RSS Feed

Tag Archives: viet

Nông dân

Phan Cẩm Thượng

 

1.

Cho đến nay Việt Nam vẫn là một xã hội nông nghiệp, đa phần dân số vẫn là nông dân, lấy canh tác trồng trọt trên đồng ruộng làm chính. Thành phần nông dân trong dân số theo thời gian có thay đổi ít đi, nhưng trong thế kỷ 19 nông dân có thể chiếm đến 95% dân số. Đến Cách mạng Tháng Tám năm 1945, người ta cho rằng nông dân chiếm 90% dân số và đa phần mù chữ. Một xã hội nông nghiệp, một dân tộc đa phần là nông dân, tất yếu tâm lý, văn hóa và tương lai phát triển đều có thể nhìn nhận qua cái nhãn quan nông dân cả.

Chàng ơi cho thiếp theo cùng
Đói no thiếp chịu lạnh lùng thiếp cam

Thấy anh, em cũng muốn theo
Em sợ anh nghèo, anh bán em đi
Lấy anh, em biết ăn gì
Lộc sắn thì chát, lộc si thì già
Lấy anh không cửa không nhà
Mẹ cha không có biết là cậy ai.
(Ca dao)

Thời cổ đại và trung cổ ở Việt Nam không được phân chia rõ ràng như ở phương Tây hay những nền văn minh lớn trên thế giới. Giai đoạn chiếm hữu nô lệ gần như không xuất hiện ở phương Đông (Viễn Đông), trong đó có Việt Nam, và cũng không xuất hiện nhà nước chiếm hữu nô lệ như Ai Cập, Lưỡng Hà, La Mã. Nhưng nông nô vẫn có và cũng bị áp bức bóc lột tàn tệ như bất cứ chế độ nô lệ nào trên thế giới và họ là lực lượng lao động không công trong hòa bình, là lá chắn sống trong chiến tranh.

Chế độ nông nô ở Việt Nam ra sao, hiện dường như không có nghiên cứu nào cả, và nó chỉ lờ mờ xuất hiện trong các văn bản lịch sử, trong vài dấu tích khảo cổ. Trên trống đồng Đông Sơn, có những hình khắc xử tử tù binh trên những con thuyền, họ hoặc bị lấy giáo đâm vào đầu, hoặc bị dùng rìu, búa đập vào đầu như một nghi lễ tế thần, xung quanh có các chiến binh nhảy múa, reo hò. Chiến tranh sinh ra tù binh và những người này hoặc bị bắt làm nông nô (nô lệ?) hoặc bị đem tế thần, nhất là những giai đoạn đói kém người ta không nuôi được thêm người.Chế độ nô lệ hoang dã và ngây thơ cũng xuất hiện trong xã hội sơ khai Tây Nguyên. Những người được coi là nô lệ hoặc bị bắt trong những cuộc chiến tranh bộ lạc, play, hoặc nợ nần không trả được phải đi làm nô lệ. Nhưng nô lệ ở Tây Nguyên sống chung với gia đình chủ nhà, được coi như thân thuộc, được lấy vợ chồng và tương đối tự do trong khuôn khổ của gia đình đó, thậm chí nô lệ cũng có nô lệ riêng, đó là hậu quả của những món nợ chồng chất, người này nợ người kia mà phải làm nô lệ, rồi bản thân người mắc nợ cũng từng là chủ nợ, hoặc chính chủ nợ cũng mắc nợ, đến mức có nô lệ mà phải đi làm nô lệ. Một tình trạng dường như chỉ thấy ở những xã hội rất hồn nhiên và tôn trọng sự sở hữu.

Trong thế kỷ 11 – 14 với hai triều đại Lý – Trần, chế độ nông nô có xuất hiện cùng với điền trang thái ấp, tức là những quan lại quý tộc giàu có, có đất phân phong và gia nô. Gia nô có thể được mua lại từ người nghèo, và nhà Lý đã từng có quy định cấm mua bán hoàng nam từ 16 tuổi trở lên làm nô lệ, như vậy gia nô thời Lý chủ yếu chỉ giới hạn ở trẻ con làm việc nhà, không được phép phát triển đến người trưởng thành.

Thời Trần nông nô là lực lượng lao động chính trong điền trang thái ấp và sau đó do tình hình chiến tranh liên miên, nông nô tham gia vào đội quân của điền trang, có những người trở thành tướng lĩnh quan trọng, như Yết Kiêu và Dã Tượng – hai nông nô trông voi ngựa và thuyền của Trần Hưng Đạo.

Lực lượng nông nô luôn được bổ sung trong các cuộc chiến tranh với người Chàm. Ở trong các đình đền, hiện còn nhiều pho tượng người quỳ hầu hoặc bưng đèn được gọi là Phỗng Chàm, chính là những tù binh bị bắt trong chiến tranh. Trong đó còn có một nhân vật bị bắt trong chiến tranh với người Chàm thế kỷ 11, là sư Thảo Đường, lúc đầu làm gia nô, sau trở thành Quốc Sư của nhà Lý.

Hồ Quý Ly muốn hạn chế vai trò của quý tộc Trần, bèn giải tán dần các điền trang thái ấp, giải phóng các nông nô, biến họ thành binh lính và nông dân. Người ta cho rằng nông nô thời Trần có khắc trên trán ba chữ Quan Trung nô. Song bất luận thế nào, nông nô chỉ là một phần của xã hội Lý – Trần, vai trò của nông dân tự do mới đưa nhà Lý – Trần đến chiến thắng trong các cuộc chiến tranh và như vậy nông dân ngay trong thời đại phong kiến tự chủ là một thành phần đông đảo, lực lượng lao động chính của xã hội nông nghiệp.

Cái tương quan địa chủ – nông dân được nhắc nhiều đến trong cơ cấu nông thôn, nhất là từ thế kỷ 15, sau cuộc khởi nghĩa Lam Sơn của Lê Lợi. Bản thân Lê Lợi cũng được coi là một ông địa chủ mới, thay cho hình ảnh của một quý tộc điền trang thái ấp kiểu thời Trần. Các làng xã trưởng thành, với hai thành phần chính là nông dân và địa chủ. Khái niệm địa chủ thật mơ hồ, vì nó chỉ có nghĩa là chủ đất, nông dân cũng có đất, nhưng ít hơn địa chủ, và địa chủ được coi như giai cấp bóc lột trong làng. Có bao nhiêu ruộng thì được coi là địa chủ, điều này cũng được quy ước tương đối, và bản thân địa chủ cũng từng là nông dân cày ruộng, tích cóp, cho vay nặng lãi và tích lũy vốn bằng đất đai. Ruộng của nông dân chỉ đủ ăn là nhiều, còn do có nhiều ruộng hơn mà địa chủ không chỉ đủ ăn mà còn có thể cho vay vào những khi nông dân đói, hoặc thu mua thóc khi nông dân thừa. Địa chủ là một thứ nông dân trở nên giàu có, có nhiều ruộng và trâu. Mọi nông dân đều mơ ước trở thành địa chủ, nhưng sẽ đem địa chủ ra đấu tố nếu có cải cách ruộng đất. Đó chính là tâm lý của người nông dân Việt Nam.

Chế độ phong kiến dù bóc lột nông dân nhưng luôn coi trọng nông dân ít nhất về mặt lý thuyết. Dĩ nông vi bản – lấy nông nghiệp, nông dân làm gốc. Mạnh Tử còn nói: Dân vi quý. Xã tắc thứ chi. Quân vi khinh – Dân (nông dân) là quý nhất. Xã tắc thứ nhì. Còn quân vương là đáng khinh. Thật là đề cao nông dân một cách tuyệt vời, và các vị quân vương cũng chấp nhận cái khẩu hiệu đó. Dân gian có câu: Khi thường nhất sỹ nhì nông / Hết gạo chạy rông / Nhất nông nhì sỹ. Quan hệ giữa sỹ và nông trong xã hội phong kiến xưa là một quan hệ phức tạp, phụ thuộc lẫn nhau, có thể hoán đổi địa vị, nhưng về căn bản là khó khăn.

Các triều đại phong kiến đều khuyến học, mở ra những khoa thi, ba năm một lần, không kể ân khoa đột xuất. Con em nông dân đều có thể đi học chữ Nho, đạo Khổng Mạnh rồi tham gia thi cử, mỗi kỳ thi có vài chục người đỗ tiến sỹ đều có thể được bổ làm quan, nếu không làm quan, ít nhất họ trở thành các bậc đại khoa, được trọng vọng, và nhà vua điều đình với làng xã cắt đất cho họ. Kẻ sỹ ăn lộc vua, đề cao vua, trung với vua, chết cho vua, là tấm gương cho nông dân ngưỡng vọng. Nếu họ được tập ấm thì chức tước, ruộng đất giữ đến con cháu, nếu không được tập ấm thì hết đời ông quan phải trả lại chức tước, ruộng đất cho triều đình. Làm thợ thủ công, đi buôn có thể có nhiều tiền hơn, mua được nhiều ruộng đất hơn, nhưng đó là xuống giai tầng thứ ba thứ tư, sẽ không được đi thi trở thành kẻ sỹ. Thành thử đó là lý do tại sao nông dân chiếm đa số, công nghệ và thương mại không phát triển, vì làm nông dân còn có hy vọng đổi đời, một đập nên quan.

Chúng ta cần xem xét người nông dân trước khi tiếp nhận Khổng giáo và người nông dân sau khi tiếp nhận Khổng giáo, đây chính là tương quan người nông dân Mường và nông dân Việt (Kinh), nếu coi người Việt (Kinh) có nguồn gốc từ người Mường. Sự phân tách có thể là rõ ràng vào thế kỷ 9 – 10, nhưng thực ra là cả một quá trình lịch sử lâu dài để người Mường xuống đồng bằng và chịu ảnh hưởng Hán hóa trở thành người Việt (Kinh). Chữ Mường (Muang) có nghĩa là đất, vùng đất, chữ Kinh cũng có nghĩa như vậy, nhưng là đất trung tâm. Người Việt Mường xuống đồng bằng vẫn giữ nguyên khái niệm Kẻ (vùng đất) để chỉ những nơi quần cư. Chữ Kẻ này mang ý nghĩa tập tục, sự riêng biệt về địa vực và những sở hữu tinh thần, vật chất riêng của một vùng coi như bằng làng xã. Hà Nội – Thăng Long được coi là một Kẻ lớn, gọi là Kẻ Chợ, và tất cả các Kẻ khác đều bắt đầu bằng một chữ: Kẻ Lủ (Kim Lũ), Kẻ Sặt (Trang Liệt), Kẻ Thú (Tư Thế), Kẻ Mễ (Mễ Sở), Kẻ Thấp (Bút Tháp), Kẻ Niềm (Viêm Xá)… Tên Hán có hai chữ được đặt thêm vào cho có chữ nghĩa và được viết trong chính văn tế lễ hay văn bia, văn bản hành chính. Nhưng hằng ngày, người ta cho đến nay vẫn thích dùng tên Nôm một chữ hơn.

Người nông dân Mường trong xã hội Mường có hai thành phần chính thấp nhất là Nóc và Nóc chọi. Chữ Nóc ở đây chỉ mái nhà, hộ gia đình, một Mường ít thì có vài chục Nóc, nhiều thì trăm Nóc. Nóc chọi là những gia đình, con người bần cùng, không có ruộng, thân phận như nông nô, canh tác trên nương, phục dịch nhà Lang và không bao giờ được thay đổi thân phận trừ trường hợp cứu mạng Lang. Nóc sở hữu những ruộng bình thường trong Mường, không rộng nhất và cũng không tốt nhất, còn Lang truyền đời sở hữu những ruộng lớn nhất, tốt nhất cùng nhiều quyền lợi mà các giai tầng khác phải phục dịch. Thoát khỏi xã hội Mường, người nông dân chí ít có sự bình đẳng về mặt học hành, làm quan và sở hữu ruộng đất, họ gia nhập vào một xã hội có thể thay đổi, trừ gia nhập vào hoàng tộc. Trong làng lý trưởng là do dân bầu; quan viên hương lão, kỳ hào, kỳ mục hoàn toàn không cố định mà dựa trên sự phấn đấu của cá nhân, gia đình, nhất là trở thành giàu có; còn trở thành già thì ai cũng đến lượt, càng sống lâu thì càng có vai vế, tiếng nói càng có trọng lượng, không lo mất phần. Để đổi lại họ phải chấp nhận Khổng giáo, hay Tam giáo nói chung (Nho Lão Phật). Nhưng rồi xã hội nào cũng có kẻ bần cùng, đối với làng đó là mõ – những người nghèo ngụ cư, từ nơi khác đến, ở nhờ một làng mới, và được làng đó chấp nhận, và bần cố nông – những người nông dân mất đất chỉ còn cách cầy thuê cuốc mướn, bần cùng thì bán vợ đợ con. Vợ con những người này nếu đem đi cầm cố thì có trở thành nông nô hay không, đây là một câu hỏi chưa bao giờ được trả lời rõ ràng. Chủ nợ có quyền sai bảo con cái người bị cầm cố như gia nô, và biến vợ anh ta thành tỳ thiếp, cho đến khi nợ được trả hết thì có thể đem vợ con mình về. Đây là một quá trình tàn khốc, và chỉ được nhắc đến một cách tế nhị, như là sự sợ hãi về tâm lý, khi gán vợ thay cho nợ, một thực tế không hiếm hoi ở nông thôn.

Người nông dân Mường không có tôn giáo ngoài tín ngưỡng không rõ rệt được gọi là Mo. Đó là trời, là thần và là những thế lực thiêng liêng không hiểu được. Nhưng Mo cũng như người thường, ăn ngủ nghỉ đi làm, vui buồn… nghĩa là đời sống thế nào, đấng tối cao cũng như vậy và hoàn toàn yêu thương che chở cho người sống. Vạn vật đều có linh hồn. Khi trong nhà có tang, người ta dán tang cho cả gia súc, đồ đạc, vì chúng cũng có linh hồn, cũng xót thương người đã chết.

Khi thành người Việt thì vấn đề tín ngưỡng trở nên khác rồi. Người Việt lấy Phật giáo làm quốc đạo, bên cạnh đó tục thờ tổ tiên vẫn duy trì, và gia nhập một số tín ngưỡng địa phương vào đạo Phật, điển hình là hiện tượng Phật Mẫu trong tín ngưỡng Tứ Pháp, thờ Mây – Mưa – Sấm – Chớp. Saman giáo cũng có trong hiện tượng đồng cốt và nghi lễ thờ tam tòa thánh mẫu.

Nói người Việt có tôn giáo không hẳn đúng và cũng không hẳn không đúng. Đời sống tôn giáo của người Việt rất không rõ ràng, có thể tất cả đều là Phật tử, nhưng có việc, hoặc ngày rằm mùng một mới lên chùa, không thực hành tôn giáo trong thường nhật. Đạo Nho, đạo Lão, đạo Phật mỗi thứ một chút, cái thì là đạo đức, cái thì là tín điều, cái thì là thần thánh… và được lựa chọn từng phần mang tính thực dụng. Tuy nhiên có thể nói, Khổng giáo và những tôn chỉ của nó đã được người Việt chấp nhận trong việc trị nước và tổ chức gia đình.

Mô hình Ấn Độ giáo ở Đông Nam Á phù hợp với tình trạng phân cắt của các tiểu quốc, nhưng người Việt muốn có một quốc gia tập quyền vững mạnh, nên họ ngả theo mô hình Khổng giáo phương Bắc, trong khi người Champa, người Lào, người Khmer, người Thái theo Phật giáo phương Nam và Ấn Độ giáo, không có chút Nho giáo nào. Nho giáo ràng buộc người Việt trong một xã hội nhiều nghi lễ, nghi thức phức tạp, mất đi tính giản dị và không tích lũy của người Mường, tôn quân trọng đạo, và tổ quốc chỉ được chú trọng khi có ngoại xâm, còn bình nhật cái làng mình là to nhất. Những nghi lễ phức tạp trong đời sống và tín ngưỡng của người Hán cứ dần nhập vào làng xã, nhất là theo Thọ mai gia lễ, bói toán, xem địa lý, tử vi, gieo quẻ, bấm độn, chọn ngày xấu tốt… tất cả nhập hết vào ngôi chùa, đánh đồng ông sư, bà vãi, thầy cúng, pháp sư, thầy bói, phù thủy, thầy tướng, thầy địa lý vào cùng một chức năng, mà không mấy khi tìm hiểu sự thật là gì. Bàn thờ Phật ngày một trở nên đông đảo thành một tín ngưỡng đa thần. Và người nông dân cứ hồn nhiên tin vào tất cả thế giới đa thần, rồi bỗng một lúc lại chỉ tin vào kinh nghiệm của chính mình, nhất là khi đụng vào thửa ruộng của họ. Người nông dân Việt do đó vừa mê tín, vừa duy vật thô thiển, vừa đơn giản và vừa phức tạp, vừa không trở thành công dân, nhưng lại lắm điều, hay bàn tán nhất, thích một ông vua tốt hơn là một xã hội dân chủ, nhưng lại là những chiến binh quả cảm khi bảo vệ từng tấc đất của tổ quốc.

Sự hình thành người nông dân nằm trong quá trình phân công lao động xã hội từ các công xã nguyên thủy, nơi tất cả đều săn bắn, hái lượm và làm chiến binh như nhau. Trong di tích Đông Sơn, các trống đồng cho thấy sinh hoạt săn bắn, đánh bắt cá trên thuyền nhiều hơn là canh tác trên ruộng nương và tất cả đều là chiến binh. Tín ngưỡng Tứ pháp thờ Mây – Mưa – Sấm – Chớp ở các vùng Thuận Thành, Gia Lâm, Văn Lâm, Thường Tín cho thấy vào đầu công nguyên, nhu cầu mưa thuận gió hòa cho nông nghiệp đã xuất hiện và nhu cầu này kéo dài đến tận thế kỷ 19 – khi cần chống lụt và hạn, mà con người bất lực thì cầu đảo. Lịch sử của các tuyến đê cũng là lịch sử nông nghiệp Việt Nam khi cần thiết phát triển đồng bằng trồng lúa ổn định. Người nông dân đã hình thành trong những quá trình đó, nhất là sau này hình thành cùng với sự phát triển ổn định của các làng xã nơi nông dân cư trú. Người nông dân Việt phong kiến có tính cách đặc biệt là không chạy theo vua trong bất kỳ cuộc rút lui vì xâm lược nào, họ sống ẩn náu trong những ngôi làng, mà thực chất triều đình phong kiến chỉ biết họ qua thuế đinh, thuế điền. Hàng vạn ngôi làng rất khác nhau về tập tục hương ước, nhưng rất giống nhau bởi một tính cách nông dân Việt Nam.

2.

Người nông dân có nhiều tính cách khác nhau hơn là người ta tưởng.

Trong điều kiện hòa bình ổn định, không quá đói kém mất mùa, người nông dân biểu hiện là những người hiền lành chất phác, hiếu khách, trọng lễ nghĩa. Trong điều kiện sống khó khăn, bị áp bức bóc lột, họ trở nên linh hoạt, và đôi khi rất hung bạo. Người nông dân cũng không quá nhu mì, trông đợi vào hoàn cảnh, mà luôn nghĩ đến cách thoát ra khỏi thực tế khó khăn, nếu cảm thấy điều kiện thực tế là có thật, thì không ngần ngại thay đổi. Điều đó thể hiện trong cuộc Nam tiến suốt 500 năm từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 19. Hình ảnh ông ba bị, chính là những nam nông dân đi theo cuộc bình Nam của các chúa Nguyễn – một tay lính, khoác trên người ba cái bị, một bị đựng đứa con trai, một bị quần áo và một bị gạo. Cuộc chia ly với gia đình ở Đàng Ngoài cầm chắc là không bao giờ quay lại, và nếu có chết dọc đường thì đứa con trai sẽ tiếp tục nam tiến cũng như chôn cất và trông nom việc giỗ bố. Tay lính đó sẽ lấy một cô vợ người Chàm, và những đứa con mới ra đời sẽ nói tiếng Việt bằng giọng Chàm, đó chính là tiếng Quảng Nam sau này.

Một đứa bé sinh ra trong gia đình nông dân ở làng xã tưởng chừng như lớn lên một cách tự nhiên, nhưng thực tế được chăm sóc kỹ không chỉ bởi gia đình, mà cả họ hàng, và làng xóm. Nó sẽ được rèn luyện các kỹ năng lao động, bé thì đi chăn trâu cắt cỏ; lớn chút nữa thì đi nhổ mạ, bắt cua cá, đập đất, tát nước; rồi cuối cùng là cày bừa. Đến đoạn cày bừa chủ yếu dành cho nam thanh niên; còn thiếu nữ tách ra học nấu nướng, thêu thùa, xay lúa, ẵm em, gánh nước, giặt giũ.

Ngoài những công việc thông thường, người nông dân còn học một số kỹ năng thủ công, đục đẽo, làm vì kèo, đắp đất, đóng gạch, dựng nhà, đan lát đồ thủ công. Họ cũng phải tham gia công việc cộng đồng, xây đường làng, dựng nhà cho vợ chồng mới, làm cỗ, đi phu phen tạp dịch. Học vấn không quá quan trọng so với việc thực hành nghề nông trong lao động hằng ngày. Rồi trong đám thanh thiếu niên đó, một số sẽ được gửi đến nhà các ông phó học nghề thủ công; một số khác đi học chữ Nho, có thể ngay từ ông đồ làng, hoặc lên huyện, lên tỉnh học ông giáo thụ nào đó, rồi tham gia thi cử ngay từ 15, 16 tuổi; nếu qua ba – bốn khoa mới thi đỗ, tức là mất từ 9 đến 12 năm, thì anh ta có ra làm quan, năm 27 – 30 tuổi.

Bên cạnh đó, mọi nam nữ nông dân đều phải nắm kỹ các luật tục truyền thống, nhất là trong quan hệ nhân luân, luyến ái, vì nếu phạm luật tục, họ sẽ bị xử phạt không thương tiếc. Nữ có thai ngoài giá thú, thông dâm, ngoại tình, nặng nhất sẽ bị buộc vào bè chuối thả trôi sông; nam bị phạt tiền, bỏ tù và ngả vạ khao làng. Bữa cỗ này có thể làm cho gia đình phá sản.

Vị trí của anh chàng và cô nàng nông dân được cả dòng họ bàn tán, sắp đặt. Đứa này đi cày, đứa kia gả cho trai làng khác, đứa nọ đi học nghề, đứa kia đi thi đỗ ông nghè, ông cống, đứa nọ đi buôn hay dệt vải chăn tằm. Cũng giống hệt bây giờ, một thanh niên nông thôn được cả gia đình và dòng họ quan tâm – làm ruộng hay thoát ly, đi lao động xuất khẩu hay thi đại học. Ở hoàn cảnh xã hội ổn định, mà người xưa gọi là thời thái bình thịnh trị, vua sáng tôi hiền, người nông dân hoàn toàn yên tâm về sự lựa chọn con đường cho con em mình, bởi ngành nghề xã hội chỉ có thế. Ở hoàn cảnh xã hội hiện đại, người nông dân phải gồng mình cố gắng hơn rất nhiều để đưa một người con vào đại học. Nếu có ba bốn con thì họ phải phân chia, đứa đi làm, đứa đi học, đứa ở nhà lấy chồng lấy vợ, chăm bố mẹ. Cái guồng máy và thói quen làng xã này có lẽ ngàn năm qua chưa thay đổi, mặc dù cuộc sống đã biến động hoàn toàn.

Bà mẹ nông dân vẫn đi làm đồng ngay cả khi chửa vượt mặt, đẻ con là một cuộc vượt cạn nguy hiểm, khi y tế phong kiến rất hạn chế, và các bà đỡ hoàn toàn là lang vườn. Người ta sẽ xem bộ phận sinh dục của nó đầu tiên để đánh giá sự trưởng thành bằng năng lực tính dục. Bé trai phải chim to và bé gái phải đít to. Nếu là con đầu lòng, đôi vợ chồng trẻ nông dân sẽ được gọi theo giới tính của đứa bé, ví dụ đẻ con trai sẽ gọi là anh Bòi Năm chị Bòi Năm, đẻ con gái sẽ gọi là anh Đĩ Năm chị Đĩ Năm, tên con đầu lòng sẽ được gọi cho bố mẹ, thậm chí người ta quên cả tên chính của bố mẹ đứa trẻ.

Trong gia đình sự sinh đẻ được khuyến khích theo kiểu càng nhiều càng tốt, kể cả chó mèo, gà vịt, nên đôi khi cả mẹ và con gái cùng đẻ, và những người phụ nữ có thể thay nhau trông nom trẻ con, tình trạng em bú chị, cháu bú bà, cũng tạo ra sự gắn kết tình cảm giữa bà, mẹ và chị với đứa trẻ. Bắt đầu biết ăn, mẹ hay bà sẽ nhai cơm rồi mớm cho nó, men tiêu hóa của cánh phụ nữ sẽ làm cho trẻ ăn dễ tiêu, ngược lại nước đái của trẻ con sẽ được người lớn dùng để đánh gió, bóp chân tê thấp. Gia đình đông dần, chị phải bồng em, bé trai phải đánh nhau với trẻ làng để bảo vệ trẻ nhà mình, tất cả thả rông, tự lớn, chơi nghịch trong cái làng nhỏ. Bé gái sẽ được cạo trọc để ba chỏm trên đầu, bé trai để một chỏm che thóp, chân tay chúng có thể được đeo vòng bạc có gắn lục lạc chống gió.

Con trai đầu lòng trở thành anh cả, sẽ được đưa dần thành trưởng nam, thay mặt bố tiếp cơm khách, đi mời hàng xóm, theo cha đi tế lễ, và dần được giao địa bạ, khế ước của gia đình. Trưởng nam sẽ không thoát ly mà ở lại trông nom bố mẹ, ông bà, sẽ được lấy vợ sớm, và giữ hương hỏa cho gia đình, nhân vật này luôn được kính trọng trong dòng họ và y phải biết cách làm vừa lòng cả làng cả nước cả họ. Tay trưởng nam đó một ngày trở thành ông chủ gia đình, cả nhà không bao giờ được phép ăn cơm trước ông, đôi khi ông ăn mâm riêng với cỗ lòng, cút rượu, hoặc một mình tiếp khách một mâm. Mọi ý kiến cuối cùng của ông sẽ thành nghị quyết trong gia đình, đó là một ông vua nhỏ gọi là gia trưởng, sau này chữ gia trưởng trở thành từ chỉ phẩm chất là người độc đoán trong gia đình. Ông phải chịu tất cả các trách nhiệm về vụ mùa, thu hái, ruộng đất, thuế má và phu phen của gia đình với cộng đồng làng xã. Đồng thời ông cũng quyết định tương lai nghề nghiệp, học hành và nhân duyên của các thành viên trong nhà. Ông sẽ thay mặt cả nhà ra đình họp với các cụ. Chế độ quân trưởng của xã hội phong kiến gắn bó với chế độ gia trưởng của xã hội ấy, chừng nào mà người đàn ông Việt còn gia trưởng thì họ còn tán thành ông vua.

Trong cái chế độ quân trưởng và gia trưởng, người phụ nữ Việt vẫn có vai vế nhất định, mà người ta gọi là nhất vợ nhì trời. Từ một cô gái yếu đuối, người đàn bà lấy chồng là bắt đầu đầu tắt mặt tối. Cô ta phải dậy từ ba bốn giờ sáng, thậm chí là nửa đêm, nấu cơm cho cả nhà và thợ cày. Đôi khi người ta đi cày từ giữa đêm do tình trạng thiếu trâu, nhiều nhà chung một con trâu. Rồi dọn dẹp, trông con, giặt giũ, cấy hái, gánh nước, xay lúa, chợ búa… cho đến tận tối mịt. Lấy chồng lúc 15, 16 tuổi, ngoài 20, người phụ nữ đã có vài mụn con và sớm già. Người Việt cổ không dùng từ yêu mà dùng từ thương, từ này rất đúng về tình cảm vợ chồng – lúc lập nghiệp rất khó khăn nên thương nhau vô cùng. Mặc dù chế độ đa thê không hạn chế người đàn ông lấy bao nhiêu vợ, nhưng trên thực tế, một người đàn ông lấy được một cô vợ đã là quá nhiều, anh ta không bao giờ đủ tiền để lặp lại lần thứ hai. Ca dao có câu: Tậu trâu, lấy vợ, làm nhà / Cả ba thứ ấy thật là khó thay.

Không như phụ nữ nông thôn Trung Quốc, Nhật Bản, hay nhiều nước khác, phụ nữ Việt làm công việc của đàn ông khá nhiều, nhiều nơi đàn ông chỉ rong chơi phó mặc toàn bộ việc nhà cho vợ. Quan hệ trong gia đình, giữa cha mẹ, anh em, con cái và họ hàng có hòa khí hay không, phụ thuộc rất nhiều vào cô dâu trưởng, do đó người ta chọn cô dâu này rất cẩn thận, vì về sau cô ta sẽ trở thành bà chủ gia đình, còn người đàn ông nếu không chết trận, thì cũng thường không thọ hơn phụ nữ.

Ngoài việc không được đi thi, làm quan, và chịu chế độ đa thê (không quá phổ biến do tình trạng nghèo), người phụ nữ nông dân không quá lép vế so với xã hội đàn ông. Việc cho con trai lấy vợ hơn tuổi, để nhằm tăng cường lực lượng lao động trong nhà, việc cõng chồng đi chơi và chỉ đạo chồng trở thành đương nhiên. Câu chuyện vợ chồng nông dân với các nguyên tắc xã hội rất tế nhị, không thể đơn thuần nói theo một chiều nào về thân phận con người. Nhưng trong một xã hội chiến tranh liên miên, ngay cả người đàn bà nhiều khi cũng phải tham chiến, chí ít đã đi cày thay chồng, cũng nói lên cái vai trò không nhỏ của phụ nữ cùng với tàn dư của chế độ mẫu hệ phổ biến. Ở nhiều làng thuộc huyện Thuận Thành, Bắc Ninh, cho đến nay, quan hệ vợ chồng vẫn duy trì vài nguyên tắc bất thành văn: vợ không phàn nàn gì việc chồng uống rượu, dù cãi nhau đến mấy tối vẫn phải nằm chung và nếu không đẻ được con trai thì mặc nhiên chấp nhận chồng lấy vợ, hoặc có con trai với người khác.

Người nông dân xưa sống lưu cữu trong làng cổ, dù so với lịch sử nhân loại, những ngôi làng Việt không quá lâu đời, lâu là ngàn năm và thông thường là 500 năm trở lại đây. Để biết được cuộc sống ở làng, người ta chỉ có thể hình dung trong vòng 300 năm trở lại đây, khi phần lớn bia ký nông thôn xác nhận các vấn đề xã hội và tôn giáo trong thế kỷ 17, 18. Các gia phả để lại cho đến ngày nay phần lớn cũng trong khoảng 150 năm, rất ít dòng họ ghi gia phả được lâu hơn. Hầu hết nông dân không biết đọc Hán Nôm, trong dòng họ có một vài người có chữ, nếu anh ta có ý thức truyền thống thì gia phả mới được ghi chép. Song những gì còn lại cho phép vẽ lên một bức tranh nông thôn khá đặc sắc, trên thực tế mức sống người nông dân Việt Nam trong lịch sử có nhiều giai đoạn khá cao, cũng như tình trạng bần cùng hóa phải sinh sống như giai tầng hạ đẳng không ít. Họ vừa phụ thuộc vào tự nhiên, vừa phụ thuộc vào các thể chế triều đình, và chỉ mong ông vua, quan lại không đụng đến ruộng đất của họ cũng như không quá sưu cao thuế nặng, mà không mong được giúp đỡ gì. Toàn bộ tài sản của nông dân nằm ở những thửa ruộng, trong thời phong kiến quyền sở hữu tư điền tư thổ được công nhận và tôn trọng. Khi mất nguồn tư liệu sản xuất này, người nông dân dường như hoàn toàn mất trí, trở nên không kiểm soát nổi. Từ thế kỷ 10 đến thế kỷ 18, tình trạng quảng canh vẫn là phổ biến, do mật độ dân số không cao so với lượng ruộng đất, nhưng từ thể kỷ 19 đến nay, dân số tăng lên trông thấy, hằng ngày và đất canh tác cho từng đầu người nông dân ngày càng hẹp lại, trong khi đa phần nông dân không biết làm gì ngoài làm ruộng.

So với người nông dân Trung Hoa chất lượng lao động của người nông dân Việt Nam kém hơn chừng 1,5 đến 2 lần, và càng xa hơn so với người nông dân Nhật Bản. Người nông dân Trung Hoa có thể làm một mạch từ 8 – 10 giờ, nông dân Việt Nam thường làm tối đa 4 tiếng một buổi, một ngày. Ngư dân Trung Hoa đi biển cả nhà (cả trẻ con và phụ nữ) và có thể ra khơi với gió cấp bốn, cấp năm trong khi ngư dân Việt chỉ có đàn ông đi đánh bắt cá và không đi biển khi gió quá cấp ba. Đây là so sánh của chính ngư dân những năm 1970 ở Cát Bà. Người nông dân Trung Hoa xưa cũng mù chữ y như nông dân Việt, nhưng người nông dân Nhật Bản nhiều người biết đọc biết viết và đặc biệt là ghi chép rất tỷ mỷ việc đồng áng công xá với địa chủ.

Nông lịch của nông dân Việt Nam cho thấy những dấu tích rất rõ ràng của lịch Dol Mường kết hợp với âm dương lịch ảnh hưởng từ Trung Quốc. Trước khi người phương Tây vào Việt Nam, và có lẽ đến tận đầu thế kỷ 20, nông dân Việt Nam mới biết đến nhịp sống tuần lễ bảy ngày, còn trước đó cả người Mường lẫn người Việt (Kinh) đều theo chu kỳ ba tuần một tháng, mỗi tuần mười ngày, và đó là tuần trăng, được chia ra làm thượng tuần, trung tuần và hạ tuần. Mỗi năm có 10 tháng chính và hai tháng dư, tính từ tháng Giêng đến tháng 10, hai tháng dư là Một và Chạp. Theo lịch Mường cổ trong 10 tháng đó thì chính tháng 5 và tháng 10 là thời điểm gặt hai vụ lúa chiêm và mùa, lễ đón lúa mới được tổ chức như tết (nguyên đán) vào cuối tháng 10, tùy theo vùng. Theo âm dương lịch Trung Quốc, thì 12 tháng này lại tính theo 12 chi, tháng Giêng là tháng Dần, cứ thế đến tháng 12 là tháng Sửu. Tết nguyên đán cũng được cả hai lịch biết đến là thời điểm kết thúc tháng Chạp và tháng Sửu. Ở trong các làng, ông sư hay thầy đồ căn cứ vào lịch cũ và sách cổ làm một bảng lịch dán lên tường bằng chữ Nho, người Mường thì khắc lên 12 quẻ thẻ tre.

Người nông dân Việt chủ yếu nhớ bằng mồm và nhìn trăng từng hôm, từng tháng (mùng một lưỡi trai, mùng hai lá lúa, mùng ba câu liêm, mùng bốn lưỡi liềm, mùng năm liềm giật, mùng sáu thật trăng…). Nhịp sống trong ngày ban đêm thì nghe theo canh gà, sáng sớm tinh mơ và chiều tối có hai lần chuông chùa báo hiệu. Nếu tính cụ thể và chỉ làm lúa, thì người nông dân Việt cũng chỉ có bốn tháng một năm vất vả, nhiều quãng thời gian không cày cấy thu hái thì chơi dài, nên gọi là nông nhàn. Lúc nông nhàn họ có thể kéo đi gánh thuê đường dài cho bọn buôn, đi làm thợ nề ngõa, thậm chí cả làng đóng cửa đi ăn mày.

Một năm, nếu không thiên tai địch họa thì vẫn có hai thời điểm thiếu lương thực gọi là ngày ba tháng tám, tức là những ngày của tháng ba và tháng tám (âm lịch), lúc đó giáp hạt, lúa chưa chín, lương thực hết, quãng thời gian từ tháng năm đến tháng mười là dài nhất, nhưng may mùa thu còn có nhiều bông trái lót lòng. Nhà nông Việt không đủ lương thực dự trữ quá ba năm, và thường khá lắm là hai ba vụ, tức là một năm rưỡi, còn lại chỉ đủ ăn nhưng không thừa, ngưng tay là ráo miệng. Cái nghèo trở nên triền miên, nếu có thiên tai hay chiến tranh là chết đói hàng loạt và việc gì lớn một chút là phải vay mượn. Tình trạng đó dẫn đến giải pháp duy nhất là bóp mồm bóp miệng, nhiều làng cho đến nay vẫn còn dư âm của một thời ăn một bữa một ngày và kéo dài trong hàng trăm năm, đến mức trở thành một tập tục. Người nông dân ăn tất cả những gì ăn được – mò cua bắt ốc, bắt lươn bắt chạch, cùng nhặt nhạnh rau cỏ hằng ngày. Việt Nam cũng là nước hiếm hoi ăn nội tạng và huyết động vật, cho đến nay trở thành một phần của khoa ẩm thực; và nếu có dịp cỗ bàn, ngả vạ, cưới xin, ma chay, tết nhất, thì cũng là dịp đánh chén linh đình, cờ bạc thoải mái cho bõ những ngày tăm tối.

Tạp chí  Tia Sáng

Chim Việt rời cành nam

Trời hửng sáng
Chim Việt vươn mình
Lòng bình yên
Thôi rối hẹ tơ vò.

Mắt bừng sáng
Thần tinh anh
Chân trời nay
Toàn vũ trụ bao la.

Sải cánh này
Nay của vũ trụ này
Chán chê rồi
Mãi cứ phải cành nam.

Nào xưa nay
Nào bắt chước
Nào loay hoay
Nào cóp quay
Mắt hoa
Tóc rối
Tai đau
Cổ khản
Lưng còng.

Chim Việt
Ngẩng cao đầu
Vươn thẳng mình
Sải thật dài đôi cánh.

Chim Việt
Sống đời mình
Dệt đời mình
Sáng láng
Yên vui.

Chim Việt
Tung đôi cánh
Rời cành nam
Hòa vũ trụ mênh mang.

|- HHM 1302 -|

Ăn Tết làng Đào (bản nguyên)

Có một giấc mơ rất gần, chỉ cần ngồi yên một chỗ là đạt được.
Có lúc chỉ cần ngồi yên một chỗ thêm vài tiếng đồng hồ là đạt được.
Giấc mơ ấy đeo đẳng suốt cuộc đời dài.
Mà cuối cùng giấc mơ thật đẹp đó… vẫn chỉ là giấc mơ.

—-

Cụ Là suốt đời công việc ở thủ đô. Điểm Zéro, “cây số không” của cả nước, xưa có lẽ là của cả xứ Đông Dương, tất nhiên là ở Hà nội. Người ta thường lấy nhà Bưu Điện làm điểm Zéro. Dân gian thì lấy tháp Rùa. Còn chỗ làm của cụ Là cách mép nước Hồ Trả Gươm vài chục mét.

Một tuần sáu ngày, trừ phi có ngày lễ hay Tết ta, cụ Là đều đặn ở Sở. Có mười ngày phép, mấy ông cấp trên gương mẫu không nghỉ, cuối cùng chả ai dám nghỉ phép. Chỉ có cánh công nhân thì họ hết sợ ai nên dám nghỉ phép thôi.

Xưa không được nghỉ ngày thứ bảy. Và ngày lễ được nghỉ trong năm thì cũng rất ít. Bù lại, có hai ngày lễ rất đẹp, nay nên được phục hồi, là ngày Giáng Sinh và ngày Phật Đản, để cho người ta bớt đuổi mãi theo vật chất, mà hướng lòng đôi chút về tâm linh. Cụ Là vẫn mong ước như vậy, tuy mình chỉ quen thờ tổ tiên tại nhà.

Ai được gặp cụ Là một lần thôi, không thể quên được. Cái đuôi mắt của cụ nói lên tất cả. Chân thành, tận tâm, nhỏ nhẹ, tươi tắn. Tu luyện cũng có, mà trời sinh chắc chắn cũng phải có.

Dung nhan Hà nội mấy chục năm ấy không đổi thay, chỉ cũ kĩ đi một chút. Đó là cái may mắn tuyệt vời của một thời, chỉ ai đã sống qua không gian-thời gian đó thì nay mới thấm thía. Nhiều người xưa còn nhớ như in những hòn đá tảng được đẽo về lát bờ hè phố tự năm nào vẫn biếc xanh.

Những phố hàng sấu thẫm màu, cổ kính, nghiêm trang.

Những phố cây cơm nguội thu về xao xuyến, bạn ngước mắt lên là chuyện trò được với những chú cu gáy đậu chót vót trên những cành đỉnh trụi trơ.

Những phố lá bàng âm u suốt hè, bỗng tía đỏ đông về.

Những phố mơ rủ cánh phượng, chỉ chực nắng hè lên để đỏ hoa rạo rực lòng người.

Gợi nhớ thế chắc là đủ, đâu cần kể hết.

Cả thành phố tĩnh lặng.

Nếu số điện thoại cả khắp các tỉnh phía bắc chỉ có 4 chữ số, thì số lượng xe máy ở Hà nội chỉ dừng ở hai chữ số – chứ có lẽ chưa đến ba chữ số, và thường là những chú “Solex mù” rất “độc”. Ngược lại, xe đạp của bạn có số xe đàng hoàng, và là vẻ đẹp cùng niềm kiêu hãnh của mỗi chủ nhân. Chúng thường được lau chùi sáng bóng, dù có cũ kĩ. Nhiều khi bạn đạp xe mãi thấy mình vẫn chưa về đến nhà, chợt tỉnh ra là mình cứ vô tình đạp xe mãi theo xe người đẹp phía trước, áo phin nõn, quần lụa đen.

—-

Cụ Là có một chiếc xe đạp sạch bong đến từng chiếc nan hoa.

Còi thành phố ủ lên, đài truyền thanh “tút, tút, tút, tút, tút….”, đúng năm tiếng, chuông đồng hồ đổ, rồi cả tiếng máy điện thoại cơ quan có đặt giờ réo lên… Đó là bản hợp xướng nghỉ trưa chính ngọ. Ai có đồng hồ đeo tay đều tranh thủ chỉnh giờ, lên giây lại, khéo khoe tinh tế tài sản bé bỏng của mình. Cụ Là may mắn cũng có một chiếc đồng hồ đeo tay, tuy cũ kĩ nhưng vẫn bền bỉ chạy xuyên cuộc đời, phải cái mỗi ngày chậm mất dăm bảy phút.

Buổi trưa cơm nước ở cơ quan xong, cụ Là có thú vui lượn xe phố phường. Thuở đó chưa có cái lệ làm thông tầm, mà đến hai giờ chiều công việc mới bắt đầu lại. Đủng đỉnh chán.

Cả thành phố là một không gian quen thuộc, nhưng luôn hào hứng, quyến rũ.

Nếu trời nắng chang chang, cụ Là chọn những tuyến phố nghẹt bóng cây. Còn trời mà mát, cụ Là tranh thủ lượn dọc các phố trần trụi, như khu ba mươi sáu phố phường, hay đường Tràng Tiền vui vẻ.

Bao nhiêu thứ để mà ngắm đó nhé.

Ngay Hồ Trả Gươm thôi, các bạn trẻ bơi thuyền mơ màng sóng nước.

Qua các rạp chiếu bóng, nhà hát, các họa sĩ còn đang dở vẽ tranh quảng cáo phim, kịch sắp ra. Cũng phải vài hôm mới xong. Nên hôm trước đã đoán phim kịch gì, hôm sau đi qua lại xem lại xem mình đã đoán sai trật ra sao.

Tuần hai lần, cụ Là ghé bể bơi. Bơi buổi trưa tuy cháy nắng, nhưng vắng vẻ êm đềm. Và cũng là nơi mấy ông bạn hẹn hò nhau rồi.

« Đầu tháng phú nông », cụ Là tự cho phép mình một lần lên hồ Tây thưởng món bánh tôm với một cốc bia hơi. Thời đó bia hiếm, không ai dại gì bán bia không kèm thức ăn.

Còn lại thường thì sau một vòng phố phường, là tạt vào quán nước trà văn nghệ sĩ bất đắc dĩ, tha hồ
chuyện. Chủ quán nước trà bao giờ cũng có sổ nợ ông nào uống trà chịu cuối tháng.

Cũng không quên mỗi tháng một lần cụ Là ghé qua cụ Tư cắt tóc. Cắt bằng tông-đơ. Có lần cụ Là đang được cắt tóc dở thì còi báo động, cứ cái đầu đã bị cạo trắng hai phần ba mà đi vào nhờ hầm trú ẩn của cơ quan cạnh đó. Bà con rúc rích cười ghê quá, phi công địch quân mà nghe thấy thì gay go.

—-

Vậy thì cụ Là nằm trong số những ai sành Hà thành quá rồi còn gì!

Còn mỗi cái chuyện thế này :

Cụ Là chưa bao giờ đón được Giao Thừa ở giữa Hà nội cả!

—-

Nhà cụ Là rất đẹp, cả một vườn đào và các loại hoa khác, xa quá lên trên phía Quảng Bá, Nhật Tân, gần tới chợ Chèm.

Mỗi ngày đúng mười cây số lẻ một mét, cụ Là đạp xe từ nhà vào cơ quan làm việc, bất kể nắng mưa.

Cũng may là con đường này xưa tuyệt đẹp, mà vắng ngắt.
Bên trái là Sông Hồng đỏ tươi phù sa uốn khúc sau hàng tre ven đê.
Bên phải là làng quê, nhà nhà nối ra tới ruộng xanh bát ngát.
Đằng sau là bến Chèm với các con đò mỏng manh quả cảm.

Xuôi xe đến chỗ cây gạo cổ kính vĩ đại thì con đường sẽ bẻ gãy sang phải. Qua Nhật Tân, rồi thì đến rặng ổi Quảng Bá ken chặt như trong mơ… Dừng xe đạp, với tay, là có ổi chín!

Cứ mải miết như thế, qua Nghi Tàm, rồi lúc nào không hay thì đến đầu dốc đường Cổ Ngư. Từ đây coi như là vào đến Hà thành. Xe điện chỉ chạy từ đây nhé, bến Yên Phụ, vào Cửa Nam.

Chỉ có vậy, mà phần lớn bà con trong làng cụ Là cũng chưa đi Hà nội! Đã mấy người trong làng biết đi xe đạp đâu, đừng nói đến có xe đạp như cụ Là.

Hết chiều làm việc, cụ Là lại dóng xe đạp rời Hà nội về làng nhà.

—-

Cụ Là đeo mang mãi một giấc mơ.

Làm sao để bản thân cụ, và tuyệt vời nữa, thì cùng với cả nhà, đón một cái Giao Thừa ở giữa lòng Hà nội, ngay chỗ cụ vẫn đi làm hàng ngày…

Năm này hẹn năm sau.

Có năm bận việc gấp cơ quan, chiều ba mươi Tết cụ Là vẫn còn ở Hồ Trả Gươm, đã nghe đì đẹt tiếng pháo thèm khát không nhịn được của mấy cậu bé đang diện áo mới. Mùi khói pháo da diết làm sao…

Nhưng rồi thì lại lo bữa cơm chiều ba mươi Tết thiêng liêng quê nhà, là lúc đoàn tụ con cháu, dâng hương tổ tiên, sau cả một năm vất vả bận rộn…

Cụ Là hối hả đạp xe về làng nhà.

Lúc nào muốn đi Giao Thừa Hà nội, cả nhà làm sao mà đi bộ được mười cấy số lẻ một mét? Rồi lại còn đi về nữa? Cả nhà chỉ có mỗi một chiếc xe đạp của cụ Là, và mỗi cụ Là biết lái xe đạp! Đường thì tối như mực đêm ba mươi, đâu có đèn đóm gì.

Xe điện thì phải ra đến tận Yên Phụ mới có. Đấy là khi may có điện nhé.

Xe buýt Chèm-Hàng Vôi thì không chạy đêm.

Chả nhẽ đi một mình? Trong nhà, làng nước coi mình ra sao?

Mà có đèo bà nhà đi, bà ấy cũng nhất định không chịu ! Trông thấy cái xe đạp là hãi rồi. Vả lại ai lại bỏ con cháu đi chơi một mình bao giờ?

—-

Cho nên cụ Là suốt đời ăn Tết làng Đào.

Sau này già quá rồi, lại nghe nói phố xá người xe như mắc cửi, thôi không dám đi, con cháu cũng chẳng cho đi.

Nhưng vẫn còn đó, một giấc mơ Giao Thừa giữa lòng Hà nội, bên Hồ Trả Gươm, trong đôi mắt mờ bạc của cụ Là.

Se cát biển Đông

Khu vườn cây cảnh sau cơn mưa, cành lá mơn mởn. Dưới sàn đất từ các chậu cây chảy nhoe nhoét ra khắp nơi.

Anh chủ khu vườn hăng hái dọn dẹp phun nước rửa sân. Nước phun vào các chậu cây tiếp tục kéo đất chảy mãi thêm ra sân.

Cụ Hinh tản bộ ngang qua, đánh tiếng.

- Chào anh, phun nước mãi như vậy, đất chảy mãi ra, khéo có bọn dã tràng nào chết đuối mất không?

- Chào Cụ, rót ý mãi vào tai, kiến bò mãi ra, khéo có bọn ý kiến nào chết đuối mất không?

Mộc nhĩ

Người xứ ta chắc ai cũng biết cái món mộc nhĩ, cái tai mọc trên thân gỗ?

Trong các linh vật của xứ ta, nay nhất định phải có cái còi xe. Cụ Hinh cũng đã sắm sẵn một cái còi xe để ở nhà, sau này nếu không cấm được hậu sinh thờ mình, thì con cháu và các nàng có cảm tình đến thăm chỉ việc giương tay bóp còi cho sướng tai thôi. Khỏi phải khấn.

Trên đường kẹt xe, Cụ Hinh thấy ông phi công lái taxi nhấp nhổm bấm còi vã mồ hôi. Hỏi tại sao, mãi ông này mới nghe ra vì ồn quá, liền quát lại “cháu biết làm gì ngoài cái còi bây giờ?”

Cuối cùng thì xe cũng đến được tiệm ăn. Ăn to nói lớn là phẩm chất cao quí bậc nhất xứ ta.

Thấy hai anh chị bạn quát nhau căng thẳng quá trong bữa, Cụ Hinh vỗ về đôi bên… “Cụ nhầm rồi, chúng em đang tâm sự đấy chứ!”

Cụ Hinh đổi ý.

Cụ đặt tạc bằng gỗ một cái tai thật đẹp.

Sau này nếu không cấm được hậu sinh thờ mình, thì ở giữa bàn thờ sẽ treo cái tai gỗ này. Bên phải bàn thờ gắn cái còi (xin lỗi các vị thuận tay trái nghen, cố lên).

Khách đến thì bấm còi.

Âm dương cân đối, không ai nạt được ai nữa.

Fifty centimeters away from me

Nếu bạn đi xe hay đi bộ qua đường xứ ta, nguyên tắc an toàn lớn nhất là bạn hãy lo cái vùng 50 phân quanh bạn. 50 phân là vùng riêng tư an toàn cho bạn, cơ thể và tâm hồn.

50 phân, có thể là hơi lạc quan. Trên thực tế nếu giữ yên được vài phân quanh bạn, giữa bạn và xe pháo khác, thế đã là may mắn.

Sau đó việc lưu thông trên đường của ta thì rất hiển nhiên, chỉ cần áp dụng một cái túi khôn duy nhất : điền vào chỗ trống.

50 phân quanh bạn, cả một tầm nhìn.

Tầm nhìn thật sự, bởi lơ mơ mà nhoáy một cái là bạn mất toi cái vùng cấm địa này, và tai nạn.

Tầm nhìn thật sự, bởi đấy là cái miền mà bạn không có sẵn, phải loay hoay tìm ra và tạo ra.

Cụ Hinh đứng ngắm cả khu Bãi Cháy Vịnh Hạ Long, di sản thiên nhiên tuyệt tác. Quanh đây bạn đã thấy mọc lên đủ loại công trình cho du lịch và nghỉ ngơi.

Phía trước biển, một chiếc thuyền bé tí tẹo được trang bị một máy nổ diezel phành phạch vang vọng khắp thành phố, từ giờ này qua giờ khác. Không ai có thể lim dim khoan khoái nổi nơi bãi cát Tuần Châu hay ngả nghiêng trên một chiếc ghế bố thưởng tách càfê ban mai.

Cụ Hinh tìm mãi mới ra cái gói bông khôn ngoan để đút nút hai lỗ tai mình.

Không có cái gói bông khôn ngoan này, làm gì còn giữ nổi tầm nhìn 50 phân?

Quan chữ vuông

Xưa người Việt từng bị đồng hóa về chữ vuông, mà “không biết”. Từ văn bản trên giấy, trên kiến trúc, bia đá, cho đến tên đất, tên người, rồi thở một câu thơ, nhất nhất cũng cứ phải chữ Tàu thì mới danh giá.

Và bất chấp đại đa số người dân không hiểu gì.

Thế thì khác gì quan ta thay Tàu trị dân?

Một số cố gắng vê chữ Nôm thật là đáng quí về triết học : phải có cái chữ ghi được tiếng ta, giúp đọc được tiếng ta. Nhưng không thật thành công xa xăm được như Nhật bản. Cũng có thể do lớp kẻ sĩ chưa đủ mạnh về kĩ năng cũng như quyết chí.

Phổ biến người ta tranh nhau bán ruộng học cái chữ vuông, bất kể nội dung học là cái của nợ gì, vô nghĩa thế nào, cốt chỉ sao được ra làm quan chữ vuông để cầu lợi.

Sự vô tư vô điều kiện có thể không phải là tội lỗi, mà là sự đáng đời chăng?

Bao nhiêu công lao nuôi dưỡng lòng tự trọng cho dân chúng qua bao thế hệ, vô ích chăng?

Bao nhiêu kẻ học được cái chữ vuông hoàn toàn bên lề tiếng nói người dân này lại còn tha hồ tự cao tự đại và khinh lại người dân “thất chữ”, mong người dân ngu mãi để mình làm quan mãi.

Cuộc cách mạng về chữ quốc ngữ, dân ta viết được tiếng ta, đọc được tiếng ta, ai còn mơ hồ chăng? Đó chính là một thành công vượt bực của dân tộc về một “giấc mơ ngàn năm chữ Nôm“, chữ ghi được tiếng nói của dân ta.

Đến hôm nay vẫn còn những quan lại mới thích nhai những từ ngữ viển vông không ăn nhằm gì với đời sống, miễn để trộ dân và giữ ghế quan, há chẳng phải chúng từ cái đám hủ vuông kia rớt lại?

Cụ Hinh chờ đám hủ vuông tỉnh chuyện.

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 97 other followers