình đi đến tự do cho mỗi con người xứ Việt.

68 năm ấy, quá đủ dài để phải thay đổi được triệt để lối suy nghĩ, để kiến tạo nên sự đồng thuận cho xã hội Việt hiện đại, vượt qua những ấu trĩ đồng nát thuở mới thoát thai từ nền độc tài phong kiến cực quyền Khổng giáo – lại bị quàng thêm nền đô hộ thực dân, để đứng lên chỉnh đốn lại đời sống cho đàng hoàng, đĩnh đạc, ấm no, hiện đại.

—-

Và ngày hôm nay, con người Việt đã sẵn sàng cho việc cải dựng cuộc đời mới.

Con người Việt hôm nay đã được mở rộng học hành, mở mang kinh doanh, được thông tin rộng khắp trên lĩnh vực toàn cầu trong thời gian thực. Các cơ hội và nguy cơ của đời sống được mở ra ngồn ngộn, trong nước, ngoài nước, thế giới. Xã hội cần sự quản trị, và hơn như thế, sự tự-quản trị. Khi một thực thể tăng gia tốc, cũng là lúc nó đòi hỏi phải có được nền vận hành qui củ rộng khắp với các năng lực tự-quản trị được mở rộng hoàn toàn ở mọi cấp độ, để xã hội luôn luôn đủ khả năng tự điều chỉnh được nhạy bén. Trình độ của tự-quản trị cũng chính là năng lực của tự do.

Năng lượng tích tụ bao giờ cũng mang kèm theo nguy cơ, nguy cơ không điều khiển được năng lượng, gây bùng nổ tan vỡ. Nguy cơ ấy phải được hóa giải bằng trình độ hiểu biết, năng lực tổ chức và các thiết chế thích ứng. Xã hội công dân cũng chính là một đặc trưng của một xã hội bắt đầu đi vào giai đoạn phải biết tự-quản trị.

68 năm, thời gian đã quá dài cho suy ngẫm. Các bài học thành và bại đã đủ để làm cho xứ Việt khôn lớn, và để quyết đoán.

68 năm, chào xã hội sang trang cải cách, dứt khoát, cất cánh./.

Vănhóa Nghệ-an

Vĩnh cửu – II

Ra đến cửa, Mỵ Châu lặng lẽ như chiến tranh lạnh.

Cụ Hinh vui vẻ “a, có hàng càfé đổi mà không mới này!”.

Mỵ Châu tươi tỉnh trở lại.

Càfé ra, Cụ Hinh hỏi.

-”Mỵ Châu bực cái gì vậy?”

-”Tự nhiên em bực cái xe khoác lác ‘Vĩnh Cửu’ của một thời.

Đã vĩnh cửu, sao không chạy tiếp được ngoài phố, mà lại chui vào bảo tàng nằm im?”

Vĩnh cửu

Thăm gian bảo tàng đồ thời không đổi mới, Mỵ Châu ngắm nghía cái xe đạp “Vĩnh Cửu”, ghé tai Cụ Hinh.

-”Chẳng ai vĩnh cửu nhỉ.”

-”Không.”

-”Dân tộc thì vĩnh cửu.”

-”Không.”

-”Loài người thì vĩnh cửu.”

-”Không.”

-”Vũ trụ này thì vĩnh cửu.”

-”Không.”

Mỵ Châu bực mình, đỏ cả má.

-”Thế cái gì là vĩnh cửu?”

-”Tên cái xe đạp này.”

Đỉnh cao – V

Bác Tộ mời Cụ Hinh ở lại ăn cơm cho vui, vì bác Tộ gái đang về quê, quạnh cả bếp.

Cụ Hinh giúp bác Tộ bóc mấy gói mỳ ăn liền.

Bác Tộ hỏi.

-”Cụ Hinh à, định lý nào là quan trọng nhất trong triết học?”

-”Ôi bác Tộ, bác hỏi khó quá ạ.”

-”Định lý ‘không có cái gì không dính đến cái gì’.

Nắm được định lý này, không có gì mình không biết liên tưởng, để mà giải thích ra được tất cả.

Cụ Hinh rửa xong chỗ rau muống chưa, để tôi cho vào nồi mì nào. Mà Cụ Hinh nhớ nhặt bỏ hộ mấy cái dây cà bị lẫn vào chỗ dây muống nhé.”


Vănhóa Nghệ-an

Thế nào là “bình thường” – II

Mỵ Châu nghe chuyện, bảo.

-“Em khó hiểu quá, Cụ Hinh à.

Thế rốt cục, cái ‘bình thường xứ Việt’ ấy, được kết lại thành cái gì ạ?”

-“Thành cái cày được đẽo tập thể xong, nằm quay cu lơ, ở giữa đường giữa chợ.”


Vănhóa Nghệ-an

Rõ ràng, với chính mình

HOÀNG Hồng-Minh

Hết tuần trà, cụ Ty mời Cụ Hinh lên gác thăm gian sách của mình.

Cơ man nào là sách. Những bộ sách quí hiếm đã được sưu tầm từ muôn nơi, và thường được bổ sung khá đều đặn. Cụ Hinh cứ dán mãi mắt vào chúng, với những điệp khúc « giá mà » tự vang vọng lên trong đầu mình.

Gian sách rộng rãi, được ngăn vách chia thành từng không gian riêng biệt, theo các lĩnh vực tinh thần khác nhau.

Trong không gian « Chính trị – Xã hội », Cụ Hinh để ý đến những bức tượng nhỏ được bày ở nơi đây.

Xa nhất ở ba góc, đó là các bức tượng các ông Khổng Khâu, Phật, Lão Đam, làm thành một thế chân vạc.

Nhích lên gần hơn về phía trung tâm không gian theo chiều sâu, và nằm so le với các bức tượng Khổng Khâu, Phật, Lão Đam theo đường vành đai, là các bức tượng các ông Marx, Lenin, Stalin, Mao.

Cụ Hinh hỏi.

-”Ý cụ Ty bày tượng các vị này ở không gian này là ra sao ạ?”

-”Tôi nhìn nhận đây là những vị từ xứ ngoài có ảnh hưởng lớn nhất đến tư tưởng chính trị – xã hội Việt, tính vào thời điểm hiện trạng.”

-”Ảnh hưởng của họ lớn đến mức nào ạ?”

-”Rất, rất lớn. Vì họ đã vượt qua được biết bao nhiêu lớp các cửa ải của sự khác biệt về văn hóa, tập tục, để vào được xã hội Việt, và giành được chỗ đứng trong đầu óc của đông đảo người Việt.”

-”Cách cụ Ty bày tượng các vị này ở đây như thế nào ạ?”

-« Tôi bày, và chỉnh theo thời gian, vị trí của các bức tượng theo cảm nhận của tôi về độ ảnh hưởng tinh thần của các vị này trong không gian tinh thần chính trị-xã hội của xã hội Việt.

Độ ảnh hưởng này tôi cảm nhận không phải chỉ từ phía tầng lớp trí thức, hay chỉ từ phía người làm chính trị, mà từ khắp mọi tầng lớp trong xã hội, kể cả từ những người tưởng như cả ngày chỉ lo có chăn trâu cắt cỏ, hay đạp xích lô, hay hành nghề bói toán, hay ngồi vẽ truyền thần, v.v.

Tất nhiên là cảm nhận của tôi mang cả tính chủ quan của riêng mình.»

-”Việc cụ Ty bày tượng các vị này ở đây mang ý nghĩ riêng ra sao ạ?”

-”Để mình luôn luôn ý thức được rõ ràng về các lực hút, lực đẩy từ bên ngoài quan trọng nhất đến với xứ sở, chúng đã và đang có hiệu ứng đến đời sống tinh thần của xứ sở hiện tại ra sao.

Và từ đó mình cố hiểu hơn, ý thức rõ ràng hơn về xã hội của mình, về chính bản thân mình.”./.

 Vănhóa Nghệ-an

Quảng trường Café

Bạn của bạn Uyeen trao chiếc xe máy cho bạn Cụ Hinh để cùng lượn Buônmêthuột tìm quán café, thế rồi cả hai bạn ấy lên xe kia chạy tuốt lên đằng trước. Cụ Hinh gọi với “Thế không sợ mất xe máy à?”, hai bạn cười mỉm, được thể càng phóng vọt lên.

Nhiều hàng café quá, thành ra khó lựa chọn.


#Ảnh HHM

Rốt cuộc thì rồi bạn bè cũng tụ được ở bên tách café. Cụ Hinh được hỏi rằng tự mình cảm thấy thế nào về phố phường cùng café Buônmêthuột.

-”À nếu được phép ‘thể hiện’, thì thế này nhé.

Quảng trường trung tâm thành phố từ rày sẽ lấy tên là Quảng trường Café, và cất cái hình xe tăng ở đó vào nhà bảo tàng.

Quảng trường này sẽ thành ra khu đi bộ.

Vòng quanh quảng trường sẽ là đủ các hàng café mở ra đón muôn người. Nhạc nhẽo của mỗi cửa hàng không được mở to, chỉ thì thầm thôi nghen.

Hàng tuần sẽ tổ chức một hai giờ ca-múa-nhạc-kịch ngoài trời nơi đây, không lấy tiền, và cho mọi người. Ban tổ chức bày sân khấu sẵn thiết bị trang âm, và nhận các đăng kí của các nhóm tự do để tham gia cùng vui chơi.

Hàng năm ở chỗ này sẽ tổ chức đăng quang ‘Nữ hoàng Café’.

Vậy đó, có được không à?”

Hai bạn cười ngất, sánh hết cả café.

Văn hóa Nghệ-an

Nhà hát hí kịch phố phường

Cụ Hinh lơ ngơ trên đại lộ Broadway New York. Thấy cả chính mình online trong những màn ảnh điện tử vĩ đại xung quanh quảng trường.

Cô cảnh sát người Mỹ cạnh đó cứ ngắm trộm mãi Cụ Hinh, làm gì mà chẳng biết. Đã thế, lại còn hay cười khục khịch một mình.

Cụ Hinh nghiêm trang tới gần, giơ tay bắt chào cô, gần như một nhà binh nghiệp dư.

-”Chào cô, tôi dân dã, mà nghiêm trang, cô nhà binh, mà khục khịch…”

-”Chào bác, em xin lỗi ạ. Thế bác có thích chụp ảnh, thì để em chụp cho ạ.”

-”Biết lỗi như thế, thì hay quá. Đây là chỗ gì, mà như là sân khấu hí kịch ngoài trời vậy?”

-”Dạ, là Times Square, là nhà hát hí kịch phố phường ạ. Nghĩa là mỗi người vừa là người xem, cũng vừa là người thủ vai luôn ạ.

Thế còn bác từ đâu đến vậy, lạ lắm à?”

-”Thật là tuyệt vời hấp dẫn!

Nhưng nói chuyện “lạ”, thì chưa ăn nhằm gì bằng thành phố của tôi đâu. Nơi đó, mọi góc phố phường của cả thành phố đều là sân khấu hí kịch online 24/7.”

-”Ôi, ở đâu mà hay được đến thế ạ? Để em còn được đến thăm.”

-”Cô chụp đi đã nào… Chiếc nữa… Để còn so sánh chúng với nhau… Thanks!

À, thế này, my sweet hometown is Hanoi. Cảm ơn cô, thế cô sẽ đến Hanoi của tôi, nha!”

Chuyện Tết Tây Tết Ta, lịch Tây lịch Ta

HOÀNG Hồng-Minh

Mấy người bạn Việt ở Nhật bữa trước gọi điện thoại chuyện trò. Khi chia tay họ nhắn « có gì đợt nghỉ Tết này sẽ về chơi đấy nhé ». Đúng ngày Noel lại được điện nhắn SMS « tối mai bọn tớ xuống sân bay». Chợt nhớ ra, Tết người Nhật ngày nay là Tết Tây, hoàn toàn, mặc dù trong đời sống thì họ vẫn còn loay hoay vẩn vương chán với món « nam nữ thụ thụ bất thân » ! « Trao nhau, không được gần nhau » ở họ hôm nay dĩ nhiên cũng đã có phần đỡ khe khắt hơn ngày xưa nhiều. « Trao nhau, không được gần nhau » ngày xưa có nghĩa là nếu chàng muốn đưa cho nàng một con châu chấu, thì chàng phải đặt nó lên bàn, rồi lùi lại ra xa, nín thở… để rồi nàng mới tiến lại gần cái bàn đó, rồi bàn tay thon mịn của nàng mới yêu kiều vươn ra phía con châu chấu… khéo đã nhảy tách đi đằng nào.

Nếu câu chuyện đánh đố « trao nhau, không được gần nhau » đã được người Việt giải gần sạch sành sanh, làm hoa mắt người Nhật, thì câu chuyện « ngày Tết chính là Tết Tây » của người Nhật lại làm hoa mắt người Việt xứ ta.

—-

Riêng về môn dùng lịch, người Việt theo chủ nghĩa đa nguyên quyết liệt, từ thường dân cho chí quan trường nước nhà.

Lịch Tây, người Việt dùng nó quanh năm, nhưng nó là « Tây ». Lịch Tàu, người Việt dùng nó đôi khi, nhưng nó là « Ta ». Cái này, phải rất rõ ràng.

Nếu bạn muốn chúc mừng ngày sinh của ai đó, từ trẻ em cho tới các bậc quyền trọng, nhớ nhé, lịch Tây ạ! Không ai lại đi hát « Happy bithday to you », rồi quà cáp, với thổi nến, vào cái ngày sinh lịch Ta của họ cả. Báo chí cũng thế, nếu bạn muốn viết một bài kỉ niệm ngày sinh của các nhân vật quan trọng của thời nay, nhớ nhé, ngày sinh lịch Tây.

Nếu bạn muốn kỉ niệm ngày mất của ai, chỗ này, khác a, phải có triết học. Việc chết ở xứ Việt quan trọng hơn việc sống nhiều, rất nhiều, căn bản. Mình sống, thì làng nhàng thế thôi, mấy ai coi mình ra cái gì. Nhưng sau này, một khi mình đã được cúng giỗ ở trên bàn thờ, ai người ta cũng phải khiếp sợ khí thiêng của mình đấy nhé, một phép! Lúc ấy, thời của mình mới là thực sự là đã đến, dẫu có hơi muộn một tí.

Nếu kỉ niệm ngày mất của người nào trong gia đình ai đó, hãy hỏi họ trước, xem gia đình kỉ niệm người ấy theo lịch gì. Nói chung, kỉ niệm ngày mất theo lịch Ta thì bí hiểm hơn, phải quy đổi, phải bấm ngón tay, phải nhăn trán, không phải ai cũng tính ra ngay được ngày Ta đâu, nên linh thiêng hơn, đốt vàng đốt mã sẽ có nhí nhẽ hơn. Tôi có mấy anh bạn rất trẻ, nhưng đã rất nổi tiếng về các môn xem đất, cắt ngày, đặt tháng, tử vi, tướng học, số học, hậu tri, tiên tri, chỉ không sành lắm về môn hiện tri thôi. Mấy anh ấy lúc uống bia bao giờ cũng nhắn nhe tôi « anh mà trót viết gì về lịch Ta, lơ vơ thôi nhé, kẻo toi đường cơm áo của bọn em ! ». Các nhà quân sư hoạch định, các nhà đánh quả, và kể cả các tay trộm quả, bao giờ cũng phải có lịch Ta trong đầu : làm việc gì, gặp ai, xuất quân lúc nào, chân trái hay chân phải đưa ra trước, lòng lợn-tiết canh vịt-thịt chó lúc nào… nhất cử nhất động phải chiểu theo lịch Ta, quên nó, là y như rằng mất dép.

Nhưng không thể có quy tắc « một ăn một » ở đây đâu. Dễ thế, thì viết bài này làm gì.

Ngày mất của một nhà blogger hiện đại, phải lịch Tây nhé, lịch Ta thì còn quái gì tính hiện đại. Thế còn viết một bài báo để kỉ niệm ngày mất của các nhân vật quan trọng của thời nay, nhớ nhé, gọi điện hỏi ông chủ hay bà chủ của tòa báo trước, để họ còn kịp xin ý kiến lên trên nữa, xem rằng với nhân vật ấy, thì kỉ niệm ngày mất theo lịch gì. Tây ạ, hay Ta ạ, hay cả hai ạ?

Các ngày kỉ niệm các sự kiện lịch sử thì thế nào bây giờ? Lịch sử của chúng ta, về lịch học, tôi chia làm hai giai đoạn. Giai đoạn Âm Sử, theo lịch Ta, và giai đoạn Dương Sử, theo lịch Tây.

Ranh giới giữa hai giai đoạn này, thì phải biết áng chừng, thông minh là ở chỗ này. Chả có cách nào khác.

Ngày Quang Trung đại phá quân Thanh, ngày Âm. Ngày quân Pháp nổ súng vào thành Hànội, ngày ấy, vừa Âm, vừa Dương, tùy từng chi tiết bên phía Tây phía Ta. Ngày kí hiệp định Paris về Việtnam, ngày Dương. Ngày các cụ già Thanh Hóa dùng súng trường bắn rơi máy bay vào ban đêm, không viết ngày Âm đâu nhé.

Phức tạp đến như thế, nhưng có chí, thì nên, người Việt vận hành thành thạo cả hai cái lịch Tây Ta này, thành một cái lịch đa nguyên luận trôi chảy, chẳng thấy ai chết vì như thế cả.

Cứ bắt đầu từ mười lăm tháng Chạp lịch Ta trở đi (các bạn trẻ, kể cả tôi, rất hay nhầm tháng Chạp lịch Ta với tháng Mười-hai của lịch Tây đấy nhé), cả cái xã hội Việt bỗng quay ngoắt trở về sống với lịch của hàng trăm năm trước đó ! Mấy vị người Tây ở xứ Ta vào mấy ngày này bị mất toi phương hướng hoàn toàn, chuyện thường. Sau một hồi khó chịu, lại thấy cũng hay hay.

Các nhân viên của các công sở bắt đầu chơi trò đếm thuận, nhưng tính ngược, xem còn bao nhiêu ngày nữa thì là Tết ? Càng ở cơ quan to, công việc càng thoáng, đếm tính càng hăng. Thỉnh thoảng cũng nhầm với nhau, phút chốc thành tiểu hội nghị khoa học. Còn hơn là ngồi không.

Mà thế thật. Lòng người bỗng cứ thoáng dần, nhẹ dần. Rồi lâng lâng.

Mình chợt thoát ra khỏi được cái lịch làm ăn lam lũ quanh năm, cái lịch Tây khốn kiếp nó quản thúc đời mình. Mình được thả hồn với ngày tháng phiêu diêu từ ngàn xưa vọng về. Cái lịch Ta nay chỉ quản có lễ hội với Tết nhất, đáng yêu làm sao.

Ngoài hai mươi Tết trở đi, chôn quên hẳn đi cái lịch Tây man di trói buộc nọ. Hai mươi mấy Tết thì về quê nhỉ? Hai mươi mấy Tết thì lo xong nếp đỗ thịt củi ? Lá dong, cô bạn đáng yêu vẫn còn « nửa thụ thụ bất thân » đã nhất định « anh cứ buồn cười, để em lo !», vậy mà chưa thấy đâu… Chuyện nhỏ, phải khéo, lôi thôi, thành chuyện to bây giờ… Trước ba mươi mà gói xong bánh, thì đỡ cập rập bao nhiêu. Sắp ba mươi… tối về nhớ phải cài then chốt cửa cho kĩ à, mấy bác khách trộm là rất rành lịch Ta, rất thích dịp đêm ba mươi đấy. Ôi, giá mà được đốt bánh pháo đêm ba mươi này nhỉ ? Chỉ tại cái dân mình, nhẹ nghĩ, ưa nặng, hễ làm được gì, là lại tí toáy lạm dụng cho bằng chết thôi? Không vươn đến tự quản nổi, thì rồi khắc bị người ta quản cho, điên thế cơ chứ. « Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh », ngày xưa tuyệt thế… Bây giờ, thôi thì, « Cây nêu, lịch cũ, bánh chưng xanh » vậy.

Ngọn gió Giao thừa lặng lẽ ùa về trên đầu ngọn tre ngoài ngõ. Nhìn quanh, cái gì cũng cũ. Nhưng lòng mình chợt thoáng tươi mới lại, không nhiều, chút ít, vẫn có. Vẫn thế.

Sáng mồng Một, lặng lẽ, tinh tươm. Mùi rơm ẩm sương ở góc vườn quyện đọng hơn, thân thương hơn ngày thường. Như tờ giấy trắng được mở ra, chẳng nỡ viết điều gì phiền muội. Con gà trống khoác lác đã kịp gân cổ gáy, giành oai quyền báo Mặt Trời của năm Ta đã dậy. Siêu nước dưới nhà chợt cất tiếng reo, giục trà mau mau vào ấm.

Hượm cái đã nào…

« Con gà gáy báo Năm Ta,

Siêu nước dưới nhà giã giục trà Ta.

Bồi hồi bóc tờ lịch Ta,

Ngày nào Đất Nước đủ đà bay lên ? »

# Văn hóa Nghệ-an

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 87 other followers