RSS Feed

Tag Archives: vhna

Nền cộng hoà biết tự dưỡng, biết hoà giải

Bản đủ

Nhà báo DƯƠNG Phương Vinh hỏi chuyện anh HOÀNG Hồng Minh, tháng Tư 2014

DPV – Anh dẫn câu chuyện có nhiều người phạm tội nhưng thỏa thuận được với bên bị hại, đền ít tiền xong là hòa cả làng, chả có ai phải ra tòa, để nói rằng: ở Việt Nam pháp luật đôi khi không có việc để làm, bộ máy không hoạt động vì sự kém hiểu biết luật pháp của cả dân thường, và không chỉ của dân thường. 

Cho nên mới có chuyện những đứa trẻ bị xâm hại nhưng chỉ cần có vài chục triệu đồng là bố mẹ nạn nhân xí xóa luôn cho, khác nào hành động bán con. Và mô-tip thường gặp đó là: lỡ đâm xe, gây tai nạn cho ai thì chịu khó nhận nạn nhân làm con nuôi, em nuôi, thậm chí lấy luôn nhau là xong?

HHM – Trong một đời sống tối giản, tỉ như mươi nóc nhà với ba dòng họ quần lại thành một cái làng, tất cả các va chạm xung đột bên trong đó thường sẽ chỉ là những vụ việc giữa các cá nhân với nhau, to tát hơn thì thường sẽ chỉ là những vụ việc giữa các nhà với nhau, rồi nữa thì là giữa các dòng họ với nhau… Về căn bản, họ sẽ « tự xử », tuy có phải lựa khảo thêm tập quán. Tự xử thì thường bao giờ cũng sẽ theo hướng có lợi cho bên nào giàu hơn, có thế lực hơn, hoặc hung bạo hơn. Nếu không tự xử nổi vì «nhân thân cân sức», thì vụ xung đột sẽ thành ra mối thù truyền kiếp, được khắc cốt ghi xương, « con ơn nhớ lấy thù này » để « sau này sẽ hay », trừ phi may ra cái làng ấy lại đã có được một tổ chức đặc biệt phát triển để sẽ có đại diện làng đứng ra phán quyết được… có tính đến các tập tục, các thế lực.

Ngày nay, đời sống xã hội của chúng ta đang dần được khế ước theo thể thức « nền cộng hoà », nói về «nguyên lý », tất nhiên nền cộng hoà này thực ra ở trong giai đoạn đang được hình thành một cách chật vật, cả về quan niệm lẫn về thực tiễn. Không phải cứ ra tuyên bố khai sinh nền cộng hoà xong, là sẽ tự khắc có được nó ngay, như món mì ăn liền được. Nói như vậy, là nghĩa làm sao?

Con người trong xã hội một khi đồng ý thảo luận và xây dựng dần với nhau một cách thức tổ chức đời sống chung, sao cho các quyền làm người căn bản, các quyền tự do của mỗi cá nhân, mỗi tổ chức được bảo đảm, chúng ta tạm nói đơn giản như thế đã, thì họ thực sự đang xây dựng nên một thực thể tinh thần tồn tại trong toàn bộ xã hội, trong chính mỗi công dân của nó, thực thể « nền cộng hoà », cũng có thể tạm gọi đơn giản là thực thể « nhà nước » mà ai cũng có phần ở trong đó. Thực thể này không phải là bà nọ ông kia cực kì quan trọng, hay như là « ông nhà nước » nằm ngồi đâu đó kín bưng một mình, như nhiều người thường tưởng tượng, mà chỉ là một hệ thống các giá trị cho đời sống được hiến định dân chủ đồng thuận, rồi được luật định hoá cho hợp hiến, tức là các luật định không được phản chống lại, mâu thuẫn lại những giá trị căn bản đã được hiến định dân chủ. Những « quyền lợi » của  thực thể này không phải là gì khác hơn những ràng buộc và hướng dẫn con người và những tổ chức xã hội trong đó, từ cá nhân cho đến chính quyền, phải hoạt động cư xử theo đúng các chuẩn mực của nó, của « nền cộng hoà », của « nền cộng hoà pháp quyền ». Đơn giản, và khắt khe, như các cầu thủ và các trọng tài trên sân cỏ phải chơi đá bóng theo luật bóng đá, cái luật bóng đá ấy giữ vai trò như nền cộng hoà pháp quyền cho các cầu thủ cùng các trọng tài.

Hôm nay khi các công dân có xung đột, thì họ không chỉ xung đột với nhau như những dân làng lẻ loi cô độc nữa, mà tuỳ theo mức độ nghiêm trọng họ còn có thể xung đột với nền cộng hoà, nghĩa là với nền pháp lý công cộng.

Nếu mức độ xung đột của họ nhỏ nhặt, chưa vi phạm nặng đến những thiết chế pháp lý công cộng, việc giàn xếp giữa họ là điều khả dĩ. Chẳng hạn như hai xe đạp bị ngoắc ghiđông vào nhau làm cho cả hai tài xế xe đạp lành lặn phải xuống xe gỡ chúng ra.

Nếu mức xung đột của các công dân nghiêm trọng, ví dụ trả thù nhau bằng tưới xăng đốt nhà, thì về bản chất sẽ có hai vụ án khác nhau: « vụ án thứ nhất » về sự xung đột giữa hai bên công dân, và « vụ án thứ hai » giữa người gây án đó với nền cộng hoà – hệ thống qui pháp của nền cộng hoà không cho phép mang xăng đốt nhà công dân.

Trong trường hợp này, việc xét xử, giàn xếp của « vụ án thứ nhất » không xoá bỏ được « vụ án thứ hai », bởi vì nếu nền cộng hoà bị xâm phạm mà việc đó không bị xét xử, nền cộng hoà thực chất đã tự tiêu vong. Khi đó sẽ chỉ còn lại một đời sống hoang dã mà bạo lực và đồng tiền đã xoá sổ và thay thế nền cộng hoà. Cũng như vậy, một lái xe say rượu đâm chết người sẽ phải đối mặt với « hai vụ án trong một »: vụ án gây hại cho nạn nhân, và vụ án xâm hại nền cộng hoà, không có chuyện tự xử giữa những người liên đới trực tiếp với nhau « là xong”. Cũng như vậy, việc trẻ em bị xâm hại không phải chỉ là câu chuyện giữa vài người sống bên ngoài nền cộng hoà tự xử với nhau « là được ».

Cuối cùng thì phải nói: nền tư pháp phải hoàn toàn độc lập xét xử, chỉ chiểu theo hệ thống pháp lý, và phải tuân thủ hệ thống pháp lý, nếu không, thì nền cộng hoà cũng đã tự tiêu vong.

DPV - Cả xã hội đang bức xúc vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm, biết rằng có khi càng ăn nhiều càng chóng chết nhưng đành cùn “khuất mắt trông coi”, “lợn chết không sợ nước nóng”. Tuy vậy mỗi người dường như cũng đang rước họa vào thân một cách hồn nhiên.

Nói ví dụ, đứa trẻ con ở trường cấp 1 cũng đã được dạy rằng không nên uống nước lã. Thế mà, kể anh nghe: Tết hàn thực vừa rồi, xung quanh khu vực nhà tôi rất nhiều hàng bánh trôi bánh chay. Tôi xếp hàng chờ mua, hàng này có nồi nước luộc bánh đặt trên bếp than tổ ong, cạnh đó có nồi nước lạnh để bánh luộc xong thì nhúng vào vớt ra cho bánh được rắn. Người bán- nặn bánh, vớt bánh, bắc bếp… tay cứ trần thùi lụi thế thôi. Tôi hỏi nồi nước lạnh này là nước lã hay nước lọc. Thì cả người bán lẫn mấy người mua đứng quanh đều trợn mắt “Lại còn đòi nước lọc!”. Thực ra một nồi nước lọc có khó gì. Nhưng họ dường như thấy không cần xa xỉ như vậy. Cũng như mua thịt bò thịt lợn ở chợ- việc gì phải rửa, cứ thái tại chỗ, xay tại chỗ, thịt cũ thịt mới đè lên nhau mà xay xay thái thái. Như vậy, chúng ta đã tự đầu độc mình trước, rước lấy nguy cơ tật bệnh, còn kêu ai? 

HHM – Hiển nhiên là mỗi người cần biết làm tốt việc của mình, cho mình, và tốt hơn nữa thì thỉnh thoảng giúp đỡ được một số người khác. Nhưng tất cả những điều đó đều là thứ triết lý chỉ may ra đủ dùng cho đời sống thời trung cổ.

Khi con người đã tham gia, hôm nay là bắt buộc, vào đời sống cộng đồng rộng lớn, một loạt những vấn nạn « siêu cá nhân » nảy ra, không một cá nhân lẻ loi nào tự giải quyết được. Bạn là người tốt, và tử tế đến mấy đi nữa, bạn mà leo lên chiếc máy bay được lái và bảo trì bởi những viên phi công và kĩ thuật viên vừa nốc xong mấy chầu rượu đế  « trăm phần trăm », cái gì sẽ xảy ra? Mỗi nhà đào một cái giếng, loay hoay lọc nước, trong khi vườn nhà bên cạnh (và chính cả vườn nhà mình) bón phân chôn rác đúng vào mạch nước vào giếng của nhà bạn, cái gì sẽ xảy ra? Công việc quan trọng nhất của các tổ chức công cộng, của nhà nước pháp quyền, là « quốc hữu hoá các vấn nạn », để rồi xây dựng, cung cấp được các giải pháp tổng thể có tính nền tảng cho toàn xã hội, để các công dân và các tổ chức xã hội khác được và phải sử dụng các giải pháp tổng thể ấy để đi tiếp lên. Một xã hội muốn tiến bộ lên sẽ phải có được nền kiểm tra an toàn thực phẩm trên toàn xã hội, truy nguyên được thực phẩm dễ dàng trong nháy mắt ( nhờ hệ thống mã hoá thông tin in trên sản phẩm) để trừng phạt được kẻ làm gian, dập tắt được ổ bệnh, và mỗi người dân không phải tự luyện mình để may ra trở thành chuyên gia soi từng miếng thịt mớ rau mỗi ngày.

DVP – Người Việt rất hay bày tỏ chính kiến, bất cứ việc gì cũng phải lập tức lên tiếng, nhưng lại để cảm tính chi phối và rất có vấn đề về tư duy lô-gic, về hiểu biết pháp luật. Như vụ cháu bé trót trộm sách bị trói và bêu giữa siêu thị vừa qua. Sau hành động làm nhục, hành hạ trẻ con đáng lên án, thì một bộ phận lại “làm quá” theo chiều ngược lại, nào đến thăm, tặng quà, cho tiền… Trong khi tôi đoán bản thân cháu và gia đình chỉ muốn chuyện này trôi vào lãng quên càng nhanh càng tốt, bình yên trở lại.

HHM – Có lẽ nói « bày tỏ chính cảm », thì đúng hơn ạ.

Câu chuyện này rất gần câu chuyện thứ nhất: lỗi nhỏ của bạn nhỏ nọ có thể và nên được dàn xếp tốt giữa người gây hại (bạn nhỏ) và người bị hại (cửa hàng), vì nó chưa gây hại đến mức nghiêm trọng cho nền cộng hoà, chiểu theo luật pháp. Nhưng cách hành xử của cửa hàng nọ đã gây hại thực sự đến nền cộng hoà khi tự cho phép làm nhục một trẻ em như vậy, bất chấp hệ thống pháp lý công cộng, và điều đó nền cộng hoà có thể và cần phải kiện án.

Khích lệ xây dựng, bảo dưỡng cho được một nền tảng tư duy duy lý, nhân ái cho xã hội là công việc của mỗi chúng ta, điều đó phù hợp với lý tưởng cộng hoà cho mỗi công dân, điều đó cho phép nền cộng hoà được củng cố, phát triển ở Việtnam.

DPV: Gần 40 năm đã trôi qua, không thể ngờ người Việt vốn tự nhận là bao dung nhân hậu, lại có một bộ phận có vẻ thù nhau “muôn đời muôn kiếp không tan”, khiến câu chuyện hòa giải vẫn dậm chân tại chỗ. Anh sống nhiều ở nước ngoài, anh lý giải gì về điều này và nên thế nào?

HHM: Hoà giải hiển nhiên là cần phải có sự cố gắng thiện ý từ các phía.

Nhưng tôi xin đặc biệt nhấn mạnh điều sau đây.

Trong hoà giải, người có sức mạnh, người ở thế thượng phong, người « chiến thắng », phải là người chủ động, chìa bàn tay ra trước, bước về phía trước, nhìn nhận lại trước, chỉnh đốn mình trước, bền bỉ hơn, bao dung hơn.

Nếu không, thì là « thu phục », là « chinh phục », là « thu hút », v.v., nhưng chưa là « hoà giải ».

Sự hoà giải phải trở thành một lý tưởng lớn của xã hội, để kiến thiết lên một đời sống khoan dung bền vững, để « sang trang ». Hơn thế nữa, nó phải tinh tế, trau truốt, chỉn chu. Từng lời nói, tên gọi trong đời sống xã hội phải được cân nhắc, quá khứ phải được nhìn lại bao dung hơn. Lịch sử đời sống các vùng miền thời bị chia cắt phải được tái dựng, được bình thường hoá ở mức cao nhất có thể. Không thể nói đến lịch sử đời sống của đất nước trong giai đoạn 1945-1975 mà lại lờ đi hoặc thiếu vắng các sự kiện, con người của những vùng miền thuộc chính quyền Sàigòn quản trị. Cụ thể hơn, chúng ta đang truyện trò trên báo chí, vậy thì lịch sử báo chí Việtnam phải tái hiện lại được ngày càng đầy đủ, bao dung lịch sử báo chí phía nam trong giai đoạn 1945-1975. Ngôn ngữ lịch sử rất cần sự rõ ràng, trung tính, gọi « chính quyền Sàigòn », « chính quyền Việtnam cộng hoà » trong các văn bản, không gọi kiểu dân dã « chính quyền nguỵ ».

Năm ngoái tôi đến Buôn-mê-thuột, trên con đường đi về quảng trường trung tâm thành phố tôi gặp mô hình chiếc xe tăng treo cờ ở giữa quảng trường, chĩa nòng súng về phía trước nghênh đón tôi và mọi người. Suýt soát bốn mươi năm rồi, tại sao lại vẫn để cái mô hình đó ở ngay giữa quảng trường trung tâm? Thành phố này đã là của mọi người, đâu còn là thứ « mới giành được »? Một cử chỉ « nhỏ », nhưng đầy giản dị, đầy hoà giải, hoà giải với chính chúng ta, cho chính chúng ta: hãy chuyển cái mô hình xe tăng đó vào bảo tàng.

Sức mạnh, vẻ đẹp, sự giàu có, tương lai của một giàn nhạc có được khi các cây đàn và giọng hát trong đó vượt lên được khỏi cái triết lý cổ xưa « ai thắng ai », nơi mỗi người cố đánh và hát cho thật to hơn người khác, để chuyển sang biết kiến thiết, thương nghị, hợp tác, và thành công được những bản giao hưởng sáng tạo được chung viết, chung dựng của cả giàn nhạc.

DPV – Nhiều người cho rằng, đã đến lúc khẩu hiệu cần đề cao trong xã hội bây giờ là “dân chủ, trí tuệ, nhân văn” thay cho “tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” hoặc những thứ tương tự. Vậy theo anh cần bắt đầu từ đâu?

HHM – Các cộng đồng phát triển trên thế giới đã đi được những chặng đường rất dài, rất xa, rất căn bản. Tôi nói ví dụ cộng đồng châu Âu. Từ một lục địa với hai cuộc chiến thế giới khủng khiếp, hôm nay bạn xin một visa có giá trị chung luôn cho một loạt các nước ở đó, chạy ôtô qua các biên giới của mấy nước rồi mà « eo ơi quên khuấy mất lúc mình đi qua biên giới như thế nào nhỉ, tiếc quá không để ý», nhiều nước tiêu đồng tiền chung, hưởng hệ thống pháp luật đồng điệu, cùng viết lịch sử chung… Các khẩu hiệu đối lập đông-tây chỉ là những ảo ảnh của lối mặc cảm kiêu-ti, cần được cất đi vào viện khảo cổ. « Minh triết » là những cố gắng suy tưởng về những  sự thông thái có tính toàn vũ trụ, vậy mà nhiều học giả học thật xứ Việt lại còn sùi gắng bịa thêm ra bằng được những « minh triết phương đông » cô độc, tôi không hiểu họ muốn gì. Tinh thần khoa học cũng thế, chỉ có một tinh thần khoa học để gắng tiệm cận chân lý, làm gì có đến bốn tinh thần khoa học đông tây nam bắc tít mù khác nhau?  Chính mấy nước « minh triết phương đông » hôm nay cần phải vươn lên để học hỏi làm sao biết sống yên bình, hoà hợp, cộng tác, tôn trọng lẫn nhau hơn bao giờ hết, trước hết để các biển Á Đông bớt dậy những cơn sóng tham lam ích kỉ!

Nền cộng hoà là lý tưởng mở cửa đến với toàn nhân loại. Dân chủ, tự do, quyền làm người, trí tuệ là những lý tưởng ở ngay bên trong đó. Tuỳ các lĩnh vực mà, nếu bản sắc của chúng ta đã có đấy, thì chúng ta cố gắng bảo dưỡng chúng, và làm lan toả chúng, lan toả ra cả bên ngoài mình đến muôn nơi; và nếu bản sắc của chúng ta chưa có đó, thì chúng ta học hỏi, và dựng xây chúng. Dân chủ, tự do, quyền làm người, trí tuệ là cái nền tảng tốt nhất, bền vững nhất cho việc bảo dưỡng và phát triển các bản sắc.

Đặt vấn đề ngược lại, « đi từ bản sắc mà đi ra », là tối bưng, là không biết đằng nào mà lần, là không hiểu mình đang về đâu, là mở đường cho thiên hướng tự kỉ, như  nhân vật Lão tử từng mơ « đứng chót vót đằng sau thiên hạ ».

DPV – Cảm ơn anh.

Bài đã đăng trên Tiền Phong, Vănhoá Nghệ-an

Văn hào Nguyễn Du, Việt ngoan

 

HOÀNG Hồng-Minh

Thuở nhỏ tôi băn khoăn mãi, tại sao ông Nguyễn Du tài tình đến như thế, “tài tình chi lắm cho trời đất ghen“, tiếng Việt nhuần nhuyễn dấu yêu đến như thế, mà lại phải đi lấy cái chuyện nọ của Trung Hoa ra làm khung gốc, để rồi từ đó dựng lên bộ truyện thơ để đời của mình, “Kiều“. Rất nhiều nhà lý sự thay nhau cắt nghĩa điều đó, rằng do Trung Hoa vĩ đại, rằng do tác giả bị nấu quá nhừ trong tinh thần sùng Hoa, v.v…, và v.v… Tôi nghe, thấy… và không tỏ.

Sau này, tôi hiểu.

Tôi hiểu rằng văn hóa người Việt không cho phép ai chê trách một cách chính thức bộ mặt dày vết nhơ của mình cả. Ngồi ở góc bếp ngày xưa, hay bên quán nước trà cạnh cống rãnh vỉa hè ngày nay, trên núi non tiên bồng Yên Tử, hay ở ngay hành lang của tòa nhà nghị viện, bạn tha hồ chê bai bông phèng, được. Nhưng nếu bạn chính thức chê bai khuôn mặt có vết nhơ dày của nền văn hóa quê nhà, đừng tưởng nói xong, là xong: cứ để đấy, rồi sẽ đến lúc “cảo thơm lần giở trước đèn“. Văn hóa toàn đám đông đã là như thế, chính quyền vua tôi ngày xửa càng không thể nào có chuyện nương tay.

Vậy cho nên, ông Nguyễn Du đã phải làm một chuyến đi đường vòng vĩ đại, đương nhiên thôi, lấy chuyện giời ơi của người xứ lạ ra mà kể lại, để xả cứu lấy cái lòng mình nặng chịch, để còn nhẹ gánh lúc về tiên.

—-

Và, hết sức bất ngờ đối với ông, người Việt say mê cùng cực tác phẩm đó của ông, nó đẹp, nó đời, nó đau, nó điếng. Nó chả chạm đến lông chân ai. Người Việt của đủ mọi tầng lớp, từ người hát xẩm, tẩm quất, cho chí quan, chí vua.

Ông Nguyễn Du không những có tài tự kiểm duyệt mình. Ông đã kiểm duyệt hộ luôn cho toàn thể dân tộc Việt.

Vì thế, nên chuyện Kiều rất Việt, mà lại không hề Việt. Thế, mới là Việt. Việt ngoan.

Vănhóa Nghệ-an

Sáu mươi tám năm độc lập

HOÀNG Hồng-Minh

Nước Việt hiện đại ghi dấu nền độc lập từ năm 1945.

Bắt đầu với « Đế quốc Việt nam » được Nhật bản hậu thuẫn trao trả độc lập về danh nghĩa (17/04/1945-23/08/1945), rồi đến « Việt nam dân chủ cộng hòa » ra đời từ 02/09/1945, 68 năm đã trải qua, tính đến hôm nay.

68 năm ấy, trong bối cảnh của sự gầm ghè của thế giới phân cực ý thức hệ, các cuộc chiến tranh, các xung đột, các chính thể, các đảo lộn đời sống, các bế tắc, tất cả những cái đó đã cản phá công việc xây dựng vật chất một quốc gia Việt thống nhất. Chỉ từ 1975 đất nước mới thực thụ liền một dải.

Nhưng sáu mươi tám năm ấy là một thời gian hoàn toàn thật, rất dài, và hoàn toàn liền mạch, cho công cuộc suy tư. Suy tư về việc tổ chức đời sống tương lai cho con người, xây dựng nền cộng hòa pháp quyền, thực thi các quyền làm người, thiết kế nền tảng nhân hậu cho toàn bộ đời sống xã hội, và bảo dưỡng hành trình đi đến tự do cho mỗi con người xứ Việt.

68 năm ấy, quá đủ dài để phải thay đổi được triệt để lối suy nghĩ, để kiến tạo nên sự đồng thuận cho xã hội Việt hiện đại, vượt qua những ấu trĩ đồng nát thuở mới thoát thai từ nền độc tài phong kiến cực quyền Khổng giáo – lại bị quàng thêm nền đô hộ thực dân, để đứng lên chỉnh đốn lại đời sống cho đàng hoàng, đĩnh đạc, ấm no, hiện đại.

—-

Và ngày hôm nay, con người Việt đã sẵn sàng cho việc cải dựng cuộc đời mới.

Con người Việt hôm nay đã được mở rộng học hành, mở mang kinh doanh, được thông tin rộng khắp trên lĩnh vực toàn cầu trong thời gian thực. Các cơ hội và nguy cơ của đời sống được mở ra ngồn ngộn, trong nước, ngoài nước, thế giới. Xã hội cần sự quản trị, và hơn như thế, sự tự-quản trị. Khi một thực thể tăng gia tốc, cũng là lúc nó đòi hỏi phải có được nền vận hành qui củ rộng khắp với các năng lực tự-quản trị được mở rộng hoàn toàn ở mọi cấp độ, để xã hội luôn luôn đủ khả năng tự điều chỉnh được nhạy bén. Trình độ của tự-quản trị cũng chính là năng lực của tự do.

Năng lượng tích tụ bao giờ cũng mang kèm theo nguy cơ, nguy cơ không điều khiển được năng lượng, gây bùng nổ tan vỡ. Nguy cơ ấy phải được hóa giải bằng trình độ hiểu biết, năng lực tổ chức và các thiết chế thích ứng. Xã hội công dân cũng chính là một đặc trưng của một xã hội bắt đầu đi vào giai đoạn phải biết tự-quản trị.

68 năm, thời gian đã quá dài cho suy ngẫm. Các bài học thành và bại đã đủ để làm cho xứ Việt khôn lớn, và để quyết đoán.

68 năm, chào xã hội sang trang cải cách, dứt khoát, cất cánh./.

Vănhóa Nghệ-an

Đỉnh cao – V

Bác Tộ mời Cụ Hinh ở lại ăn cơm cho vui, vì bác Tộ gái đang về quê, quạnh cả bếp.

Cụ Hinh giúp bác Tộ bóc mấy gói mỳ ăn liền.

Bác Tộ hỏi.

-”Cụ Hinh à, định lý nào là quan trọng nhất trong triết học?”

-”Ôi bác Tộ, bác hỏi khó quá ạ.”

-”Định lý ‘không có cái gì không dính đến cái gì’.

Nắm được định lý này, không có gì mình không biết liên tưởng, để mà giải thích ra được tất cả.

Cụ Hinh rửa xong chỗ rau muống chưa, để tôi cho vào nồi mì nào. Mà Cụ Hinh nhớ nhặt bỏ hộ mấy cái dây cà bị lẫn vào chỗ dây muống nhé.”


Vănhóa Nghệ-an

Thế nào là “bình thường” – II

Mỵ Châu nghe chuyện, bảo.

-“Em khó hiểu quá, Cụ Hinh à.

Thế rốt cục, cái ‘bình thường xứ Việt’ ấy, được kết lại thành cái gì ạ?”

-“Thành cái cày được đẽo tập thể xong, nằm quay cu lơ, ở giữa đường giữa chợ.”


Vănhóa Nghệ-an

Rõ ràng, với chính mình

HOÀNG Hồng-Minh

Hết tuần trà, cụ Ty mời Cụ Hinh lên gác thăm gian sách của mình.

Cơ man nào là sách. Những bộ sách quí hiếm đã được sưu tầm từ muôn nơi, và thường được bổ sung khá đều đặn. Cụ Hinh cứ dán mãi mắt vào chúng, với những điệp khúc « giá mà » tự vang vọng lên trong đầu mình.

Gian sách rộng rãi, được ngăn vách chia thành từng không gian riêng biệt, theo các lĩnh vực tinh thần khác nhau.

Trong không gian « Chính trị – Xã hội », Cụ Hinh để ý đến những bức tượng nhỏ được bày ở nơi đây.

Xa nhất ở ba góc, đó là các bức tượng các ông Khổng Khâu, Phật, Lão Đam, làm thành một thế chân vạc.

Nhích lên gần hơn về phía trung tâm không gian theo chiều sâu, và nằm so le với các bức tượng Khổng Khâu, Phật, Lão Đam theo đường vành đai, là các bức tượng các ông Marx, Lenin, Stalin, Mao.

Cụ Hinh hỏi.

-“Ý cụ Ty bày tượng các vị này ở không gian này là ra sao ạ?”

-“Tôi nhìn nhận đây là những vị từ xứ ngoài có ảnh hưởng lớn nhất đến tư tưởng chính trị – xã hội Việt, tính vào thời điểm hiện trạng.”

-“Ảnh hưởng của họ lớn đến mức nào ạ?”

-“Rất, rất lớn. Vì họ đã vượt qua được biết bao nhiêu lớp các cửa ải của sự khác biệt về văn hóa, tập tục, để vào được xã hội Việt, và giành được chỗ đứng trong đầu óc của đông đảo người Việt.”

-“Cách cụ Ty bày tượng các vị này ở đây như thế nào ạ?”

-« Tôi bày, và chỉnh theo thời gian, vị trí của các bức tượng theo cảm nhận của tôi về độ ảnh hưởng tinh thần của các vị này trong không gian tinh thần chính trị-xã hội của xã hội Việt.

Độ ảnh hưởng này tôi cảm nhận không phải chỉ từ phía tầng lớp trí thức, hay chỉ từ phía người làm chính trị, mà từ khắp mọi tầng lớp trong xã hội, kể cả từ những người tưởng như cả ngày chỉ lo có chăn trâu cắt cỏ, hay đạp xích lô, hay hành nghề bói toán, hay ngồi vẽ truyền thần, v.v.

Tất nhiên là cảm nhận của tôi mang cả tính chủ quan của riêng mình.»

-“Việc cụ Ty bày tượng các vị này ở đây mang ý nghĩ riêng ra sao ạ?”

-“Để mình luôn luôn ý thức được rõ ràng về các lực hút, lực đẩy từ bên ngoài quan trọng nhất đến với xứ sở, chúng đã và đang có hiệu ứng đến đời sống tinh thần của xứ sở hiện tại ra sao.

Và từ đó mình cố hiểu hơn, ý thức rõ ràng hơn về xã hội của mình, về chính bản thân mình.”./.

 Vănhóa Nghệ-an

Quảng trường Café

Bạn của bạn Uyeen trao chiếc xe máy cho bạn Cụ Hinh để cùng lượn Buônmêthuột tìm quán café, thế rồi cả hai bạn ấy lên xe kia chạy tuốt lên đằng trước. Cụ Hinh gọi với “Thế không sợ mất xe máy à?”, hai bạn cười mỉm, được thể càng phóng vọt lên.

Nhiều hàng café quá, thành ra khó lựa chọn.


#Ảnh HHM

Rốt cuộc thì rồi bạn bè cũng tụ được ở bên tách café. Cụ Hinh được hỏi rằng tự mình cảm thấy thế nào về phố phường cùng café Buônmêthuột.

-“À nếu được phép ‘thể hiện’, thì thế này nhé.

Quảng trường trung tâm thành phố từ rày sẽ lấy tên là Quảng trường Café, và cất cái hình xe tăng ở đó vào nhà bảo tàng.

Quảng trường này sẽ thành ra khu đi bộ.

Vòng quanh quảng trường sẽ là đủ các hàng café mở ra đón muôn người. Nhạc nhẽo của mỗi cửa hàng không được mở to, chỉ thì thầm thôi nghen.

Hàng tuần sẽ tổ chức một hai giờ ca-múa-nhạc-kịch ngoài trời nơi đây, không lấy tiền, và cho mọi người. Ban tổ chức bày sân khấu sẵn thiết bị trang âm, và nhận các đăng kí của các nhóm tự do để tham gia cùng vui chơi.

Hàng năm ở chỗ này sẽ tổ chức đăng quang ‘Nữ hoàng Café’.

Vậy đó, có được không à?”

Hai bạn cười ngất, sánh hết cả café.

Văn hóa Nghệ-an

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 96 other followers