Bản “toán kệ” của thày Ngô Bảo Châu lọt vào trong 10 phát hiện khoa học sáng giá nhất thế giới 2009, khẳng định của tạp chí “Time”!

Nuocdenchan rất đỗi vui mừng khi có bản tiếng Việt sau đây xuất hiện trên báo chí trong nước. Thật cảm ơn nhà báo Vũ Bích Ngọc đã kịp trình làng sự kiện rất quan trọng này của tinh thần Việtnam. Xin phép được treo bài báo lên ở đây cho bà con ta chiêm ngưỡng.

Tưởng cũng không phải nhắc lại rằng thày NBC chính là Hòa Thượng Thích Hoctoan quen thuộc của chúng ta. Hãy tiếp tục chia sẻ niềm vui tới Hòa Thượng ở đây! . Hãy thổi bùng tin vui này tới khắp mọi nơi cho tinh thần Việtnam được chắp cánh thêm lên.

¨¨¨¨

“Bổ đề Cơ bản” đã tìm được lời giải.

Vũ Bích Ngọc, vovnews.vn. 12:45 AM, 11/12/2009

¨¨¨¨¨¨¨¨¨¨¨¨¨¨¨¨¨¨¨¨¨¨¨¨¨¨¨¨¨¨¨¨¨¨¨¨¨¨¨¨¨¨¨¨¨¨¨¨¨¨¨¨¨¨¨¨¨¨¨¨¨¨¨¨¨¨¨¨¨¨¨¨¨

(VOV) – Chứng minh “Bổ đề cơ bản” của Giáo sư toán học Việt Nam Ngô Bảo Châu được bình chọn là 1 trong 10 sự kiện nổi bật của Khoa học Thế giới 2009.

Chứng minh “Bổ đề Cơ bản” vừa được Tạp chí Time của Mỹ bình chọn là 1 trong 10 phát kiến khoa học hàng đầu thế giới năm 2009.

Vinh quang của người tìm ra lời giải “Bổ đề Cơ bản” hóc búa đã làm đau đầu cộng đồng toán học thế giới trong suốt 30 năm qua thuộc về một nhà toán học Việt Nam: Giáo sư Ngô Bảo Châu.

10 phát kiến khoa học thế giới do Time bình chọn

1.Ardi – thuỷ tổ của loài người
2.Giải mã gene di truyền ở người
3.Liệu pháp gene chữa bệnh mù màu
4.Người máy làm khoa học
5.Nuôi cá ngừ trên cạn
6.Phát hiện nước trên mặt trăng
7.Bổ đề cơ bản đã được giải
8.Hệ thống ngoại tuyến nguyên tử
9.Máy gia tốc hạt lớn
10.Khám phá hành tinh mới (hoặc Brown Dwarf)

Trong toán học, “Bổ đề cơ bản” có một ý nghĩa hết sức quan trọng. Đây là phần cốt lõi của công trình toán học nổi tiếng với tên gọi “Chương trình Langlands”, được coi là nền tảng để có được một cái nhìn thống nhất cho nhiều ngành của toán học hiện đại.

Hơn 1 năm trước, Ngô Bảo Châu là người đưa ra được một chứng minh tài tình cho “Bổ đề cơ bản” này trong trường hợp tổng quát. Chứng minh này cũng đã được giới toán học thế giới kiểm chứng trong hơn 1 năm qua với kết luận là hoàn toàn chính xác và đã được chứng minh. Việc tìm ra lời giải “bài toán hóc búa”, Ngô Bảo Châu đã giúp giới toán học thế giới thở phào nhẹ nhõm bởi trước đó những nhà toán học nổi tiếng thế giới mới chỉ giải được những “bài toán” nhỏ của Bổ đề cơ bản.

Ngô Bảo Châu sinh năm 1972 tại Hà Nội. Tên tuổi của Ngô Bảo Châu được nhiều người biết đến với thành tích hai lần đạt Huy chương vàng Olympic Toán quốc tế năm 1988 và 1989.


Báo cáo thành tích với nguyên Thủtướng Đỗ Mười sau giải Nhất Toán quốc tế

Sau khi tốt nghiệp PTTH, anh được chọn sang học tại Đại học Tổng hợp Paris 6. Một năm sau đó, anh đã thi đậu vào trường “Ecole Normale Superiere”, trường đại học nổi tiếng nhất của Pháp. Ngô Bảo Châu bảo vệ luận án Tiến sĩ năm 1997, luận án Tiến sĩ Khoa học năm 2003. Năm 2004, ở tuổi 32 anh đã được nhận làm Giáo sư tại đại học Tổng hợp Paris 11.

Năm 2004, cùng với Gerard Laumon – một giáo sư trẻ, tài năng của Đại học Tổng hợp Paris 11, Ngô Bảo Châu đã tìm ra chứng minh Bổ đề cơ bản đối với các nhóm unita. Với công trình này, anh cùng với Laumon được tặng Giải thưởng danh giá của Viện toán học Clay 2004.


Ngô Bảo Châu và bố, GS,TSKH Ngô Huy Cẩn tại Paris

Việc chứng minh được “Bổ đề cơ bản” thực sự là một thành tựu kiệt xuất, một vinh dự lớn lao của khoa học Việt Nam. Với lời giải này, Ngô Bảo Châu là người Việt Nam đầu tiên được mời làm Báo cáo viên toàn thể tại Đại hội Toán học Thế giới năm 2010 sẽ diễn ra tại Hyderabad, Ấn Độ (4 năm/lần) cho những người dưới 40 tuổi. Và tại đây, Ngô Bảo Châu sẽ được nhận Giải thưởng Fields- giải thưởng cao nhất về toán học (tương đương với giải Nobel trong một số ngành khác).

Ngô Bảo Châu là nhà toán học Việt Nam hiện đang làm việc tại đại học Tổng hợp Nam Paris Viện nghiên cứu cao cấp (IAS) Princeton, đồng thời là giáo sư của Viện Toán học, Viện khoa học và công nghệ Việt Nam.

Tuy làm việc ở nước ngoài nhưng Ngô Bảo Châu vẫn tích cực đóng góp cho việc đào tạo ngành Toán ở Việt Nam. Khi có dịp về nước, anh tham gia đọc chuyên đề cho sinh viên nhiều trường đại học ở Việt Nam như: Khoa học Tự nhiên-Đại học quốc gia Hà Nội, Đại học sư phạm Hà Nội, Đại học sư phạm Hải Phòng…

Năm 1979 nhà toán học Mỹ gốc Canada Robert Langlands phát biểu một loạt giả thuyết, mà nếu chứng minh được chúng thì chúng ta gần như có được một cái nhìn thống nhất cho nhiều ngành của toán học hiện đại: số học, đại số và giải tích. Công trình của Langlands nổi tiếng với tên gọi “Chương trình Langlands”. Suốt 30 năm qua, Chương trình Langlands thu hút sự quan tâm của những nhà toán học nổi tiếng nhất thế giới. Tuy nhiên, để hoàn tất công việc này, vẫn còn một chướng ngại cực kỳ to lớn, mà trước đây người ta chưa hình dung được hết khó khăn: đó là phải chứng minh “Bổ đề cơ bản”.

¨¨¨¨
Read more: http://www.time.com/time/specials/packages/article/0,28804,1945379_1944416_1944435,00.html#ixzz0ZJMrcLRQ

The Top 10 Everything of 2009

* Top 10 Scientific Discoveries

7. The Fundamental Lemma, Solved
By EBEN HARRELL Tuesday, Dec. 08, 2009

In 1979 the Canadian-American mathematician Robert Langlands developed an ambitious and revolutionary theory that connected two branches of mathematics called number theory and group theory. In a dazzling set of conjectures and insights, the theory captured deep symmetries associated with equations that involve whole numbers, laying out what is now known as the Langlands program. Langlands knew that the task of proving the assumptions that underlie his theory would be the work of generations. But he was convinced that one stepping stone that needed confirmation — dubbed the “fundamental lemma” — would be reasonably straightforward. He, his collaborators and his students were able to prove special cases of this fundamental theorem. But proving the general case proved more difficult than Langlands anticipated — so difficult, in fact, that it took 30 years to finally achieve. Over the past few years, Ngo Bao Chau, a Vietnamese mathematician working at Université Paris-Sud and the Institute for Advanced Study (IAS) in Princeton, formulated an ingenious proof of the fundamental lemma. When it was checked this year and confirmed to be correct, mathematicians around the globe breathed a sigh of relief. Mathematicians’ work in this area in the last three decades was predicated on the principle that the fundamental lemma was indeed accurate and would one day be proved. “It’s as if people were working on the far side of the river waiting for someone to throw this bridge across,” says Peter Sarnak, a number theorist at IAS. “And now all of sudden everyone’s work on the other side of the river has been proven.”

Read more: http://www.time.com/time/specials/packages/article/0,28804,1945379_1944416_1944435,00.html#ixzz0ZJMMlVbR

Nuocdendau

Hôm trước đang ngồi gảy đàn cho mèo Abricot nghe, ông này gần đây hay có nhu cầu cao cấp😉, tự nhiên điện thoại réo rắt.

“Cụ Hinh à, khỏe không? Lâu quá rồi nhỉ! Tôi Vệ đây, Vệ giáo sư, … đúng rồi! Ôi thời gian gấp gáp, thời gian vô tâm!”

“Chào bác Vệ, nhận ra rồi, vui vẻ cả chứ! Sự nghiệp nghiên cứu của bác đến đâu rồi?”

“Tôi dạo này biết dùng Internet, lại mò cả ra cái anh Nuocdenchan, rôm rả nhỉ! Thực ra thì mình có cô thư kí lúc nào cũng ngồi bên cạnh, tay rót càfê, tay ấn chuột, gõ phím, rồi đọc lên cho. Lúc có hình ảnh Internet thì mình xem được. Không thì ngắm cô thư kí, nhâm nhi càfê… Bận đáo để.

Này, không phải khoe, hôm trước tôi có dẫn một đoàn anh em cự phách, toàn sĩ phu, đi châu Âu trao đổi nghiên cứu, hay ra phết.

Đi được rất nhiều nơi. Cũng định ghé Balê xem Thần Thổ Địa Á Đông ở đó thế nào, xem Cụ Hinh có ngồi ở ta bịa chuyện ở tây không. Cuối cùng không vào được. Cũng tiếc không được đánh chén ở đó chút ít.”

“Lần sau vậy…”

“Cả đoàn có chuyển máy bay ở sân bay Balê. Tôi có huy động anh em trong đoàn ngắm nghía kĩ khu vực sân bay rồi. Anh em rất nhất trí với kết luận của tôi là nước Pháp già nua, quả thực là đế quốc cũ kĩ, đúng như người ta đã đồn đại. Nhưng lần này tôi chịu trách nhiệm cá nhân để khẳng định dứt khoát cái giả định này, qua phương pháp thực địa trực tiếp. Chắc chắn anh này phải thua xa mấy nước chúng tôi đã đi.

Cho nên thực ra không vào Pháp thì cũng đỡ mất thì giờ. Dạo này bận lắm. Mà tôi cũng không ăn được phómát.

Thế thôi nhé, tôi đang phải nghiên cứu tiếp đây. Từ ngày có Internet trích dẫn văn kiện dễ hẳn ra! Đang làm đề án đổi mới lòng dân.

Trong số sĩ phu tôi là loại rất hiện đại.Tôi đang đưa ra đề nghị thế này, tất cả các văn kiện, kinh điển mình in hết vào một cuốn lấy tên là cuốn “Toàn tập”. Rồi đưa lên Internet. Khi trích dẫn anh em chỉ cần viết “Toàn tập trang 1 triệu lẻ hai” chẳng hạn, gọn gàng biết bao.

Thế nhé, để bữa nào rảnh mời Cụ Hinh đến thảo luận thêm về đề tài ‘những tiềm năng mới’ nhé.”

Bát nước chấm thiêng

Bữa cơm xưa của dân ta thật thanh đạm. Đủ cơm là tốt, không độn khoai sắn là sung sướng. Còn lại thì rau lá trong vườn. Bày ra cái mâm tròn, thường bằng gỗ, sang thì bằng đồng thau. Ít người thì ngồi gần vào, đông thì giãn xa ra. Giữa mâm bày bát muối, hay bát tương, sang hơn thì bát mắm, mọi người quây quần chấm vào đó trong khi ăn. Bát nước chấm là cái rốn của vũ trụ ăn uống, mà ăn uống thời xưa khó khăn thì là phần thưởng lớn nhất của một đời sống chật vật.

“Ai ơi bưng bát cơm đầy,
Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần“

Cái bát nước chấm không những chỉ là cái rốn. Nó còn là một quy tắc bất thành văn…

Trong đói nghèo xưa, bát nước chấm chính là cái mâm thu nhỏ nhất có thể. Thực tế có những bữa ăn của người nghèo chỉ cần bày ra cái bát nước chấm, mọi người ngồi vây quanh là đủ.
Cái mâm khi này chỉ là sự trang sức vĩ đại hóa, là cái vành đai bảo vệ của bát nước chấm thiêng liêng, cho thỏa mãn con mắt, cho an ủi lòng mình.

Bát nước chấm đóng cả vai trò địa-toán học, nghĩa là nó cái tâm điểm để người ta biết tụ lại đêu quanh đó cùng chia sẻ những giờ phút nghỉ ngơi ăn uống bên nhau.

Cái động tác chấm đôi khi không (chỉ) có ý nghĩa tìm vị mặn. Nó là một nghi thức để nói lên rằng tôi đang cùng với mọi người trong một cộng đồng, tôi đang tham gia chia sẻ đời sống với mọi người quanh mâm. Động tác này được thực thi đều đặn, thậm chí được nhường nhịn, giục nhắc, và trong khoảnh khắc đó mọi người “xếp hàng” để chấm, lại còn theo một trật tự « đối nhân xử thế » đã chia ngôi xong. Khách trước chủ sau, người có địa vị cao hơn trong quan chức hay trong họ hàng trước, người cao tuổi hơn trước, đàn ông trước đàn bà…

Những bữa ăn xưa cơm lành canh ngọt, nhường nhịn yêu thương được chôn sâu mãi trong lòng ta. Cũng là một vẻ đẹp thương nhớ ngàn năm.

Cụ Hinh không đơm chuyện nhé! Bạn quan sát kĩ đi, nếu một người đang dỗi hay đang bất hòa với cộng đồng thì sẽ lẳng lặng không thực hành, hoặc thực hành miễn cưỡng tối thiểu động tác chấm. Anh (chị) ta qua đó cũng chuyển một thông điệp đến cộng đồng về sự không bằng lòng của mình. Nếu sự xung khắc nằm giữa hai người thi họ sẽ không ngồi cạnh nhau, tất nhiên, mà cũng không ngồi đối diện trên cái “đường kính” chạy qua bát nước chấm.

—-

Gặp phải một ông thô lỗ trong bữa ăn thì hỏng nát mọi chuyện. Ông này gắp miếng đậu phụ, cho vào mồm mút, rồi lại đưa ra bát nước chấm ngâm, dầm, ngoáy, di, kéo dài đến mấy phút trong khi mồm vẫn oang oang. Đoạn thả đũa để nguyên miếng đậu đó, chưa thèm gắp ngay để còn nhấp chén rượu. Rồi từ từ quay lại nhấc miếng đậu phụ lên, cắn một nửa, lại tranh hàng quay lại ngâm dầm ngoáy di tiếp miếng đậu cắn dở đó trong bát nước chấm!

Vì cả mâm cơm chỉ là bát nước chấm mở rộng, các món ăn khác cùng chung số phận khi có sự múa may của ông thô lỗ. Bữa cơm tan nát, người tử tế không còn gì mà ăn.

—-

Từ đây muốn nói câu chuyện khác!

Chuyện là từ cái đói nghèo và sự giản đơn trong đời sống, quy tắc này nuôi một loạt các qui tắc bất cập khác khi đời sống tiến hóa lên.

Qui tắc này phủ nhận quyền tồn tại bình đẳng và tự do của các cá nhân. Vào mâm cơm bạn không biết bạn là ai, có quyền gì, khi mà hàm số đối nhân xử thế chạy chưa ra nghiệm.

Qui tắc này nuôi dưỡng sự tham lam, lòng tranh đua, tinh thần đố kị tiềm tàng.

Qui tắc này chứa đựng sự phá sản tiềm năng không phương cứu chữa của cộng đồng khi gặp phải “ông thô lỗ”.

Qui tắc này làm cho mỗi cá nhân không biết quyền hạn và bổn phận của mình ở đâu và đến đâu, một cách đàng hoàng, tường minh. Mỗi người không có quyền có và quyền thực hiện bản lĩnh của mình. Tất cả loay hoay trong cái gam nhòe chạy từ sợ sệt, nhút nhát, khiêm cung, ôn hòa, vừa vừa phải phải, cho đến kênh kiệu, hợm hĩnh, hống hách…

—-

Chào ngày hôm qua, ngày hôm nay khấm khá lên rồi.

-“Anh La dọn mâm ta ăn nhé, hai suất rõ ràng, hai bát nước chấm.

Cụ Hinh lo rửa bát.”./.

Chuyện so “Ta Tây Tàu”

– Cụ Hinh này, Ta, Tây, Tàu, giỏi kém thế nào?

– Anh La ạ, người ta thường nhìn người và cộng đồng như những chiếc chiếc đũa đơn lẻ và những bó đũa.

Rồi người ta lấy chiếc đũa Ta ra so với chiếc đũa Tàu, so với chiếc đũa Tây…, cứ như thi đấu giá vậy, chẳng có ý nghĩa gì.

– Chưa rõ lắm ạ …

– Ta cũng đã đi đến xứ Tây, thấy ngay người ta rất ngăn nắp, qui củ, lịch sự. Thường thì mọi người tin luôn là mỗi con người xương thịt ở Tây nó như vậy.

Thế là mới thấy một phần, lại không phải phần chính.

Có lần ở xứ đó ta đi qua một cái ngã tư (hay năm bảy gì đó), đúng vào lúc cái đèn xanh đỏ bị hỏng. Cả cái đám xe với người hỗn loạn. Không ai nhường ai, mà biết thế nào mà nhường! Ông nào cũng khôn ngoan hết, lao lên, luồn tới… Inh củ tỏi… Mà cũng không đi đến đâu.

Quả là phút chốc bao nhiêu học hành giáo dục công toi cả. Con người rơi lại vào trạng thái hoang dã rất nhanh, tức thời là đằng khác. Cuối cùng may có công an đến hướng dẫn và kỉ luật đám đông, giải quyết được ùn tắc.

Lại cũng thấy mấy vị Ta hay Tàu qua đó chỉ ít hôm là đã vào nếp đâu ra đấy, trông đi đứng nhanh nhẹn hẳn, qua cửa cũng biết giữ cửa cho người sau đi tới, chán ngồi xổm hùng biện hết két bia cho mấy con mực nướng nghe rồi.

Như vậy đừng tranh luận rằng đầu anh Tây sáng hơn đầu anh Tàu, đầu anh Tàu sáng hơn đầu anh Ta, đầu anh Ta lại giỏi hơn đầu anh Tây, một cách mơ hồ sinh học.

Ta Tây Tàu gì gì là vấn đề cái đèn xanh đèn đỏ. Phải chuyển được các qui tắc ra ngoài, vật thể hóa chúng, thì mới hết loạn được. Cái đèn xanh đèn đỏ do con người đồng thuận đặt ra, được điều chỉnh khi cần, nhưng nó phải mạnh hơn tất thảy mọi người mới được.

Rồi nhìn rộng ra thì một thế hệ tuyệt vời chưa phải là thế hệ lắm vĩ nhân, xây được một núi nhà cửa đường xá. Mà trước hết là một thế hệ để lại một hệ thống tương đối hoàn chỉnh những quy tắc thông minh, thoáng đạt, mạnh mẽ, bền vững, chúng được chuyển hóa thành một nền tảng của “văn minh bên ngoài” cho một xã hội phát triển phong phú, các cá nhân có đời sống bình an, hài hòa.

Phải xây dựng các lộ trình thôi, không trốn được đâu. Ví dụ lộ trình 30 năm nữa ở ta tiền lương ở mọi khu vực của xã hội phải đo trả được tương đối chính xác thu nhập của lao động. Lâu quá ư? Còn hơn là không lộ trình, cả xã hội lương giả, múa may, phân phối, chia chác lại nhau. 30 năm ấy, 10 năm đầu phải làm được gì, 10 năm sau đó…

Làm sao để khôn lỏi không trở thành nền tảng để đào tạo vĩ nhân, khôn lỏi trở nên vô ích cho quảng đại mọi người.

Du lịch dân gian

Ngày trước Cụ Nguyễn Tuân mê xê dịch. Cụ mơ ước khi sang thế giới bên kia bộ da của mình được thuộc làm valise cho mấy người đẹp đeo để tiếp tục dịch xê.

Mà thật vậy, còn gì đẹp hơn cái thuở ban đầu có máy hơi nước chạy xình xịch, còi hú rung con tim, mấy cái bánh xe lửa con đằng sau còn quay tít, đôi bánh đầu vĩ đại đã từ từ chậm quay… Cả một thế giới xa ảo bò vào nhà ga để chuẩn bị cõng bạn đến những chân trời mới mà đa phần những người quanh bạn chưa bao giờ dám nghĩ tới.

Trước mặt bạn là hai cái đường ray song song chạy ra tít tắp, không cần học toán học cũng hình dung chúng mãi mãi bên nhau, mãi mãi là của nhau, mà cũng mãi mãi không gặp nhau, tận nơi chân trời. Mấy đứa bạn sụt sùi nghẹn ngào, vài đứa kia vác hộ cái valise lên toa tàu. Ông xét vé bắt đầu thổi hồi còi khuya khoắt. Không kịp nữa rồi… Cái bắt tay, nụ hôn lúc thường không được phép… cuống cuồng cả lên. Còi tàu lại còn hú lên hăm dọa… Thò được bàn tay ra vẫy vẫy, con tàu rung nhẹ, lờ lững rời sân ga…


If you miss the train I’m on, you will know that I am gone
You can hear the whistle blow a hundred miles
A hundred miles, a hundred miles, a hundred miles, a hundred miles
You can hear the whistle blow a hundred miles

Lord I’m one, Lord I’m two, Lord I’m three, Lord I’m four
Lord I’m 500 miles from my home
500 miles, 500 miles, 500 miles, 500 miles
Lord I’m five hundred miles from my home



Bên cửa sổ tàu gió hú đồng quê… sống mũi cay xè…

¨¨¨¨

Hôm nay thì du lịch đã trở thành văn hóa dân gian, tắc đường cũng vậy.

#

Phải chuẩn bị thật kĩ.

Hai thùng bia. Hai chai wiskey. Dăm ba chai vang… Các loại đồ uống, phải nhiều vào, trời nóng….

Thực vực đạo, đặt đủ đi. Đồ nhậu. Đồ miến, phở. Bánh mỳ, phómát, giămbông, xúcxích… Vẫn phải có cơm. Gatô, hoa quả … Vợt tennis, cầu lông, cafe, trà… quần áo bơi… Chất lên thôi… Tốt rồi. Giờ đi ăn phở với xôi…

Qua hàng cafe, trà, nhanh nhé.

Nào lên đường… Nắng rồi …

¨¨¨¨

Đường tắc quá, bác tài này, cho rẽ vào quán gần nhất, chỗ sạch sẽ, khá một tí. Có lẽ ăn uống đàng hoàng ở đây luôn, đường thông rồi ta đi tiếp. Bia nhé, 100% …

¨¨¨¨

Đi tiếp, kẻo trưa mới đến nơi. Chiều nay lại phải về sớm một chút, mùa này hay mưa, lại tắc… Cái đống thức ăn với đồ uống phải chiến đấu kịch liệt bà con nhé!

Xe tiếp tục lên đường, im ắng chuyện trò, tiếng gáy thở của đoàn du lịch dân gian trên đường trường bụi mờ hòa với bài ca ỉ eo từ đài trên xe…

Tiếng anh ấm như hơi thở…

#http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Cache/Image/35/331035.jpg

Đối nhân xử thế

Hồi nhỏ phố xá vắng lắm. Thơ mộng. Trưa hè rảnh dạo qua mấy nhà, ve kêu inh tai, ghé vào trên hành lang, ban công, hay góc sân rợp mát, thế nào cũng có mấy ông bạn đang đánh cờ tướng. Giữa trưa oi bức thì thú này hợp lý nhất rồi!

Vấn đề lớn nhất, sớm hay muộn, là rồi sẽ đến lúc đánh nhỡ một nước. Nhận ra ngay và rụt tay lại! Thế là chiến tranh bùng nổ vì vấn đề “hoãn nước” đẻ ra. Nếu đã hoãn nước này được, thì phía bên kia sẽ hoãn nước trước đó được, cứ thế mà lùi lại… tóm lại… xoá ván cờ, chơi lại từ đầu. Thường thì đơn giản hơn, « văn hoá dỗi » chiếm thế thượng phong lập tức, và giải tán…

Đánh cờ thực ra vẫn là trường hợp dễ giải quyết nhất. Môn cờ có luật chơi. Trọng tài có thể kiếm ra. Định nghĩa về “đã đi một nước” hoàn toàn có thể tường minh, ví dụ khi “đã di chuyển quân và rời tay ra”, hoặc tốt nữa thì phải “xướng toạ độ trước khi đi”… Thế mà vẫn còn khó áp dụng luật chơi, vì cuối cùng giữa trẻ con vẫn còn hai luật quan trọng nhất, “luật đám đông” và “luật sức mạnh“. “Sức mạnh” thì tương đối rõ rồi, nhưng tâm tính đám đông lúc này ra sao thì không thể biết, mỗi lúc một phách. “Chơi lại từ đầu” hoặc “thôi khỏi chơi nữa” vẫn là hai kết cục phổ biến.

—-

Trong nhà giữa hai anh em nảy ra xích mích. Ông bố, bà mẹ không cần quan tâm nghe cho ra sự vụ để tham gia tìm cách giải quyết cho chính xác, mà thường giải quyết theo quyền lợi của chính quan tòa! “Im ngay, tao đang mệt!”. Hay, “em nó bé, nhường nó!”. Hoặc lúc khác ngược lại, “anh nó lớn, nói em phải nghe!” Phán xét của mấy vị quan toà trong nhà này không thể nào có thể đo trước được, hoàn toàn tùy tiện. Nhà này vô tình đang tham gia đào tạo một thế hệ phi lí, ngu muội, hoang dã.

—-

Bây giờ nếu bạn đụng xe ở ngoài đường thì sao?

Câu trả lời là “đối nhân xử thế“.

Nghĩa là hai người đụng xe ngắm nhau, thăm dò…

Trong trường hợp may mắn nhất, cả hai đều là bậc “đi ra phong nhã, đi vào hào hoa”, chưa biết chừng sẽ rủ nhau đi uống bia để giải phóng sự đời. Mấy vị này giờ đây chắc chắn có tên trong sách đỏ.

Trường hợp thứ hai, bạn mạnh hơn hẳn đối thủ, về sức lực, khả năng cục cằn, sự liều mạng, chỗ này đối thủ sống chết như thế nào đây phụ thuộc vào thời tiết của bạn lúc đó.

Hay cũng có thể là ngược lại 100%.

Hoặc bạn rất mạnh, đối thủ cũng cảm thấy như vậy… Hai bên phóng nội lực đo nhau rồi “tha nhau” (hay tha bản thân). Hoặc có thể là một cuộc chiến đổ máu…

Cuối cùng thì có thể rất may là cả hai đều nhát, lườm nhau một cái cho ra vẻ, rồi cả hai trốn nhau nhanh nhất có thể.

—-

Trong văn hoá xứ Đông biết bao nhiêu sách vở, chuyện trạng, lời khuyên răn, ca dao tục ngữ quanh sự “đối nhân xử thế”. Xu hướng chủ đạo cho rằng đây là cốt lõi bản sắc của “nghệ thuật làm người”. Đây là cái “túi khôn” vắt vai trong đời. Lâm ly, kì ảo. Một câu nói, một cử chỉ cứa khéo vào lòng người thì từ ông chăn bò nhảy phắt lên làm tể tướng. Một câu thơ nhỡ miệng thì cuối cùng cả nhà bị tru di.

Tất cả chỉ nói lên một điều là cốt lõi trong cái văn hoá này vẫn là sự hoang dã, sơ khai, tất cả được giải quyết trực tiếp bằng miệng. Mỗi vụ việc đều phải đo đạc lại sức nhau, làm lại cuộc chơi từ đầu trên nền tảng tương quan sức mạnh ở thời điểm sự vụ xảy ra.

Sự thông minh trong “đối nhân xử thế” quả thực có tồn tại. Nhưng một đời sống chỉ dựa trên cái “túi khôn” này là một đời sống khó xây cất được bền vững và cao xa. Bởi lẽ toàn bộ thoả thuận nền tảng của đời sống, hay “hạ tầng pháp lý”, không được chuyển hoá ra bên ngoài, không được “khách thể hoá”, và như vậy thực chất là “không tồn tại”. Nhân đây muốn nhắn mấy học giả ở ta nên viết hay dịch là “chuyển ra bên ngoài”, “khách thể hoá” … chứ đừng bắt chước viết hay dịch theo chữ hán “tha hoá”, để rồi mọi người lại hiểu nó theo kiểu nôm na.

Cứ theo cái túi khôn này, cuối cùng ai cũng “khôn” cả, chỉ có “xã hội những ông khôn” là ngu ngơ.

Mấy ngàn năm trước đây ông Lão tử đã nhận ra rằng : “nhìn người trong một xứ mà thấy ai cũng tinh nhanh giảo hoạt, thì ắt phải là xứ loạn”.

—-

Phải bắt đầu lại từ những gì sơ đẳng nhất của sinh hoạt cộng đồng.

Bắt đầu bằng chuyển các quy tắc đồng thuận của hoạt động chung ra bên ngoài bản thân mình, chúng trở thành những văn bản pháp quy, vật chất hoá thành những “đèn xanh đèn đỏ ở đầu đường” trong mọi lĩnh vực của đời sống.

Cái đèn đó không phải của ông nào đặt ra cả, mà của chính mỗi người chúng ta đã đạt thoả thuận với nhau.

Không ông nào ở bên trên cái đèn đó.

Nó là kết quả của nền văn minh, từ đó mới có thể xây tiếp những thành tựu khác.

Nếu không làm được như thế, thì người ta mãi mãi rơi lại vào điểm khởi đầu. Và một số học giả xứ Đông khôn quá nên lại tự mắc mưu của chính mình, tưởng rằng “con rắn cắn đuôi” là thứ triết lý cao siêu!

—-

Còn nếu không làm được như thế, thì ta lại cố mà luyện “đối nhân xử thế” !
./.

“Đất Nước”

 
Ông Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi, thống nhất đất Việt sau mấy trăm năm loạn lạc. Hôm ấy là ngày 1 tháng 6 (âm lịch) năm Nhâm Tuất (1802), tiết trời thì không thấy chép, có thể đoán đại khái là “mây thay đổi, mưa vài nơi”.

Ông lấy hiệu “Gia Long” để nối hai kinh Gia Định và Thăng Long, chữ này thì rất được cho cái ý thống nhất Nam Bắc một dải.

Quốc hiệu “Đại Việt” tồn tại cho đến lúc đó tổng cộng là 723 năm, bắt đầu từ thời vua Lý Thánh Tông. Không kể giai đoạn từ 1400 nhà Hồ đổi là “Đại Ngu”, rồi nhà Minh chiếm đóng từ 1407 đến 1427.

Ông Phúc Ánh đổi quốc hiệu là “Nam Việt”, ông nghĩ tới cương vực mênh mông nhà Triệu ? Nhà Thanh ở Trung Quốc bấy giờ không đồng ý, cho gọi “Việt Nam”.

Chữ “Nam” ở đây thật vướng vì nó làm ta mất ung dung tự tại. Cứ phải là “nam của một xứ gì khác”.

Hình như chẳng có nước nào ở phía nam Trung Hoa mang chữ “Nam” trong tên mình tự gọi. Trừ mấy tỉnh thuộc Trung Quốc, như “Vân Nam” chẳng hạn. Ngược lại tên người ta rành rành “Indonesia” thì Trung Hoa lại gọi là “Nam Dương” .

Mình sống vui vẻ với xung quanh, vậy thôi. Mình yêu quí Trung Hoa cũng như các nước bạn bè khác vậy.

“Đại Việt” cũng hay. Có chiều dài lịch sử lớn nhất.
Tuy nhiên hơi phùng bụng.

Cứ là nước “Việt” là đủ. “Nước Việt yêu dấu ngàn năm”.

Xa xưa, Văn Lang. Rồi “Âu Lạc”, nghĩa là “Đất Nước”.

Tuyệt vời nhất, “Đất Nước”.