Góp ý

Ông Luống phó phường phổ biến chủ trương “hàng tuần bây giờ phải có góp ý của phường viên, chính xác, cụ thể”.

Tiếp đến ông Luống nhìn một vòng xuống cử toạ… người người ở dưới bất giác đều đang cúi xuống sửa nếp quần, chỉnh giày dép… “xin đề nghị bác Ruột gương mẫu đi đầu đợt góp ý này!”.

**

Bác Ruột chỉnh giày, sửa quần, loay hoay đứng lên.

“Dạ.. vâng.. tôi cũng thấy một số lãnh đạo chăm ra chỉ thị, được hưởng kết quả, nhưng mà thực ra chả làm gì cả ạ..”

“Bác Ruột ạ, góp ý thì phải cụ thể, ai, ở đâu, làm gì.. chứ nói không ai, không đâu, không gì thì không phải là góp ý. Cái này phải thành nếp nghiêm túc.”

Bác Ruột gãi đầu..

“Dạ.. vâng.. thưa bác Luống.. có lẽ tôi xin rút lại, thôi góp ý ạ..”

“Không được. Cứ nửa góp ý nửa rút lui, sau này sẽ rất mệt. Bác Ruột đã góp ý, là phải dứt điểm đi.”

“Dạ.. vâng.. thế nếu là chuyện liên quan đến phường khác.. có được không ạ?”

“Nói chung là không nên, nhưng cũng không sao.”

“Dạ.. vâng.. cụ thể thì vợ tôi là phó phường bên cạnh ạ.. Cô ấy rất chăm ra chỉ thị sinh hoạt tình cảm cho tôi, cô ấy được hưởng kết quả, nhưng mà thực ra cô ấy chả làm gì cả ạ..”

**

Hội trường im ắng..

Bác Ruột toát mồ hôi ngồi xuống.

Rồi lại toát mồ hôi đợt thứ hai khi nghĩ chốc nữa sắp phải về nhà.

 

Chuyện viết báo Tết ngày trước

 

HOÀNG Hồng-Minh

 

Xứ ta là một bán đảo. Xem bản đồ theo chiều bắc trên nam dưới thì hình hài xứ sở quả là một cô gái thanh mảnh mà nở nang, đang đứng hóng gió biển Đông Nam Á, bụng ngực thỏa thích xỏa vào bờ cát bờ nước, mây tóc miên man chìm vào miền núi đồi Tây Bắc mộng mơ.

Thế nhưng trước đây người dân xứ sở sinh hoạt hoàn toàn như là họ ở trên những ốc đảo.

Mà thật vậy, những ốc đảo thật sự. Mỗi làng là một ốc đảo trên thực tế, và ở miền đồng bằng thì xung quanh mỗi làng còn có thể là một biển nước-lúa-nước, với con đường đắp nhỏ xíu, nhỉnh chút ít hơn bờ ruộng vừa chân trâu, để thông ra ngoài. Mỗi ai mà hiếm hoi nhỡ phải đi ra ngoài làng để kiếm sống, khắc là bủn rủn ruột gan, tự nhủ phải cố mà tìm cho ra bằng được người cùng làng ở nơi đất mới để mà nối lòng nhau. “Chủ nghĩa đồng hương” từ đấy mà ra, ngay cả đến nay vẫn còn đang rất sung mãn.

Ở cái thời người xứ sinh hoạt như ở ốc đảo thì việc viết báo Tết có vẻ dễ hơn biết bao nhiêu: cứ có “chuyện lạ” một tí so với đời sống của các “ốc đảo làng quê” là đã tha hồ mà kể, tha hồ ăn khách. Đúng hay sai thì người ta phần lớn cũng mù tịt cả, “cứ tạm biết thế” là món lập trường chung.

Có người viết kể chuyện đi ra xứ ngoài, Tết chả thấy có gì, y như là ngày thường, tàu điện chìm dưới đất vẫn chạy bình thường, thế rồi họ cứ tự nhiên mà giàn giụa nước mắt. Thế cũng thành bài viết được rồi.

Có người viết khác kể chuyện đi ra xứ ngoài, Tết chả thấy có gì, y như ngày thường, may mà tối đến thế nào mà lại được anh bạn cùng xứ đọc cho nghe lá thư của người yêu anh ấy từ trong nước gửi cho, tuy là đã chậm mất mấy tháng; thế rồi cả hai cùng nhau rơm rớm nước mắt. Thế cũng thành bài viết được rồi.

Về sau này, thời chớm đổi mới, có anh trí thức được đi thăm tận sào huyệt Liên Bang America mấy tuần liền, ra về lành lặn, đi nói chuyện vòng quanh các tỉnh thành cả năm trời vẫn không hết các chuyện về chuyến đi ấy, hơn thế nữa, các chuyện lại càng ngày càng được hoàn chỉnh rõ nét hơn lên, viết thành bài Tết nữa thì càng hay.

Những bài viết như thế ấy nom chất phác, vậy mà chúng thực sự sưởi lòng người ăn Tết ở nhà, cứ đọc mà bịn rịn. Còn gì bằng ngày Tết mà mình không phải “tha phương cầu thực”. Mình đang hạnh phúc đến thế còn gì.

**

Ở trong xứ, lực lượng sản xuất chính cho những trang báo Tết dẫu sao vẫn là những nhà viết chuyên, họ làm trụ cột cho những ngày Tết. Tất nhiên rồi, phải biết “tự lực cánh sinh” chứ, à mà lâu rồi ít nghe thấy diễn đạt này.

Phải có tủ.

Tủ của việc viết báo ngày Tết trong xứ là “Năm con Này, nói chuyện con Này“.

Thời trước truyền thông chỉ có vài ba tờ báo hàng ngày, ngoài ra có vài tờ báo tuần hoặc báo tháng, đài thì đọc lại báo, hoặc làm ngược lại, và chưa có truyền hình. Cho nên trí nhớ của người đọc rất có hạn khi mà thời gian trôi đi lâu lâu. Mấy ai mà lại lục tìm ra được số báo ngày Tết của tận mười hai năm về trước? Cũng có thể tìm được… nhưng rất khó đấy. Các tòa soạn báo thường cũng có lưu các số báo, cuối năm thuê đóng nguyên chúng lại thành những “quyển sách đại tổ bố », bìa thật dày cứng, tay mà yếu thì khó mà lật được tấm bìa, bày quyển sách này ra thì nó chiếm hết cả cái mặt bàn to. Nhưng mà, dân thường thì làm sao mà được tham khảo được chúng. Thư viện… cũng có… nhưng mà tìm từ sáng đến trưa cũng khó tìm ra, chưa kể mấy bác “thợ săn” viết bài đã nhanh tay mượn ém chúng từ trước đó rồi nghen, người ta chuyên nghiệp mà, và mượn rồi có khi mất tiêu luôn.

Cho nên thực tế nếu mà bí quá, tờ báo Tết dẫu có đăng lại bài “Năm con Này, nói chuyện con Này” của mười hai năm về trước, thì bài ấy cũng vẫn được nồng nhiệt chào đón.

Nếu tờ báo Tết nào mà có đăng lại bài “Năm con Này, nói chuyện con Này” của hai mươi bốn năm về trước nữa, thì lại càng được nồng nhiệt chào đón, “hàng khủng” rồi.

Nhưng, thường thì các tờ báo Tết không kịp đăng lại như thế đâu, vì các bác thợ săn đã nhanh tay chế biến lại chúng rồi, “na ná, nhưng khang khác“. Mà như thế thì đã là rất sáng tạo theo tiêu chuẩn Á Đông rồi, rất xứng đáng rồi, còn đòi hỏi gì nữa trong hoàn cảnh đời sống khó khăn đến như thế.

Quan trọng nhất là đừng “Năm con Này” mà lại nhầm đăng bài “nói chuyện con Kia“.

**

Những ngày giáp Tết, các ban biên tập báo, và nhất là các nhà in, thật là hối hả. Chỉ có mấy tờ báo là có nhà máy in riêng của họ thôi. Lúc này nhiều tờ báo tuần, cả của các địa phương nữa, phải đến đặt in thật sớm ở những nhà in này. Các công nhân và kĩ sư nhà in thì đầu tắt mặt tối, lắm thứ để in quá, lại cả việc in lịch rôm rả, càng về sau này càng rôm rả hơn nữa. In sách báo ngày xưa phải sắp từng con chữ, mà lại phải sắp chữ lộn ngược, tạo « bản âm » nữa chứ! Các bạn trẻ ơi: những người sắp chữ thực sự là những nghệ sĩ ẩn danh, vô cùng tài năng, vô cùng vất vả, mà xã hội thì hiếm ai biết đến họ, chưa kể các con chữ bằng chì kẽm thật là độc hại dài lâu cho sức khỏe của họ. Hôm nay cầm tờ báo cũ, xem trang sách cũ, chúng ta cũng nên nhỏ ít giọt tình cảm tới những nghệ sĩ sắp chữ ẩn danh ở đằng sau những dòng chữ ấy.

Báo Tết, mở van một chút à, cứ để người ta viết phóng khoáng hơn chút, bớt chật hẹp đi chút, cho tươi mới thêm lòng người.

In thử, đọc thử, lơ mơ mà lại phải sửa cắt, lại… sắp chữ lại… Chết mất.

Nếu « bề trên nữa» mà đổi ý kiểm duyệt, hoặc bất chợt muốn thêm thắt cắt bớt cân đối lại gì đó số báo Tết vào phút chót… ôi, bao nhiêu là việc thêm vào, « làm đi » không khổ gì bằng « làm lại ». Nhưng « làm lại » cũng đã là dân tộc tính lâu đời rồi, rèn nên những người dân có khả năng chịu đựng vô biên.

Thế rồi xe pháo đủ loại, cả xích lô nữa, kĩu kịt chở báo Tết mới in xong thơm mùi mực đi về muôn nơi trong xứ sở. Bên trong những tờ báo Tết đó có biết bao nhiêu những câu chuyện, những hình ảnh, những hình vẽ giản dị, trong trắng, đôi khi ngây ngô quanh cái chủ đề trường tồn muôn thuở “Năm con Này, nói chuyện con Này“, tất nhiên đôi khi cũng có vài ý tứ hơi phức tạp một tí được các nhà viết lồng vào đó đấy nha – là nói so với cái thời khắt khe ấy – chứ mà đem so với ngày hôm nay thì chúng chỉ còn bị coi là “muỗi”.

Ngoài phố, đầu xóm, người người nghèo đang háo hức ngày Tết. Có được một cành đào, một hộp mứt, một chai rượu chanh, và tờ báo Tết có trang đầu được in màu một lần duy nhất trong năm, ừ, mấy màu in chồng lên nhau bị lệch hết cả, nhưng mà thôi, Tết rồi, chín bỏ làm mười. Thế là đẹp rồi! Đẹp lắm rồi!

Thiêng liêng! Tết về trong nhà rồi!

Giắt tờ báo Tết in chữ Việt lên cành đào thắm màu ở “gian khách”, đâu phải nhà nào cũng đã có « phòng khách » riêng, như thế cũng đã rất chi là dân tộc tính lắm rồi ai ơi, đã vượt xa thực sự qua những bình phong chữ Hán vắt ngất ngưởng ngang giữa nhà một thời, mà phần lớn cả chủ nhà lẫn khách đều khỏi biết đấy là những chữ viết về cái gì.

Bakhaha

Sau mươi ngày vất vả bám đuôi mấy bạn trẻ leo núi, Cụ Hinh và chúng bạn lên tới được sát đỉnh ngọn Bakhaha. Trên này chỉ có gió và lạnh và mây và mưa, hơi khó thở, nhưng mà đôi khi có những vạt nắng thật là rực rỡ.

Ở gần sát vùng đỉnh có túp lều, các bạn rủ Cụ Hinh ghé vào. Hóa ra có người, một cụ đang ngồi xếp-bằng chân trong đó bên bếp lửa.

Cụ chủ lều chào hỏi mọi người, đun nước pha thứ trà rừng, hỏi tên thì được biết cụ mang tên Bakhaha, “tôi lấy tên ngọn núi làm tên của mình. Gọi Bakh cũng được”.

Các anh chị em nhâm nhi trà rừng, rồi tranh đua hỏi chuyện. Cũng không nhớ được chính xác rằng câu hỏi nào là của ai.

“Cụ Bakh lên đây lâu chưa ạ?”

“Từ hồi còn trẻ mà, giống như là các anh chị đây.”

“Cụ lên một mình à?”

“Vâng.”

“Vì sao ạ?”

“Vì tò mò.”

“Eo ôi, sợ quá, em mà thế thì em chết luôn. Mà lại còn lên một mình nữa thì lại còn khó khăn lắm nữa.”

“Khó lắm, mà cũng dễ lắm.”

“Dễ thế nào ạ?”

“Cứ nhìn cái đỉnh cao nhất mà mò dần lên, có thế thôi, vì nó là duy nhất. Chả có gì phải nghĩ với chọn cả.”

“Thế từ ngày ấy, cụ Bakh có bao giờ xuống núi không ạ?”

“Không, khó lắm.”

“Ơ, sao lại khó ạ?”

“Lên đến đây, tôi mới thấy mênh mông tít tắp xung quanh… Khỏi biết đâu là cái làng xưa của mình nữa.”

Hạnh thông

Đi ra xứ ngoài, bỡ ngỡ là chuyện thường. Xử lý được nó, mới là trên tài.
**
Mấy anh trong đoàn thực tập ta sáng kiến mời mấy chị em ta vào một quán ta ở tây, nhân ngày phụ nữ gì đó thì phải, chắc là ngày ấy có từ hồi bà Trưng? Chủ quán này là một bà người tây nom nhẹ nhõm, ông chồng là người Việt còn nguyên gốc.
Ngồi vào bàn tươm tất, trưởng đoàn ra hiệu, anh thủ quĩ đoàn cúi xuống mở balô, lấy ra một chai trong lô rượu đỏ mới sắm ở siêu thị “để cho chị em dễ uống”.
Anh chồng nọ tiến lại bàn để ghi thực đơn, mắt không rời chai rượu, cuối cùng lấy can đảm khua ngón tay “không được đâu, vào đây nếu muốn dùng rượu thì phải mua của nhà hàng ạ.”
Trưởng đoàn nét mặt “mộc kê”, không biến sắc, khoát tay. Nghe nói để có được mặt “mộc kê”, tài năng đã đành, mà cũng phải rèn luyện tối thiểu từ mười ngàn giờ trở lên thì mới có cơ đắc chí.
Anh thủ quĩ nhìn anh chồng nọ, nở nụ cười vĩnh hằng “vâng mà, em chỉ lấy ra để ngắm thôi ạ” – đoạn cất lại chai rượu vào balô.
**
Bữa cơm của đoàn có phần trầm lắng hơn dự tính. Nhưng vạn vật xoay vần.
Một lúc sau, tất cả mấy anh em trong đoàn nhấm nháy nhau “đi vệ sinh”. Khá lâu sau, các anh cùng quay về, mặt mũi hưng phấn, hơi hồng hào, chuyện trò râm ran hơn.
Một lúc sau nữa, tất cả mấy anh em trong đoàn lại nhấm nháy nhau “đi vệ sinh”. Khá lâu sau, các anh lại cùng quay về, mặt mũi lại càng hưng phấn, hồng hào hơn, chuyện trò càng râm ran hơn.
**
Sau ba lần thấy như thế, anh chồng nọ nghi nghi hoặc hoặc, bí mật bám theo mấy anh em trong đoàn, miệng tự lẩm nhẩm “anh chị em Việt mình nom cứ ngơ ngơ như thế thôi, nhưng nhiều khi khôn bất ngờ, cho nên người mình mới thắng được hết mọi loại đế quốc, kể cả sau khi đã mất nước một ngàn năm cơ mà…”
Mấy anh trong đoàn đi ra tận bãi đỗ xe, mở cốp xe, chia nhau cốc giấy, rồi lấy chai rượu ra cứ thế mà rót cho nhau râm ran hô “trăm phần trăm!”.
Anh chồng nọ “à” ngây khó định thần, rồi chợt định quay vào thì “độp” một cái vỗ vai, một chiếc cốc giấy hiện ra ngay trước mặt, “anh em với nhau cả, vui với nhau một ly nào!”…
**
Bà chủ tây đã thấy cả đoàn lại lần lượt vào lại bên trong quán, trong đoàn đã có anh chồng nom hồng hào hơn, hưng phấn hơn, râm ran hơn.

Hội hè người Việt

Cụ Hinh được mấy bạn mời dự buổi cơm thân mật.
Chuyện trò rôm rả, càng về cuối càng hăng. Thỉnh thoảng nghe khục khục ở ngay dưới chân bàn ăn… vợ chồng chủ nhà suỵt mọi người hạ giọng, “hàng xóm dưới nhà họ gõ cán chổi lên trần của họ rồi đấy”. Tinh thần chung của bữa cơm là “tích cực”, người người đều thấy ra tiềm năng phi thường của người Việt nói chung, của người Việt đang ngồi quanh bàn ăn này nói riêng.
Bất chợt Cụ Hinh bị phỏng vấn thẳng thừng.
“Như em, thì sẽ làm được đến gì ạ?” – cô chủ nhà tươi rói màu ly rượu đào.
“Chủ tịch hội người Việt ở trong nước.”
Anh chồng mỉm cười với cô vợ, tuy hơi nghiến quai hàm.
“Còn em?” – cô bạn của chủ nhà, người lập duyên ở xứ ngoài về chơi.
“Chủ tịch hội người Việt ở ngoài nước.”
Anh chủ nhà đơm tuần rượu mới cho mọi người.
“Thế tôi, thì sao ạ?”
“Chủ tịch liên hội người Việt ở trong nước và người Việt ở ngoài nước.”
Nhà sử học trẻ ngồi bên ngọ nguậy.
“Tôi ạ?”
“Chủ tịch hội người có gốc giòng máu Việt ở trên toàn thế giới.”
Cô tiến sĩ phân tâm học ngồi chếch đối diện sốt ruột quá…
“Thế còn em?”
“Chủ tịch hội người chịu ảnh hưởng tâm linh Việt ở trên toàn thế giới.”
Ai ai, người người đều phấn khích…
Cô chủ nhà vén váy, đứng lên đề nghị mọi người cùng nâng cốc.
“Thế Cụ Hinh, thì sao ạ?”
“Hội viên tiềm năng của tất cả các hội vừa rồi ạ!”

Đắc thuật

Cụ Hinh hỏi chuyện Mỵ Châu.
“Khi các cô gái trẻ đẹp đi ngang qua ta, có vẻ như là họ không hề nhìn thấy ta.”
“Vâng ạ.”
“Có thật là như thế không nhỉ?”
“Có thể thật sự là như thế ạ, Cụ Hinh đừng buồn…”
Cụ Hinh thoắt vui vẻ.
Mỵ Châu ngạc nhiên…
“Em vừa mới động viên, làm sao mà Cụ Hinh đã nhanh nhảu vui vẻ đến như thế cơ ạ?”
“Các nhà khoa học công nghệ của các cường quốc quân sự đã đổ biết bao nhiều tiền của và thời gian vào nghiên cứu thuật tàng hình.
Ta vui mừng, vì ta đã đạt được thuật tàng hình, trước hết là trước một bộ phận quý giá nhất của nhân loại, mà đó cũng có thể là bộ phận quý giá nhất của vũ trụ.”

Chiêm tinh, đàn ông, phụ nữ

Trước đây, nhất là ở thời kì xứ sở “muôn vàn khó khăn”, hầu như ai ai cũng là nhà chiêm tinh bẩm sinh. Bây giờ tổng số nhà chiêm tinh có thể còn nhiều hơn trước đây, nhưng tỉ lệ của họ trên dân số thì có thể đã giảm đi chăng?
Hễ trong một “buổi gặp”, nói oai như thế chứ thường là tụ hội ở hàng nước trà kẹo lạc, có anh bạn nào mới quen trong đó thì y như rằng khoảng mươi mười lăm phút sau anh ấy sẽ thân tình “tôi ngắm Cụ Hinh rồi, cũng được.. nhưng mảnh dẻ thế này, chắc sẽ không thọ qua được ngoài ba mươi tuổi.”
Phụ nữ thì kín đáo hơn, nhưng đôi khi cũng thỏ thẻ “em bấm rồi.. Cụ Hinh cũng được đấy, chắc sẽ thọ ngoài chín mươi”.
Cụ Hinh cố gắng “khách quan với bản thân”, bấm bụng (30+90)/2, chắc cũng được 60 chăng?
Nhưng về chủ quan, từ đó Cụ Hinh có phần kính mến phụ nữ hơn hẳn kính mến đàn ông, chắc vì phụ nữ họ thông minh hơn, cả về thông minh tinh thần, lẫn về thông minh cơ thể?